Loading

Commentaries [4]

Giải Thích Câu Chuyện về Du Sĩ Ngoại Đạo

Imissā paṭhamamahāsaṅgītiyā vattamānāya vinayasaṅgahāvasāne suttantapiṭake ādinikāyassa ādisuttaṃ brahmajālaṃ pucchantena āyasmatā Mahākassapena — “brahmajālaṃ, āvuso ānanda, kattha bhāsitan”ti, evamādivuttavacanapariyosāne yattha ca bhāsitaṃ, yañcārabbha bhāsitaṃ, taṃ sabbaṃ pakāsento āyasmā Ānando evaṃ me sutantiādimāha. Tena vuttaṃ “brahmajālassāpi evaṃ me sutantiādikaṃ āyasmatā Ānandena paṭhamamahāsaṅgītikāle vuttaṃ nidānamādī”ti.

Cuộc kết tập thứ nhất này đang được diễn ra, thời gian kết tập Luật kết thúc, ngài Mahākassapa khi hỏi về bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng của Bộ Kinh đầu tiên trong Tạng Kinh đã nói lời như vầy – “Này sư đệ Ānanda, đức Thế Tôn thuyết bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng ở đâu?” v.v, rồi kết thúc lời nói như thế. Đại đức Ānanda đã nói về nơi đức Thế Tôn thuyết giảng bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng và nhân sự liên quan được ngài nói đến làm nhân cho đầy đủ ý nghĩa mới thuyết rằng “tôi đã nghe như vầy v.v.” Do đó, ngài đã nói rằng: “Ngay cả bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng cũng có duyên khởi ‘tôi đã nghe như vầy’ được đại đức Ānanda nói trong cuộc đại kết tập thứ nhất”.

Giải Thích Từ Evaṃ - Như Vầy
  1. Tattha evanti nipātapadaṃ. Metiādīni nāmapadāni. Paṭipanno hotīti ettha paṭīti upasaggapadaṃ, hotīti ākhyātapadanti. Iminā tāva nayena padavibhāgo veditabbo.
  2. Ở đây, từ ‘evaṃ - như vầy’ là phân từ. ‘Me - tôi’ v.v, là danh từ. Ở đây, từ ‘paṭi’ trong từ ‘paṭipanno hoti’ là tiếp đầu ngữ, từ ‘hoti’ là động từ. Nên hiểu việc phân tích tự loại theo phương thức này trước.

Atthato pana evaṃ-saddo tāva upamūpadesa-sampahaṃsana-garahaṇa vacanasampaṭiggahākāra-nidassanāvadhāraṇādi anekatthappabhedo. Tathāhesa — “evaṃ jātena maccena, kattabbaṃ kusalaṃ bahun”ti108[1] evamādīsu upamāyaṃ āgato. “Evaṃ te abhikkamitabbaṃ, evaṃ te paṭikkamitabban”tiādīsu109[2] upadese. “Evametaṃ bhagavā, evametaṃ sugatā”tiādīsu110[3] sampahaṃsane. “Evamevaṃ panāyaṃ vasalī yasmiṃ vā tasmiṃ vā tassa muṇḍakassa samaṇakassa vaṇṇaṃ bhāsatī”tiādīsu111[4] garahaṇe. “Evaṃ, bhanteti kho te bhikkhū bhagavato paccassosun”tiādīsu112[5] vacanasampaṭiggahe113[6]. “Evaṃ byā kho ahaṃ, bhante, bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmī”tiādīsu114[7] ākāre.

Theo ý nghĩa từ ‘evaṃ-như vầy’ có nhiều ý nghĩa khác biệt v.v, (1) sự so sánh, (2) sự khuyên bảo, (3) sự tán dương, (4) sự thóa mạ, (5) sự nhận lời, (6) trạng thái, (7) giới thiệu nội dung,

(8) sự nhấn mạnh. Thật sự như vậy từ ‘evaṃ’ này đến trong ý nghĩa sự so sánh như trong câu như vầy – “tương tự như thế người đã được sanh ra trên đời nên tạo nhiều việc thiện.” Từ ‘evaṃ’ đến trong ý nghĩa sự khuyên bảo: “Ông nên bước tới như vậy, ông nên bước lui như vậy.” Từ ‘evaṃ’ đến trong ý nghĩa sự tán dương: “điều đó là như vậy bạch Thế Tôn, điều đó là như vậy bạch Thiện Thệ”. Từ ‘evaṃ’ đến trong ý nghĩa sự thóa mạ: “người nữ hạ tiện này đã nói lời tán thán Sa-môn trọc đầu ấy như vậy như vậy ở khắp mọi nơi.” Từ ‘evaṃ’ đến trong ý nghĩa sự nhận lời: “Thưa vâng, chư Tỳ khưu hoan hỷ thọ nhận lời nói của bạch Thế Tôn như vậy.” Từ ‘evaṃ’ đến trong ý nghĩa biểu thị trạng thái: “Này các đại đức, đúng như vậy. Theo như tôi hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng”.

“Ehi tvaṃ, māṇavaka, yena samaṇo Ānando tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā mama vacanena samaṇaṃ ānandaṃ appābādhaṃ appātaṅkaṃ lahuṭṭhānaṃ balaṃ phāsuvihāraṃ puccha. “Subho māṇavo todeyyaputto bhavantaṃ ānandaṃ appābādhaṃ appātaṅkaṃ lahuṭṭhānaṃ balaṃ phāsuvihāraṃ pucchatī”ti. “Evañca vadehi, sādhu kira bhavaṃ ānando yena subhassa māṇavassa todeyyaputtassa nivesanaṃ, tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā”tiādīsu115[8] nidassane. “Taṃ kiṃ maññatha, kālāmā, ime dhammā kusalā vā akusalā vāti? Akusalā, bhante. Sāvajjā vā anavajjā vāti? sāvajjā, bhante. Viññugarahitā vā viññuppasatthā vāti? Viññugarahitā, bhante. Samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṃvattanti no vā, kathaṃ vo ettha hotīti? Samattā, bhante, samādinnā ahitāya dukkhāya saṃvattanti, evaṃ no ettha hotī”tiādīsu116[9] avadhāraṇe. Svāyamidha ākāra-nidassanāvadhāraṇesu daṭṭhabbo.

Từ ‘evaṃ’ đến trong ý nghĩa giới thiệu nội dung: “Nào, này cậu thanh niên trẻ, cậu hãy đi đến gặp Sa-môn Ānanda; sau khi đến hãy hỏi thăm Sa-môn Ānanda có được ít bệnh, ít mỏi mệt, có trạng thái nhẹ nhàng, có sự khỏe mạnh, sống thoải mái với lời của ta rằng: ‘Thanh niên Subha Todeyyaputta hỏi thăm ngài Ānanda có được ít bệnh, ít mỏi mệt, có trạng thái nhẹ nhàng, có sự khỏe mạnh, sống thoải mái.’ Và cậu hãy nói như vầy: ‘Thật tốt lành thay ngài Ānanda vì lòng thương xót hãy đi đến nơi cư ngụ của thanh niên Subha Todeyyaputta.” Từ ‘evaṃ’ đến trong ý nghĩa sự nhấn mạnh: “Các ông nghĩ thế nào, này các Kālāmā, các pháp này là thiện hay bất thiện? - Là bất thiện, bạch Thế Tôn. - Có lỗi lầm hay không có lỗi lầm?” - Có lỗi lầm, bạch Thế Tôn. - Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách? - Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn. - Được thọ trì đầy đủ, có thể đưa đến sự bất hạnh, sự đau khổ hay không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào? - Được thọ trì đầy đủ, sẽ đưa đến sự bất hạnh, sự đau khổ, bạch Thế Tôn, như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy.” Nên hiểu từ ‘evaṃ’ này đây được sử dụng với ý nghĩa (6) biểu thị trạng thái, (7) giới thiệu nội dung, (8) sự nhấn mạnh.

Tattha ākāratthena evaṃ-saddena etamatthaṃ dīpeti, nānānayanipuṇaṃ-anekajjhāsayasamuṭṭhānaṃ, atthabyañjanasampannaṃ, vividhapāṭihāriyaṃ, dhammatthadesanāpaṭivedhagambhīraṃ, sabbasattānaṃ sakasakabhāsānurūpato sotapathamāgacchantaṃ tassa Bhagavato vacanaṃ sabbappakārena ko samattho viññātuṃ, sabbathāmena pana sotukāmataṃ117[10] janetvāpi ‘evaṃ me sutaṃ’ mayāpi ekenākārena sutanti.

Ở đây, lấy nghĩa “phương thức” (ākāra) mà từ “evaṃ” biểu thị điều này: “Lời dạy của bậc Thế Tôn ấy khéo léo theo nhiều phương diện, khởi lên do muôn vàn căn tánh/khuynh hướng khác nhau; đầy đủ cả nghĩa lẫn văn; có các loại thần thông/điều kỳ đặc sai biệt; sâu thẳm nơi Pháp, nơi nghĩa, nơi sự thuyết giảng và nơi chứng ngộ; lại có khả năng đi vào lộ tai của tất cả hữu tình tương ứng với ngôn ngữ riêng của từng loài. Ai có thể thấu đạt trọn vẹn mọi phương diện lời dạy ấy? Còn ta, hết thảy chỉ có thể khởi lên ước muốn lắng nghe cho tha thiết, và (nay) nói rằng: ‘Như vầy tôi nghe’ — nghĩa là, ta đã nghe bằng một phương thức (ākāra) như vậy.”

Nidassanatthena — “nāhaṃ sayambhū, na mayā idaṃ sacchikatan”ti attānaṃ parimocento

— ‘evaṃ me sutaṃ’, ‘mayāpi evaṃ sutan’ti idāni vattabbaṃ sakalaṃ suttaṃ nidasseti.

Theo nghĩa “chỉ thị/giới thiệu” (nidassana), (Trưởng lão Ānanda) dùng từ ‘evaṃ’ để giới thiệu toàn bộ bài kinh sắp được thuyết giảng. Qua đó, ngài tự miễn khỏi (sự ngộ nhận) mình là tác giả, bằng cách xác định: “Ta không phải là bậc Tự Giác (sayambhū), pháp này không phải do ta tự mình chứng đắc (sacchikata).” Câu “Như vầy tôi nghe” (evaṃ me sutaṃ) chính là cách ngài chỉ thị rằng: “Chính tôi cũng đã nghe như vậy (từ Thế Tôn).”

Avadhāraṇatthena “Etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ bahussutānaṃ yadidaṃ Ānando, satimantānaṃ, gatimantānaṃ, dhitimantānaṃ, upaṭṭhākānaṃ yadidaṃ

ānando”ti118[11] evaṃ bhagavatā, “āyasmā ānando atthakusalo dhammakusalo byañjanakusalo niruttikusalo pubbāparakusalo”ti119[12] evaṃ dhammasenāpatinā ca pasatthabhāvānurūpaṃ attano dhāraṇabalaṃ dassento sattānaṃ sotukāmataṃ janeti “evaṃ me sutaṃ, tañca kho atthato vā byañjanato vā anūnamanadhikaṃ, evameva, na aññathā daṭṭhabban”ti.

Từ ‘evaṃ’ với ý nghĩa sự nhấn mạnh - Avadhāraṇa: Đại đức Ānanda đã cho thấy năng lực ghi nhớ của mình xứng đáng được khen ngợi (điều đó) đã được Đức Thế Tôn khen ngợi như vầy: “Này các Tỳ khưu, trong số các Tỳ khưu Thinh văn đệ tử của ta, thì đây là người đứng đầu trong số những vị đa văn – đó là Ānanda, người đứng đầu trong số những vị đầy đủ cử chỉ chân chánh, trong số những vị đầy đủ ức niệm, trong số những vị đầy đủ tính kiên trì, trong số những vị thị giả - đó là Ānanda”, và vị Tướng Quân Chánh Pháp cũng khen ngợi như thế: “Đại đức Ānanda thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn cú, thiện xảo về địa phương ngữ, thiện xảo về trình tự lời nói trước sau”. Đồng thời Ngài khiến cho tất cả chúng sanh trên thế gian khởi lên sự mong muốn được lắng nghe bằng câu nói “tôi đã nghe như vầy, và những gì tôi đã được nghe không hơn không kém (không hề thiếu sót) về mặt ý nghĩa, về mặt văn cú, là hoàn toàn như thế, không nên hiểu theo cách khác”.

Giải Thích Từ Me - Tôi

Me-saddo tīsu atthesu dissati. Tathā hissa — “gāthābhigītaṃ me abhojaneyyan”tiādīsu120[13] mayāti attho. “Sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṃ desetū”tiādīsu121[14] mayhanti attho. “Dhammadāyādā me, bhikkhave, bhavathā”tiādīsu122[15] mamāti attho. Idha pana mayā sutanti ca, mama sutanti ca atthadvaye yujjati.

Từ ‘tôi - me’ sử dụng trong 3 ý nghĩa. Thật vậy, từ ‘me’ đồng nghĩa với ‘mayā’ như trong câu: “Vật nhận được sau khi ngâm nga kệ ngôn, ta không nên thọ dụng”, từ ‘me’ đồng nghĩa với ‘mayhaṃ - đến tôi’ như trong câu: “Lành thay! bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt đến con”. Từ ‘me’ đồng nghĩa với ‘mama - của tôi’ như trong câu: “Này các Tỳ khưu, các ông hãy là người thừa tự Pháp của Ta”. Nhưng trong bài kinh này từ ‘me-tôi’ nên được sử dụng với 2 ý nghĩa là ‘mayā sutaṃ [tôi đã được nghe], và mama sutaṃ [việc lắng nghe của tôi].

Giải Thích Từ Sutaṃ - Đã Nghe

Sutanti ayaṃ suta-saddo saupasaggo ca anupasaggo ca — gamana vissuta kilinna upacitānuyoga sotaviññeyya sotadvārānusāra viññātādianekatthappabhedo. Tathā hissa “senāya pasuto”tiādīsu gacchantoti attho. “Sutadhammassa passato”tiādīsu123[16] vissutadhammassāti attho. “Avassutā avassutassā”tiādīsu124[17] kilinnākilinnassāti attho. “Tumhehi puññaṃ pasutaṃ anappakan”tiādīsu125[18] upacitanti attho. “Ye jhānapasutā dhīrā”tiādīsu126[19] jhānānuyuttāti attho. ‘Diṭṭhaṃ sutaṃ mutan’tiādīsu127[20] sotaviññeyyanti attho. “Sutadharo sutasannicayo”tiādīsu128[21] sotadvārānusāraviññātadharoti attho. Idha panassa sotadvārānusārena ‘upadhāritan’ti vā ‘upadhāraṇan’ti vāti attho. Me-saddassa hi ‘mayā’ti atthe sati ‘evaṃ mayā sutaṃ’ sotadvārānusārena upadhāritanti yujjati. ‘Mamā’ti atthe sati “evaṃ mama sutaṃ sotadvārānusārena upadhāraṇan”ti yujjati.

“Tôi nghe” (suta): từ “suta” này, cả khi có tiếp đầu ngữ lẫn khi không, có nhiều phân hệ nghĩa như: “đi/đang đi”, “đồn vang/nổi tiếng”, “nhiễm ướt/nhiễm ô”, “tích lũy”, “chuyên chú”, “đối tượng được biết bởi tai (sở tri của nhĩ thức)”, “đi theo lộ nhĩ môn mà được biết”. Cụ thể:

Ở câu “senāya pasuto” (như v.v.), nghĩa là “đang đi”.

Ở “sutadhammassa passato” (như v.v.), nghĩa là “vị thấy pháp đã được đồn vang” (vissuta-dhamma: pháp được nghe rộng, nổi tiếng).

Ở “avassutā avassutassā” (như v.v.), nghĩa là “nhiễm/không nhiễm” (kilinna/akilinna: ướt, nhiễm ô).

Ở “tumhehi puññaṃ pasutaṃ anappakaṃ” (như v.v.), nghĩa là “đã được tích lũy”.

Ở “ye jhānapasutā dhīrā” (như v.v.), nghĩa là “chuyên chú vào thiền (anuyutta)”.

Ở “diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ” (như v.v.), nghĩa là “điều được biết bởi tai (sở tri của nhĩ thức)”.

Ở “sutadharo sutasannicayo” (như v.v.), nghĩa là “vị nắm giữ (những gì) được biết theo dòng của nhĩ môn, tích lũy (những gì) đã nghe”.

Còn ở đây, từ “suta” có nghĩa: “được nắm bắt/ghi nhận theo lộ nhĩ môn” (upadhārita/upadhāraṇa bằng nhĩ môn). Vì tiếng “me”:

Nếu lấy theo nghĩa “mayā” (do tôi), thì hợp lý hiểu: “evaṃ mayā sutaṃ” = “(pháp này) đã được tôi nắm bắt/ghi nhận theo lộ nhĩ môn như vậy”.

Nếu lấy theo nghĩa “mama” (của tôi), thì hợp lý hiểu: “evaṃ mama sutaṃ” = “(cái) đã được nghe của tôi (tức sự ghi nhận qua nhĩ môn của tôi) là như vậy”.

Giải Thích ‘Evaṃ me sutaṃ - Tôi đã nghe như vầy’

Evametesu tīsu padesu evanti sotaviññāṇādiviññāṇakiccanidassanaṃ. Meti vuttaviññāṇasamaṅgipuggalanidassanaṃ. Sutanti assavanabhāvapaṭikkhepato anūnādhikāviparītaggahaṇanidassanaṃ. Tathā evanti tassā sotadvārānusārena pavattāya viññāṇavīthiyā nānappakārena ārammaṇe pavattibhāvappakāsanaṃ. meti attappakāsanaṃ. Sutanti dhammappakāsanaṃ. Ayañhettha saṅkhepo — “nānappakārena ārammaṇe pavattāya viññāṇavīthiyā mayā na aññaṃ kataṃ, idaṃ pana kataṃ, ayaṃ dhammo suto”ti.

Theo đó, trong ba từ này, có các cách phân tích như sau:

“evaṃ” (như vầy) là sự chỉ bày chức năng của các thức như nhĩ thức v.v. (viññāṇa-kicca). “me” (của tôi/do tôi) là sự chỉ bày người có các thức ấy (người mang các thức đã nói).

“sutaṃ” (đã nghe) là sự chỉ bày việc nắm giữ không thiếu, không thừa, không trái nghịch, do phủ định trạng thái “không được nghe”.

Lại nữa:

“evaṃ” là sự làm hiển lộ việc “dòng lộ thức” vận hành theo nhĩ môn, khởi lên trên đối tượng theo nhiều cách khác nhau.

“me” là sự hiển bày về chủ thể (bản thân người nghe). “sutaṃ” là sự hiển bày về pháp (điều được nghe).

Tóm lược ý ở đây là: “Với dòng lộ thức khởi trên đối tượng theo nhiều cách, ta không làm điều nào khác; điều ta làm là: ‘Pháp này đã được nghe’.”

Tathā evanti niddisitabbadhammappakāsanaṃ. Meti puggalappakāsanaṃ. Sutanti puggalakiccappakāsanaṃ. Idaṃ vuttaṃ hoti – “Yaṃ suttaṃ niddisissāmi, taṃ mayā evaṃ sutan”ti.

Theo một cách nữa:

“evaṃ” là sự hiển bày pháp được nêu (niddisitabba-dhamma). “me” là sự hiển bày về người (puggala).

“sutaṃ” là sự hiển bày về phận sự của người ấy (puggala-kicca).

Ý nói: “Bài kinh nào ta sẽ nêu ra, bài kinh ấy đã được ta nghe như vậy.”

Tathā evanti yassa cittasantānassa nānākārappavattiyā nānatthabyañjanaggahaṇaṃ hoti, tassa nānākāraniddeso. Evanti hi ayamākārapaññatti. Meti kattuniddeso. sutanti visayaniddeso. Ettāvatā nānākārappavattena cittasantānena taṃ samaṅgino kattu visayaggahaṇasanniṭṭhānaṃ129[22] kataṃ hoti.

Lại nữa, theo một cách khác:

“evaṃ” là sự nêu tướng về các hình thái sai biệt của “dòng tương tục tâm” (citta-santāna) do vận hành theo nhiều dạng, nhờ đó có việc lãnh thọ các nghĩa và văn sai khác; nói cách khác, “evaṃ” là sự quy định về “phương thức” (ākāra).

“me” là sự chỉ định về “chủ thể hành động” (kattu). “sutaṃ” là sự chỉ định về “đối tượng” (visaya).

Bởi chừng ấy, việc nắm bắt đối tượng của chủ thể được trang bị dòng tâm thức vận hành theo nhiều phương thức khác nhau đã được xác lập.

Athavā evanti puggalakiccaniddeso. Sutanti viññāṇakiccaniddeso. Meti ubhayakiccayuttapuggalaniddeso. Ayaṃ panettha saṅkhepo, “mayā savanakiccaviññāṇasamaṅginā puggalena viññāṇavasena laddhasavanakiccavohārena sutan”ti.

Hoặc nữa:

“evaṃ” là sự chỉ định về phận sự của người (puggala-kicca). “sutaṃ” là sự chỉ định về phận sự của thức (viññāṇa-kicca). “me” là sự chỉ định về người tương ưng với cả hai phận sự.

Tóm lược: “Bởi ta là người có nhĩ thức, làm xong phận sự nghe; nên ‘điều đã nghe’ được gọi theo quy ước (vohāra) là ‘đã được nghe’ nhờ vào (chức năng của) thức.”

Tattha evanti ca meti ca saccikaṭṭhaparamatthavasena130[23] avijjamānapaññatti. Kiñhettha taṃ paramatthato atthi, yaṃ evanti vā meti vā niddesaṃ labhetha? Sutanti vijjamānapaññatti. Yañhi taṃ ettha sotena upaladdhaṃ, taṃ paramatthato vijjamānanti. Tathā ‘evan’ti ca, meti ca, taṃ taṃ upādāya vattabbato upādāpaññatti131[24]. ‘Sutan’ti diṭṭhādīni upanidhāya vattabbato upanidhāpaññatti. Ettha ca evanti vacanena asammohaṃ dīpeti. na hi sammūḷho nānappakārapaṭivedhasamattho hoti. ‘Sutan’ti vacanena sutassa asammosaṃ dīpeti. Yassa hi sutaṃ sammuṭṭhaṃ132[25] hoti, na so kālantarena mayā sutanti paṭijānāti133[26]. Iccassa asammohena paññāsiddhi, asammosena pana satisiddhi. Tattha paññāpubbaṅgamāya satiyā byañjanāvadhāraṇasamatthatā, satipubbaṅgamāya paññāya atthapaṭivedhasamatthatā. tadubhayasamatthatāyogena atthabyañjanasampannassa dhammakosassa anupālanasamatthato dhammabhaṇḍāgārikattasiddhi.

Ở đây, “evaṃ” và “me” là các khái niệm giả lập (phi danh chơn chế định - paññatti) không hiện hữu theo chân đế và tối hậu đế; vì có gì, xét như chân đế, để có thể được chỉ định là “evaṃ” hay “me”? Còn “sutaṃ” là danh chơn chế định: bởi điều gì ở đây được thọ đắc bằng tai, thì về phương diện chân đế, điều ấy thật có. Lại nữa, “evaṃ” và “me” là dựa vào chế định (upādā-paññatti), vì được nói lên tùy theo cái này cái kia làm chỗ y cứ; còn “sutaṃ” là sự so sánh chế định

(upanidhā-paññatti), vì được nói lên bằng cách đặt cạnh các mục như “đã thấy” v.v.

Tại đây, bằng từ “evaṃ” biểu lộ trạng thái không mê lầm (asammoha); bởi kẻ mê lầm không thể kham thấu đạt sai biệt theo nhiều phương diện. Bằng từ “sutaṃ” biểu lộ sự không thất niệm/không lãng quên (asammosa) về điều đã nghe; vì ai để cho cái đã nghe bị tán thất thì về sau không còn có thể xác nhận “do tôi đã nghe”. Như vậy, nhờ không mê lầm mà thành tựu Trí (paññā); và nhờ không lãng quên mà thành tựu Niệm (sati).

Ở đây, với Niệm đi trước Trí, có khả năng ấn định/ghim chặt lời văn

(byañjana-avadhāraṇa-samatthata); với Trí đi trước Niệm, có khả năng thấu đạt ý nghĩa

(attha-paṭivedha-samatthata). Do hội đủ cả hai năng lực ấy, Ngài kham gìn giữ “kho tàng Pháp” đầy đủ cả nghĩa lẫn văn (attha-byañjana-sampanna), nên được thành tựu địa vị “bậc Thủ kho Pháp” (dhammabhaṇḍāgārikatta).

Aparo nayo, evanti vacanena yoniso manasikāraṃ dīpeti. Ayoniso manasikaroto hi nānappakārapaṭivedhābhāvato. Sutanti vacanena avikkhepaṃ dīpeti, vikkhittacittassa savanābhāvato. Tathā hi vikkhittacitto puggalo sabbasampattiyā vuccamānopi “na mayā sutaṃ, puna bhaṇathā”ti bhaṇati. Yoniso manasikārena cettha attasammāpaṇidhiṃ pubbe ca katapuññataṃ sādheti, sammā appaṇihitattassa pubbe akatapuññassa vā tadabhāvato. avikkhepena saddhammassavanaṃ sappurisūpanissayañca sādheti. Na hi vikkhittacitto134[27] sotuṃ sakkoti, na ca sappurise anupassayamānassa savanaṃ atthīti.

Theo một cách giải thích khác:

Qua từ ‘evaṃ’ (như vầy), ngài (Ānanda) cho thấy có sự tác ý như lý (yoniso manasikāra). Bởi vì người tác ý không như lý (ayoniso manasikāra) thì không thể thấu triệt (Pháp) theo nhiều phương diện khác nhau.

Qua từ ‘sutaṃ’ (đã nghe), ngài cho thấy có sự không tán loạn (avikkhepa). Bởi vì người có tâm tán loạn (vikkhittacitta) thì không thể nghe được. Thật vậy, một người tâm bị tán loạn, dù được trình bày đầy đủ trọn vẹn, vẫn sẽ nói rằng: “Tôi đã không nghe, xin hãy nói lại.”

Hơn nữa, ở đây:

Nhờ có tác ý như lý, ngài chứng tỏ mình đã thành tựu hai điều: sự tự hướng tâm đúng đắn (attasammāpaṇidhi) và việc đã tạo công đức trong quá khứ (pubbe katapuññatā). Bởi vì người không tự hướng tâm đúng đắn hoặc chưa tạo công đức trong quá khứ thì không thể có được sự tác ý như lý.

Nhờ có sự không tán loạn, ngài chứng tỏ mình đã thành tựu hai điều: việc được nghe Chánh pháp (saddhammassavana) và việc thân cận bậc chân nhân (sappurisūpanissaya). Bởi vì người có tâm tán loạn thì không thể nghe, và người không thân cận bậc chân nhân thì cũng không có cơ hội để nghe (Pháp).

Aparo nayo, yasmā evanti yassa cittasantānassa nānākārappavattiyā nānatthabyañjanaggahaṇaṃ hoti, tassa nānākāraniddesoti vuttaṃ, so ca evaṃ bhaddako ākāro na sammāappaṇihitattano pubbe akatapuññassa vā hoti, tasmā evanti iminā bhaddakenākārena pacchimacakkadvayasampattimattano dīpeti. Sutanti savanayogena purimacakkadvayasampattiṃ. Na hi appatirūpadese vasato sappurisūpanissayavirahitassa vā savanaṃ atthi. Iccassa pacchimacakkadvayasiddhiyā āsayasuddhisiddhā hoti, purimacakkadvayasiddhiyā payogasuddhi, tāya ca āsayasuddhiyā adhigamabyattisiddhi, payogasuddhiyā āgamabyattisiddhi. Iti payogāsayasuddhassa āgamādhigamasampannassa vacanaṃ aruṇuggaṃ viya sūriyassa udayato yoniso manasikāro viya ca kusalakammassa arahati bhagavato vacanassa pubbaṅgamaṃ bhavitunti ṭhāne135[28] nidānaṃ ṭhapento — “evaṃ me sutan”tiādimāha.

Theo một cách giải thích khác: 

Bởi vì đã nói rằng ‘evaṃ’ (như vầy) là sự chỉ thị về các phương thức đa dạng của dòng tâm thức, nhờ đó có sự nắm bắt nghĩa và văn khác nhau; và bởi vì phương thức tốt đẹp (bhaddako ākāro) như vậy không thể có ở người không tự hướng tâm đúng đắn hoặc chưa tạo công đức trong quá khứ, cho nên: 

Qua từ ‘evaṃ’ với phương thức tốt đẹp này, ngài (Ānanda) cho thấy mình đã thành tựu hai bánh xe

sau (pacchimacakkadvayasampatti). 

Qua từ ‘sutaṃ’ (đã nghe), nhờ vào sự kiện được nghe, ngài cho thấy mình đã thành tựu hai bánh xe trước (purimacakkadvayasampatti). Bởi vì người sống ở trú xứ không thích hợp hoặc không thân cận bậc chân nhân thì không thể có được việc nghe (Pháp). 

Như vậy: 

Nhờ thành tựu hai bánh xe sau, ngài đạt được Sự Thanh Tịnh về Ý Hướng (āsayasuddhi). Nhờ thành tựu hai bánh xe trước, ngài đạt được Sự Thanh Tịnh về Nỗ Lực (payogasuddhi).

Từ Sự Thanh Tịnh về Ý Hướng đó, ngài thành tựu sự thiện xảo trong Chứng Ngộ

(adhigamabyatti). 

Từ Sự Thanh Tịnh về Nỗ Lực, ngài thành tựu sự thiện xảo trong Pháp Học (āgamabyatti). 

Do đó, lời nói của một bậc đã có ý hướng và nỗ lực thanh tịnh, đã trọn vẹn cả Pháp học lẫn sự chứng ngộ, xứng đáng là phần đi trước (pubbaṅgama) cho lời dạy của Đức Thế Tôn, cũng như rạng đông (aruṇugga) là điềm báo trước cho mặt trời mọc, hay như tác ý như lý (yoniso manasikāra) là nhân khởi đầu cho thiện nghiệp. Vì lẽ đó, khi đặt phần duyên khởi (nidāna) vào đúng chỗ, ngài đã nói: “Evaṃ me sutaṃ…” (Tôi đã nghe như vầy...). 

Aparo nayo, ‘evan’ti iminā nānappakārapaṭivedhadīpakena vacanena attano atthapaṭibhānapaṭisambhidāsampattisabbhāvaṃ dīpeti. ‘Sutan’ti iminā sotabbappabhedapaṭivedhadīpakena dhammaniruttipaṭisambhidāsampattisabbhāvaṃ. ‘Evan’ti ca idaṃ yoniso manasikāradīpakaṃ vacanaṃ bhāsamāno — “ete mayā dhammā manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā”ti dīpeti. ‘Sutan’ti idaṃ savanayogadīpakaṃ vacanaṃ bhāsamāno — “bahū mayā dhammā sutā dhātā136[30] vacasā paricitā”ti dīpeti. Tadubhayenāpi atthabyañjanapāripūriṃ dīpento savane ādaraṃ janeti. atthabyañjanaparipuṇṇañhi dhammaṃ ādarena assuṇanto mahatā hitā paribāhiro hotīti, tasmā ādaraṃ janetvā sakkaccaṃ ayaṃ dhammo sotabboti.

Cách khác nữa: với lời “evaṃ – như vầy”, là lời nêu lên sự thấu đạt theo nhiều phương diện, ngài Ānanda cho thấy ở nơi mình có sự thành tựu Phân tích nghĩa (atthapaṭibhāna-paṭisambhidā). Với lời “sutaṃ – đã nghe”, là lời nêu lên sự thấu đạt các loại điều đáng được nghe, ngài cho thấy ở nơi mình có sự thành tựu Phân tích ngôn từ/biểu đạt (dhamma-nirutti-paṭisambhidā). 

136[30] Sī, Syā, I. Dhatā 

Và khi nói lời diễn đạt tác ý như lý “evaṃ – như vầy”, ngài hàm ý: “Những pháp này do tôi quán sát bằng tâm, và đã được xuyên thấu khéo léo bằng chánh kiến.” Khi nói lời diễn đạt sự liên hệ với việc nghe “sutaṃ – đã nghe”, ngài hàm ý: “Rất nhiều pháp do tôi đã nghe, đã gìn giữ, đã thuần thục bằng khẩu tụng.”

Bằng cả hai điều ấy, ngài làm hiển lộ sự viên mãn nghĩa và văn (attha-byañjana-pāripūri), nhờ vậy khơi dậy lòng trọng pháp nơi người nghe. Bởi lẽ, ai không lắng nghe Pháp với lòng trọng pháp, khi Pháp đã đầy đủ cả nghĩa lẫn văn, thì sẽ còn đứng ngoài lợi ích lớn lao. Do đó, hãy khởi lên lòng trọng pháp và cung kính mà lắng nghe Pháp này một cách nghiêm túc. 

“Evaṃ me sutan”ti iminā pana sakalena vacanena āyasmā Ānando Tathāgatappaveditaṃ dhammaṃ attano adahanto asappurisabhūmiṃ atikkamati. sāvakattaṃ paṭijānanto sappurisabhūmiṃ okkamati. Tathā asaddhammā cittaṃ vuṭṭhāpeti, saddhamme cittaṃ patiṭṭhāpeti. “kevalaṃ sutamevetaṃ mayā, tasseva bhagavato vacanan”ti dīpento attānaṃ parimoceti, satthāraṃ apadisati, jinavacanaṃ appeti, dhammanettiṃ patiṭṭhāpeti.

Hơn nữa, với toàn bộ câu “Tôi đã nghe như vầy”, ngài Ānanda, không tự gán pháp do Như Lai tuyên thuyết là của mình, vượt khỏi địa vị phàm phu (kẻ không phải chân nhân), và khi tuyên xưng địa vị đệ tử, ngài bước vào địa vị bậc chân nhân. Cũng vậy, ngài đưa tâm ra khỏi phi pháp, an trú tâm nơi Chánh pháp. Khi nêu rõ: “Chỉ là điều tôi đã nghe, chính là lời của Thế Tôn ấy”, ngài tự giải trừ trách nhiệm (khỏi sự sáng tác riêng), chỉ bày bậc Đạo Sư, quy hướng lời dạy của bậc Thắng giả, và thiết lập vững chắc lối dẫn vào Chánh Pháp.

Apica “evaṃ me sutan”ti attanā uppāditabhāvaṃ appaṭijānanto purimavacanaṃ137[31] vivaranto — “sammukhā paṭiggahitamidaṃ mayā tassa bhagavato catuvesārajjavisāradassa dasabaladharassa āsabhaṭṭhānaṭṭhāyino sīhanādanādino sabbasattuttamassa dhammissarassa dhammarājassa dhammādhipatino dhammadīpassa dhammasaraṇassa saddhammavaracakkavattino sammāsambuddhassa vacanaṃ, na ettha atthe vā dhamme vā pade vā byañjane vā kaṅkhā vā vimati vā kātabbā”ti sabbesaṃ devamanussānaṃ imasmiṃ dhamme assaddhiyaṃ vināseti, saddhāsampadaṃ uppādeti. Tenetaṃ vuccati —

“Vināsayati assaddhaṃ, saddhaṃ vaḍḍheti sāsane. Evaṃ me sutamiccevaṃ, vadaṃ gotamasāvako”ti.

Và nữa, với lời “Tôi đã nghe như vầy”, ngài, không nhận rằng do mình khởi tạo, mà khai mở lời nói trước đây: “Điều này tôi đã trực tiếp thọ nhận từ Thế Tôn ấy, bậc tự tín với bốn vô úy, bậc có Mười Lực, đứng nơi địa vị Ngưu vương, cất tiếng rống sư tử, bậc tối thượng giữa tất cả hữu tình, là Chủ pháp, Vua pháp, Đấng thượng thủ trong Pháp, là ngọn đèn Pháp, là nơi nương tựa Pháp, là vị Chuyển vận bánh xe Diệu pháp tối thắng, là bậc Chánh Đẳng Giác; trong lời dạy này, không nên khởi nghi hoặc hay do dự đối với nghĩa, đối với pháp, đối với từ, đối với văn.” Như vậy, ngài phá tan sự bất tín vào Pháp này nơi chư thiên và loài người, khiến cho tín thành tựu sinh khởi.

Do đó mà nói: 

“Diệt trừ điều bất tín,

tăng trưởng tín trong giáo.

Đệ tử của Cù-đàm

nói: ‘Tôi nghe như vầy.’”

Giải Thích ‘Ekaṃ samayaṃ - Một thuở nọ’

Ekanti gaṇanaparicchedaniddeso. Samayanti paricchinnaniddeso. Ekaṃ samayanti

aniyamitaparidīpanaṃ. Tattha samayasaddo — “Samavāye khaṇe kāle, samūhe hetudiṭṭhisu.

Paṭilābhe pahāne ca, paṭivedhe ca dissati”.

Tathā hissa — “appevanāma svepi upasaṅkameyyāma kālañca samayañca upādāyā”ti evamādīsu138[32] samavāyo attho. “Ekova kho bhikkhave, khaṇo ca samayo ca brahmacariyavāsāyā”tiādīsu139[33] khaṇo. “Uṇhasamayo pariḷāhasamayo”tiādīsu140[34] kālo. “mahāsamayo pavanasmin”tiādīsu141[35] samūho. “Samayopi kho te, Bhaddāli, appaṭividdho ahosi, bhagavā kho sāvatthiyaṃ viharati, bhagavāpi maṃ jānissati, Bhaddāli nāma bhikkhu satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī’ti. ayampi kho, te Bhaddāli, samayo appaṭividdho ahosī”tiādīsu142[36] hetu. “Tena kho pana samayena Uggahamāno paribbājako Samaṇamuṇḍikāputto143[37] samayappavādake tindukācīre ekasālake mallikāya ārāme paṭivasatī”tiādīsu144[38] diṭṭhi.

Ekaṃ: chỉ định về con số một, theo lối giới hạn để đếm. Samayaṃ: chỉ định theo lối giới hạn (điểm, khoảng xác định). Ekaṃ samayaṃ: nêu thời điểm không xác định cụ thể (một thời). 

Ở đây, từ samaya có thể được dùng theo các nghĩa sau: 

“Xuất hiện với ý nghĩa: Đầy đủ, thời khắc, thời gian, sự hội họp, nguyên nhân, quan điểm; sự đạt được, việc đoạn trừ và sự thấu triệt”.

Thật như thế từ ‘Samayaṃ’ có ý nghĩa đầy đủ trong câu: “Có lẽ vào ngày mai dựa vào thời gian (thích hợp) và đầy đủ (điều kiện) chúng tôi có thể đi đến”. Có nghĩa thời khắc: “Này chư Tỳ khưu chỉ có một cơ hội, thời khắc (thuận tiện) này để sống đời sống Phạm hạnh”. Có nghĩa thời gian: “lúc trời nóng nực, lúc trời oi bức”. Có nghĩa sự hội họp: “Đông đảo (chư Tỳ khưu) trong khu rừng lớn”. Có nghĩa nguyên nhân: “Này Bhaddali, nguyên nhân ông không thấu triệt, đức Thế Tôn đang cư trú trong Thành Sāvatthī, đức Thế Tôn sẽ biết ta rằng tỳ khưu tên Bhaddāli không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Đạo Sư, này Bhaddāli nguyên nhân này (là nguyên nhân) mà ông không thấu triệt Pháp”. Có nghĩa quan điểm, cái thấy: “Lúc bấy giờ, du sĩ Uggāhamāna là con trai của Samaṇamuṇḍikā, cư trú ở vườn hoa lài có một hội trường (được xây dựng) để thảo luận học thuyết, có hàng cây tinduka bao quanh”.

“Diṭṭhe dhamme ca yo attho, yo cattho samparāyiko. Atthābhisamayā dhīro, paṇḍitoti pavuccatī”ti.145[39] —

Ādīsu paṭilābho. “Sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā”tiādīsu146[40] pahānaṃ. “dukkhassa pīḷanaṭṭho saṅkhataṭṭho santāpaṭṭho vipariṇāmaṭṭho abhisamayaṭṭho”tiādīsu147[41] paṭivedho. idha panassa kālo attho. Tena saṃvacchara utu māsaḍḍhamāsa ratti diva pubbaṇha majjhanhika sāyanha paṭhamamajjhimapacchimayāma muhuttādīsu kālappabhedabhūtesu samayesu ekaṃ samayanti dīpeti.

Có ý nghĩa đạt được: “Bậc hiền nhân được gọi là bậc sáng trí do đạt được lợi ích ở đời hiện tại và lợi ích ở đời vị lai”.

Có nghĩa đoạn trừ: “Đã thực hiện việc chấm dứt khổ nhờ sự dứt trừ ngã mạn một cách đúng đắn”. Có nghĩa thấu triệt: “Có ý nghĩa áp bức, có ý nghĩa tạo tác, có ý nghĩa nóng nảy thay đổi, có ý nghĩa chuyển biến của khổ là ý nghĩa về sự lãnh hội”. Nhưng ở đây từ ‘Samayaṃ’ ấy có ý nghĩa là ‘thời gian’. Do vậy, trong các dạng thời (kālappabheda) như: năm, mùa, tháng, nửa tháng, đêm, ngày, buổi sớm, buổi trưa, buổi chiều, canh đầu, canh giữa, canh cuối, chốc lát…, cụm “ekaṃ samayaṃ” nêu “một thời” trong các thời ấy.

Tattha kiñcāpi etesu saṃvaccharādīsu samayesu yaṃ yaṃ suttaṃ yasmiṃ yasmiṃ saṃvacchare utumhi māse pakkhe rattibhāge vā divasabhāge vā vuttaṃ, sabbaṃ taṃ

therassa suviditaṃ suvavatthāpitaṃ paññāya. yasmā pana — “evaṃ me sutaṃ” asukasaṃvacchare asukautumhi asukamāse asukapakkhe asukarattibhāge asukadivasabhāge vāti evaṃ vutte na sakkā sukhena dhāretuṃ vā uddisituṃ vā uddisāpetuṃ vā, bahu ca vattabbaṃ hoti, tasmā ekeneva padena tamatthaṃ samodhānetvā “ekaṃ samayan”ti āha.

Mặc dù, đối với những thời điểm như năm, mùa, tháng, nửa tháng, phần đêm hay phần ngày, bất kỳ kinh nào được thuyết vào lúc nào, tất cả điều đó đều được Trưởng lão (Ānanda) biết rõ và xác định rõ bằng trí tuệ.

Tuy nhiên, vì nếu nói rằng: “Tôi đã nghe như vầy vào năm ấy, mùa ấy, tháng ấy, nửa tháng ấy, phần đêm hay phần ngày ấy,” thì sẽ không dễ để ghi nhớ, tụng đọc, hay cho người khác tụng đọc; hơn nữa, lời nói cũng sẽ trở nên quá dài dòng. Vì vậy, ngài đã gom tóm ý nghĩa đó lại bằng một cụm từ duy nhất mà nói: “ekaṃ samayan” (một thời).

Ye vā ime gabbhokkantisamayo148[42], jātisamayo, saṃvegasamayo, abhinikkhamanasamayo, dukkarakārikasamayo, māravijayasamayo, abhisambodhisamayo diṭṭhadhammasukhavihārasamayo, desanāsamayo, parinibbānasamayoti, evamādayo bhagavato devamanussesu ativiya pakāsā149[43] anekakālappabhedā eva samayā. Tesu samayesu desanāsamayasaṅkhātaṃ ekaṃ samayanti dīpeti. Yo cāyaṃ ñāṇakaruṇākiccasamayesu karuṇākiccasamayo, attahitaparahitapaṭipattisamayesu parahitapaṭipattisamayo, sannipatitānaṃ karaṇīyadvayasamayesu dhammikathāsamayo desanāpaṭipattisamayesu desanāsamayo, tesupi samayesu aññataraṃ samayaṃ sandhāya “ekaṃ samaya”nti āha.

Lại nữa, các “thời” của bậc Thế Tôn, vốn rất hiện rõ giữa chư thiên và loài người, có nhiều loại theo các phân hệ thời khác nhau, như: thời thọ thai, thời đản sinh, thời khởi tâm chấn động (phát tâm xuất ly), thời xuất gia (xuất ly), thời khổ hạnh khó làm, thời hàng phục Ma, thời Vô thượng Chánh giác, thời an trú lạc hiện tại (diṭṭhadhammasukhavihāra), thời thuyết pháp, thời Niết-bàn (parinibbāna), v.v. Trong những “thời” ấy, ở đây nêu “một thời” là thời thuyết pháp (desanāsamaya).

Và nữa, trong các “thời” thuộc công hạnh Trí và Bi (ñāṇa-karuṇā-kicca), thì đây là thời của công hạnh Bi; trong các “thời” thực hành vì lợi mình và vì lợi người (attahita-parahita-paṭipatti), thì đây là thời của thực hành vì lợi người; trong các “thời” có hai việc cần làm khi đại chúng hội họp (karaṇīyadvaya của người đã tụ hội), thì đây là thời nói pháp đúng pháp (dhammikathā-samaya); trong các “thời” thuyết và hành (desanā-paṭipatti), thì đây là thời thuyết (desanā-samaya). Ám chỉ một trong những “thời” ấy, Trưởng lão nói: “ekaṃ samayaṃ” — “một thời”.

Kasmā panettha yathā Abhidhamme “yasmiṃ samaye kāmāvacaran”ti150[44] ca, ito aññesu ca suttapadesu — “Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehī”ti151[45] ca bhummavacananiddeso kato, Vinaye ca — “Tena samayena buddho bhagavā”ti152[46] karaṇavacanena, tathā akatvā “ekaṃ samayan”ti upayogavacananiddeso katoti? Tattha tathā idha ca aññathā atthasambhavato. Tattha hi abhidhamme ito aññesu suttapadesu ca adhikaraṇattho bhāvena bhāvalakkhaṇattho ca sambhavati. Adhikaraṇañhi kālattho, samūhattho ca samayo, tattha tattha vuttānaṃ phassādidhammānaṃ khaṇasamavāyahetusaṅkhātassa ca samayassa bhāvena tesaṃ bhāvo lakkhīyati, tasmā tadatthajotanatthaṃ tattha bhummavacananiddeso kato.

Hơn nữa, trong bài kinh này tại sao ngài không sử dụng hình thức giống như trong Vi Diệu Pháp được ngài diễn giải theo cách thứ 7 [Sattamīvibhatti - Định Sở Cách] – ‘Yasmiṃ samaye kāmāvacaraṃ = Khi nào tâm Dục giới…’ và Kinh khác từ Vi Diệu Pháp này cũng giảng giải theo cách thứ 7 [Sattamīvibhatti - Định Sở Cách] như sau: ‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi = khi nào, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tách ly khỏi các dục’; Và trong Tạng Luật ngài sử dụng cách thứ 3 [Tatiyāvibhatti, Sử Dụng Cách] –‘Tena samayena buddho bhagavā = Một thời đức Phật Thế Tôn’ mà lại sử dụng theo cách thứ 2 [Dutiyāvibhatti - Đối Cách] ‘Ekaṃ samayaṃ = một thuở nọ’? Bởi vì trong Vi Diệu Pháp và Luật có ý nghĩa như thế, còn trong Kinh lại có ý nghĩa khác. Thật vậy, trong Vi Diệu Pháp và trong Kinh khác từ Vi Diệu Pháp này thành tựu ý nghĩa adhikaraṇa (1 loại vị trí cách, dịch là trong) và có ý nghĩa bhāvena bhāvalakkhaṇa (tuyệt đối vị trí). Bởi vì adhikaraṇa là samaya có ý nghĩa là thời gian và samaya có nghĩa là sự gom họp lại, được thuyết trong Vi Diệu Pháp và Kinh khác ngài xác định theo tính chất samaya bao gồm ‘thời khắc, sự tổng hợp và nguyên nhân’ bản thể của các pháp có Xúc v.v, do đó, để làm sáng tỏ ý nghĩa đó ngài mới giải thích theo cách thứ 7 [Sattamīvibhatti - Định Sở Cách].

Vinaye ca hetuattho karaṇattho ca sambhavati. Yo hi so sikkhāpadapaññattisamayo sāriputtādīhipi dubbiññeyyo, tena samayena hetubhūtena karaṇabhūtena ca sikkhāpadāni paññāpayanto sikkhāpadapaññattihetuñca apekkhamāno bhagavā tattha tattha vihāsi, tasmā tadatthajotanatthaṃ tattha karaṇavacanena niddeso kato.

Còn ở trong Luật hoàn thành có ý nghĩa ‘nguyên nhân’ và có ý nghĩa ‘do, bởi’. Thật vậy, đây là thời gian chế định những học giới, ngay cả trưởng lão Sāriputta v.v, cũng khó có thể hiểu được, đức Thế Tôn khi chế định tất cả các học giới vào thời điểm đó theo nguyên nhân [hetubhūta] và nguyên do [karaṇabhūta] đó, và suy xét đến nguyên nhân của việc chế định các học giới thì ngài đã an trú tại nơi đó, do đó, để làm sáng tỏ ý nghĩa như đã trình bày đó ngài đã thực hiện giải thích theo cách thứ 3 [Tatiyāvibhatti, Sử Dụng Cách] ở Luật đó.

Idha pana aññasmiñca evaṃ jātike accantasaṃyogattho sambhavati. Yañhi samayaṃ Bhagavā imaṃ aññaṃ vā suttantaṃ desesi, accantameva taṃ samayaṃ karuṇāvihārena vihāsi, tasmā tadatthajotanatthaṃ idha upayogavacananiddeso katoti.

Tenetaṃ vuccati —

“Taṃ taṃ atthamapekkhitvā153[47], bhummena karaṇena ca. Aññatra samayo vutto, upayogena so idhā”ti.

Còn trong Kinh này và bài Kinh khác có nhân khởi sanh như vậy hoàn thành với ý nghĩa là chấm dứt và xuyên suốt. Thật vậy, đức Thế Tôn thuyết giảng bài Kinh này hay bài Kinh khác vào thời điểm nào, ngài đã an trú với sự an trú của tâm bi trong suốt thời gian ấy, vì thế để làm sáng tỏ ý nghĩa ấy như đã trình bày ngài thực hiện giải thích theo cách thứ 2 [Dutiyāvibhatti - Đối Cách] trong Kinh này.

Cho nên ngài đã nói lên kệ ngôn liên quan như sau –

“Sau khi suy xét về ý nghĩa đó ngài đã nói từ ‘samaya’ trong Tạng khác (trong Tạng Vi Diệu Pháp) sử dụng theo cách thứ 7 [Sattamīvibhatti - Định Sở Cách] và (trong Tạng Luật) sử dụng theo cách thứ 3 [Tatiyāvibhatti - Sử Dụng Cách], còn ở đây (trong Tạng Kinh) từ samaya được nói theo cách thứ 2 [Dutiyāvibhatti - Đối Cách].

Porāṇā pana vaṇṇayanti — “tasmiṃ samaye”ti vā, “tena samayenā”ti vā, “ekaṃ samayan”ti154[48] vā, abhilāpamattabhedo esa, sabbattha bhummamevatthoti. Tasmā “ekaṃ samayan”ti vuttepi “ekasmiṃ samaye”ti attho veditabbo.

Nhưng một số tài liệu cổ giải thích rằng từ samaya chỉ khác biệt về ngôn từ sử dụng –“tasmiṃ samaye”, hoặc “tena samayenā”, hoặc “ekaṃ samayaṃ” mà thôi, cả 3 Tạng đều có ý nghĩa được sử dụng theo cách thứ 7 [(Sattamīvibhatti - Định Sở Cách), cho phép dịch là vào thời gian đó]. Vì thế, mặc dù ngài nói rằng ‘ekaṃ samayaṃ’ cũng nên hiểu rằng ‘ekasmiṃ samaye - một thuở nọ’.

Giải Thích ‘Bhagavā - Đức Thế Tôn’

Bhagavāti garu. Garuñhi loke “bhagavā”ti vadanti. Ayañca sabbaguṇavisiṭṭhatāya sabbasattānaṃ garu, tasmā “bhagavā”ti veditabbo. Porāṇehipi vuttaṃ —

“Bhagavāti vacanaṃ seṭṭhaṃ, bhagavāti vacanamuttamaṃ.

Garu gāravayutto so, bhagavā tena vuccatī”ti.

Apica —

“Bhāgyavā bhaggavā yutto, bhagehi ca vibhattavā. Bhattavā vantagamano, bhavesu bhagavā tato”ti. —

Imissā gāthāya vasenassa padassa vitthārato attho155[49] veditabbo. so ca visuddhimagge

buddhānussatiniddese vuttoyeva.

Thế Tôn là thầy. Bởi vì các bậc trí gọi ‘thầy’ là ‘Thế Tôn’ ở trong đời này. Và đức Thế Tôn này cũng là thầy của tất cả chúng sanh, do là vị tối thượng nhất với tất cả mọi ân đức, do đó được gọi là ‘Thế Tôn’. Thậm chí cả các bậc tiền bối cũng nói rằng –

Thế Tôn là lời nói cao cả, Thế Tôn là lời nói cao thượng, vị ấy xứng đáng với sự cung kính ở địa vị là ‘thầy’; Do vậy, ngài được gọi là Thế Tôn”.

Và lại nữa –

“Thế Tôn là may mắn, bẻ gãy phiền não, có liên hệ với sự may mắn, và là người sở hữu những gì đã được phân tích, làm bạn với pháp, và đã nôn ra phiền não là pháp ô nhiễm vận hành trong các Hữu-Bhava”.

Từ ‘Thế Tôn’ này có ý nghĩa nên hiểu một cách chi tiết với mãnh lực của kệ ngôn này và ý nghĩa ấy tôi đã nói ở phần diễn giải tùy niệm Phật trong bộ Thanh Tịnh Đạo.

Giải Thích ‘Ekaṃ Samayaṃ Bhagavā - Một thời đức Thế Tôn’

Ettāvatā cettha evaṃ me sutanti vacanena yathāsutaṃ dhammaṃ dassento bhagavato dhammakāyaṃ paccakkhaṃ karoti. Tena “nayidaṃ atikkantasatthukaṃ pāvacanaṃ, ayaṃ vo satthā”ti satthu adassanena ukkaṇṭhitaṃ janaṃ samassāseti.

Và ở đây chỉ bấy nhiêu bằng lời nói sau ‘tôi đã nghe như vầy’ đại đức Ānanda trong khi thuyết Pháp như đã được nghe, làm cho Pháp thân [Dhammakāya] của đức Thế Tôn được hiển lộ. Với những lời ấy ngài đã làm cho đại chúng, những người bất mãn do không nhìn thấy bậc Đạo Sư được nhẹ nhõm rằng: “Lời dạy của đức Phật là Pháp và Luật này (không phải) có bậc Đạo Sư đã viên tịch mà chính Pháp thân này là bậc Đạo Sư của các ông”.

Ekaṃ samayaṃ bhagavāti vacanena tasmiṃ samaye bhagavato avijjamānabhāvaṃ dassento rūpakāyaparinibbānaṃ sādheti. Tena “evaṃvidhassa nāma ariyadhammassa

desako156[50] dasabaladharo vajirasaṅghāta samānakāyo sopi bhagavā parinibbuto, kena aññena jīvite āsā janetabbā”ti jīvitamadamattaṃ janaṃ saṃvejeti, saddhamme cassa ussāhaṃ janeti.

Với lời nói “một thời đức Thế Tôn” ngài Ānanda khi bày tỏ rằng đức Thế Tôn không có mặt vào thời điểm ấy, coi như là tuyên bố việc viên tịch Nibbāna của Sắc Thân. Vì lý do ấy ngài Ānanda làm cho đại chúng, những người đam mê vào sự sống khởi lên sự động tâm và làm cho sanh khởi sự nỗ lực trong Chánh Pháp đối với đại chúng ấy (rằng) – “Ngay cả đức Thế Tôn, vị ấy có sắc thân tựa như khối kim cương, nắm giữ mười Như Lai lực, tuyên thuyết pháp các bậc Thánh có tên như vậy, (nhưng) ngài vẫn phải viên tịch Nibbāna, người khác ai có thể tạo ra sự hy vọng trong sự sống khiến nó sanh khởi được”.

Evanti ca bhaṇanto desanāsampattiṃ niddisati. Me sutanti sāvakasampattiṃ. ekaṃ samayanti kālasampattiṃ. Bhagavāti desakasampattiṃ.

Và trưởng lão khi nói rằng ‘như vầy’ xem như diễn giải đến sự thành tựu thuyết giảng. ‘Tôi đã nghe’ - sự thành tựu của vị Thánh đệ tử. ‘Một thuở nọ’ - sự thành tựu về thời gian. ‘Thế Tôn’ - sự thành tựu của người thuyết pháp.

Giải Thích ‘Ekaṃ samayaṃ Bhagavā’

Ettāvatā cettha evaṃ me sutanti vacanena yathāsutaṃ dhammaṃ dassento bhagavato dhammakāyaṃ paccakkhaṃ karoti. Tena “nayidaṃ atikkantasatthukaṃ pāvacanaṃ, ayaṃ vo satthā”ti satthu adassanena ukkaṇṭhitaṃ janaṃ samassāseti.

Và ở đây chỉ bấy nhiêu bằng lời nói sau ‘tôi đã nghe như vầy’ đại đức Ānanda trong khi thuyết Pháp như đã được nghe, làm cho Pháp thân [Dhammakāya] của đức Thế Tôn được hiển lộ. Với những lời ấy ngài đã làm cho đại chúng, những người bất mãn do không nhìn thấy bậc Đạo Sư được nhẹ nhõm rằng: “Lời dạy của đức Phật là Pháp và Luật này (không phải) có bậc Đạo Sư đã viên tịch mà chính Pháp thân này là bậc Đạo Sư của các ông”.

Ekaṃ samayaṃ bhagavāti vacanena tasmiṃ samaye bhagavato avijjamānabhāvaṃ dassento rūpakāyaparinibbānaṃ sādheti. Tena “evaṃvidhassa nāma ariyadhammassa desako dasabaladharo vajirasaṅghāta samānakāyo sopi bhagavā parinibbuto, kena aññena jīvite āsā janetabbā”ti jīvitamadamattaṃ janaṃ saṃvejeti, saddhamme cassa ussāhaṃ janeti.

Với lời nói “một thời đức Thế Tôn” ngài Ānanda khi bày tỏ rằng đức Thế Tôn không có mặt vào thời điểm ấy, coi như là tuyên bố việc viên tịch Nibbāna của Sắc Thân. Vì lý do ấy ngài Ānanda làm cho đại chúng, những người đam mê vào sự sống khởi lên sự động tâm và làm cho sanh khởi sự nỗ lực trong Chánh Pháp đối với đại chúng ấy (rằng) – “Ngay cả đức

Thế Tôn, vị ấy có sắc thân tựa như khối kim cương, nắm giữ mười Như Lai lực, tuyên thuyết pháp các bậc Thánh có tên như vậy, (nhưng) ngài vẫn phải viên tịch Nibbāna, người khác ai có thể tạo ra sự hy vọng trong sự sống khiến nó sanh khởi được”.

Evanti ca bhaṇanto desanāsampattiṃ niddisati. Me sutanti sāvakasampattiṃ. ekaṃ samayanti kālasampattiṃ. Bhagavāti desakasampattiṃ.

Và trưởng lão khi nói rằng ‘như vầy’ xem như diễn giải đến sự thành tựu thuyết giảng. ‘Tôi đã nghe’ - sự thành tựu của vị Thánh đệ tử. ‘Một thuở nọ’ - sự thành tựu về thời gian. ‘Thế Tôn’ - sự thành tựu của người thuyết pháp.

Giải Thích ‘Antarā Ca Rājagahaṃ Antarā Ca Nāḷandaṃ - Giữa Rājagaha và Nalandā’

Antarā ca rājagahaṃ antarā ca nāḷandanti antarā-saddo kāraṇakhaṇacittavemajjhavivarādīsu dissati. “Tadantaraṃ ko jāneyya aññatra Tathāgatā”ti157[51] ca, “janā saṅgamma mantenti mañca tañca kimantaran”ti158[52] ca ādīsu hi kāraṇe antarā-saddo. “Addasa maṃ, bhante, aññatarā itthī vijjantarikāya bhājanaṃ dhovantī”tiādīsu159[53] khaṇe. “yassantarato na santi kopā”tiādīsu160[54] citte. “antarā vosānamāpādī”tiādīsu161[55] vemajjhe. “Api cāyaṃ, bhikkhave, tapodā dvinnaṃ mahānirayānaṃ antarikāya āgacchatī”tiādīsu162[56] vivare. Svāyamidha vivare vattati, tasmā rājagahassa ca nāḷandāya ca vivareti evametthattho veditabbo163[57]. Antarā-saddena pana yuttattā upayogavacanaṃ kataṃ. Īdisesu ca ṭhānesu akkharacintakā “antarā gāmañca nadiñca yātī”ti evaṃ ekameva antarāsaddaṃ payujjanti, so dutiyapadenapi yojetabbo hoti, ayojiyamāne upayogavacanaṃ na pāpuṇāti. Idha pana yojetvāyeva164[58] vuttoti.

Từ ‘Antarā’ trong cụm từ ‘Antarā ca rājagahaṃ antarā ca nāḷandaṃ’ được diễn ra với ý nghĩa - nguyên nhân, tâm, ở giữa và khoảng cách v.v. Thật vậy, từ ‘Antarā’ diễn ra với ý nghĩa nguyên nhân: “Ai có thể biết được nguyên đó ngoài đấng Như Lai?” và “Dân chúng đến tụ hội để thảo luận chuyện gì đang xảy ra giữa tôi với ngài”. Diễn ra với ý nghĩa khoảnh khắc: “Một người đàn bà đang rửa chén bát trong khoảnh khắc chớp nhoáng đã nhìn thấy tôi”. Diễn ra với ý nghĩa tâm: “Sự sân hận không hiện diện ở trong tâm của hạng người nào…” Diễn ra với ý nghĩa ở giữa: “sự dừng lại ở khoảng giữa”. Diễn ra với ý nghĩa khoảng cách: “Này các Tỳ khưu, tuy nhiên dòng suối Tapodā chảy qua giữa hai đại địa ngục”. Từ ‘Antarā’ này đây ở trong trường hợp này diễn ra với ý nghĩa ‘khoảng cách’, vì thế ở đây nên hiểu ý nghĩa như vầy: “khoảng cách giữa thành Rājagaha và Nalandā”. Nhưng do ngài kết hợp với từ ‘Antarā’ nên ngài mới sử dụng theo cách thứ 2 [Đối Cách - Dutiyāvibhatti]. Cũng trong trường hợp thế này các nhà văn phạm chỉ sử dụng duy nhất từ ‘Antarā’ như vầy: “đi giữa làng và dòng sông”. Từ ‘Antarā’ cũng nên sử dụng trong câu thứ 2, khi không sử dụng thì không phải cách thứ 2 [Đối Cách - Dutiyāvibhatti]. Nhưng trong trường hợp này ngài đã sử dụng rồi nói như thế.

Giải Thích ‘Addhānamaggappaṭipanno hoti - đang đi theo con đường dài’

Addhānamaggappaṭipanno hotīti addhānasaṅkhātaṃ maggaṃ paṭipanno hoti, “dīghamaggan”ti attho. Addhānagamanasamayassa hi vibhaṅge “aḍḍhayojanaṃ gacchissāmīti bhuñjitabban”tiādivacanato165[59] aḍḍhayojanampi addhānamaggo hoti. Rājagahato pana Nāḷandā yojanameva.

Ngài đang đi theo con đường dài: đi một quãng đường xa, có nghĩa là ‘một chặng đường dài’. Thật vậy, ngay cả một nửa do-tuần cũng được xem là một quãng đường xa, căn cứ vào lời dạy trong sách Phân Tích (Vibhaṅga) về đi một chặng đường xa như sau: “Nên thọ dụng với suy nghĩ rằng - tôi sẽ đi một quãng đường nửa do-tuần”. Hơn nữa, từ thành Rājagaha đến Nāḷandā ước chừng khoảng 1 do-tuần.

Mahatā bhikkhusaṅghena saddhinti ‘mahatā’ti guṇamahattenapi mahatā, saṅkhyāmahattenapi mahatā. so hi bhikkhusaṅgho guṇehipi166[60] mahā ahosi, appicchatādiguṇasamannāgatattā. Saṅkhyāyapi mahā, pañcasatasaṅkhyattā. Bhikkhūnaṃ saṅgho ‘bhikkhusaṅgho’, tena bhikkhusaṅghena. Diṭṭhisīlasāmaññasaṅghātasaṅkhātena samaṇagaṇenāti attho. Saddhinti ekato.

To lớn trong cụm từ ‘với hội chúng Tỳ khưu lớn’ - to lớn cả về đức hạnh lẫn cả số lượng. Thật vậy, hội chúng Tỳ khưu ấy to lớn về đức hạnh bởi vì kết hợp với ân đức pháp có trạng thái không ước muốn v.v, gọi là lớn về số lượng bởi vì có số lượng đến năm trăm vị. Tập thể của Tỳ khưu gọi là ‘hội chúng Tỳ khưu’, với hội chúng Tỳ khưu ấy. Có nghĩa là với tập thể Sa-môn được xem là một tập thể có sự đồng đẳng với nhau về tri kiến và giới hạnh. Với là tính chất đồng nhất.

Pañcamattehi bhikkhusatehīti pañcamattā etesanti pañcamattāni. mattāti pamāṇaṃ vuccati, tasmā yathā “bhojane mattaññū”ti vutte “bhojane mattaṃ jānāti, pamāṇaṃ jānātī”ti attho hoti, evamidhāpi — “tesaṃ bhikkhusatānaṃ pañcamattā pañcapamāṇan”ti167[61] evamattho daṭṭhabbo. Bhikkhūnaṃ satāni bhikkhusatāni, tehi pañcamattehi bhikkhusatehi.

Hội chúng Tỳ khưu ước lượng khoảng năm trăm vị: pañcamattā nghĩa là “khoảng năm” (mattā = mức độ, độ chừng). Như trong câu “bhojane mattaññū” được hiểu là “biết mức độ trong việc thọ thực, biết độ chừng,” thì ở đây cũng vậy: “trong số các trăm vị Tỷ-kheo ấy, độ chừng là năm (trăm)” — tức “năm làm mức (pañca-pamāṇa).” Cụm bhikkhusatāni là “các trăm vị Tỷ-kheo”; do đó, tehi pañcamattehi bhikkhusatehi nghĩa là “với khoảng năm trăm vị Tỷ-kheo (đi cùng).”

Suppiyopi kho paribbājakoti suppiyoti tassa nāmaṃ. Pi-kāro maggappaṭipannasabhāgatāya puggalasampiṇḍanattho. Kho-kāro padasandhikaro, byañjanasiliṭṭhatāvasena vutto. Paribbājakoti sañjayassa antevāsī channaparibbājako. Idaṃ vuttaṃ hoti — “yadā bhagavā taṃ addhānamaggaṃ paṭipanno, tadā Suppiyopi paribbājako paṭipanno168[62] ahosī”ti. Atītakālattho hettha hoti-saddo.

"Cả du sĩ ngoại đạo Suppiya" (Suppiyopi kho paribbājako): Suppiya là tên vị du sĩ ngoại đạo ấy. Tiếp vĩ âm “pi” có nghĩa “gộp chung (vào hạng đã nêu) do đồng hạng với ‘đang đi đường’”; “kho” là từ nối nhịp câu, được dùng để làm cho câu văn trôi chảy. "Du sĩ ngoại đạo" (Paribbājako) ở đây là vị du sĩ ngoại đạo Channa, đệ tử (antevāsī) của Sañjaya. Ý nói là: “Khi bậc Thế Tôn đi con đường dài ấy, thì du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng đang đi (đường ấy).” Ở đây động từ “hoti” mang nghĩa thì quá khứ.

Saddhiṃ antevāsinā brahmadattena māṇavenāti — ettha ante vasatīti antevāsī. samīpacāro santikāvacaro sissoti attho. Brahmadattoti tassa nāmaṃ. Māṇavoti sattopi coropi taruṇopi vuccati.

“Coditā devadūtehi, ye pamajjanti māṇavā.

Te dīgharattaṃ socanti, hīnakāyūpagā narā”ti.169[63] — Ādīsu hi satto māṇavoti vutto.

“Māṇavehipi samāgacchanti katakammehipi akatakammehipī”tiādīsu170[64] coro. “Ambaṭṭho māṇavo, Aṅgako171[65] māṇavo”tiādīsu172[66] taruṇo ‘māṇavo’ti vutto. Idhāpi ayamevattho. Idañhi vuttaṃ hoti — Brahmadattena nāma taruṇantevāsinā saddhinti.

Cùng với người đệ tử là thanh niên Brahmadatta – ở đây, “antevāsī” là “người ở gần thầy, học trò, đệ tử”; “Brahmadatta” là tên; “māṇava” được dùng theo ba nghĩa trong kinh điển: chỉ “chúng sinh”, chỉ “kẻ trộm”, và chỉ “người trẻ (thanh niên)”.

Như trong câu: “Những chúng sanh nào dầu đã bị chư Thiên nhắc nhở vẫn sống xao lãng thì những người thanh niên ấy thường đi đến tập thể thấp kém, buồn rầu một thời gian lâu dài” (Coditā devadūtehi ye pamajjanti māṇavā, te dīgharattaṃ socanti, hīnakāyūpagā narā) — ở đây “māṇava” được dùng với nghĩa “chúng sinh”.

Như trong câu: “Gặp mặt những tên cướp đã hành sự, hay chưa hành sự” (Māṇavehipi samāgacchanti katakammehipi akatakammehipi) — ở đây “māṇava” chỉ “kẻ trộm”.

Như trong: “Thanh niên Ambaṭṭha, thanh niên Aṅgaka” (Ambaṭṭho māṇavo, Aṅgako māṇavo) — ở đây “māṇava” là “người trẻ/thiếu niên”.

Trong đoạn này cũng theo nghĩa ấy: “māṇava” là “người trẻ”. Vậy ý câu là: “cùng với người đệ tử trẻ tên Brahmadatta.”

Tatrāti tasmiṃ addhānamagge, tesu vā dvīsu janesu. Sudanti nipātamattaṃ. anekapariyāyenāti pariyāya-saddo tāva vāradesanākāraṇesu vattati. “Kassa nu kho, Ānanda, ajja pariyāyo bhikkhuniyo ovaditun”tiādīsu173[67] hi vāre pariyāyasaddo vattati. “Madhupiṇḍikapariyāyotveva naṃ dhārehī”tiādīsu174[68] desanāyaṃ. “Imināpi kho, te rājañña, pariyāyena evaṃ hotū”tiādīsu175[69] kāraṇe. Svāyamidhāpi kāraṇe vattati, tasmā ayamettha attho — “anekavidhena kāraṇenā”ti, “bahūhi kāraṇehī”ti vuttaṃ hoti.

“Tatrā” nghĩa là “ở đó”: tức trên con đường dài ấy (tasmiṃ addhāna-magge), hoặc là “trong (giữa) hai người ấy” (tesu dvīsu janesu).

“Sudaṃ” chỉ là phân từ.

“Anekapariyāyena”: từ “pariyāya” được dùng trong ba phạm vi:

Theo phiên/phiên lượt (vāra), như: “Này Ānanda, hôm nay đến phiên ai giáo giới các Tỳ-kheo-ni?”

Theo nghĩa “bài/đề mục/kiểu thuyết giảng” (desanā), như: “Hãy ghi nhớ: ấy là ‘Pháp môn Bánh Mật’ (Madhupiṇḍika-pariyāya).”

Theo nghĩa “lý do, phương diện nguyên nhân” (kāraṇa), như: “Này vị vương tộc, cũng do phương diện (lý do) này, sự việc là như vậy.”

Ở đây cũng theo nghĩa “kāraṇa” (lý do), nên “anekapariyāyena” có nghĩa: “do nhiều phương diện/lý do”, “bởi nhiều lẽ”, tức “bằng nhiều nguyên do”.

Buddhassa avaṇṇaṃ bhāsatīti avaṇṇavirahitassa aparimāṇavaṇṇasamannāgatassāpi Buddhassa Bhagavato — “yaṃ loke jātivuḍḍhesu kattabbaṃ abhivādanādisāmīcikammaṃ ‘sāmaggiraso’ti vuccati, taṃ samaṇassa Gotamassa natthi tasmā arasarūpo samaṇo Gotamo, nibbhogo, akiriyavādo, ucchedavādo, jegucchī, venayiko, tapassī, apagabbho. Natthi samaṇassa Gotamassa uttarimanussadhammo alamariyañāṇadassanaviseso. Takkapariyāhataṃ samaṇo gotamo dhammaṃ deseti, vīmaṃsānucaritaṃ, sayaṃpaṭibhānaṃ. Samaṇo gotamo na sabbaññū, na lokavidū, na anuttaro, na aggapuggalo”ti. Evaṃ taṃ taṃ akāraṇameva kāraṇanti vatvā tathā tathā avaṇṇaṃ dosaṃ nindaṃ bhāsati.

Du sĩ ngoại đạo Suppiya nói lời chê bai đức Phật: nói lời chê bai, nói lời xúc phạm, nói lời chỉ trích đối với đức Phật Thế Tôn, vị không có lỗi lầm không nên chê bai, thậm chí vị ấy đã thành tựu mọi đức hạnh không thể ước lượng xứng đáng được tán thán, đã nói lên những điều không có lý do như thế ấy, chính như thế (cho rằng) đó là lý do: “Sa-môn Gotama là người không biết về phẩm chất, do Sa-môn Gotama không thực hành sự đảnh lễ v.v, phận sự thích hợp nên thực hành đối với các bậc trưởng thượng theo sanh chủng ở đời được gọi là ‘sāmaggiraso - có sự hòa hợp về phẩm chất’, Sa-môn Gotama là người không biết thưởng thức, Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động, Sa-môn Gotama là người thuyết về đoạn diệt, Sa-môn Gotama có sự ghê tởm, Sa-môn Gotama là người cách ly, Sa-môn Gotama là người thiêu đốt, Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào thai. Sa-môn Gotama là người không có Pháp Thượng Nhân là trí tuệ và sự thấy biết thù thắng xứng đáng đối với bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy do tự mình suy tư, do tự mình đã đeo đuổi với sự thẩm xét, do tự mình phát hiện. Sa-môn Gotama không phải bậc Toàn giác, không phải là Thế Gian Giải, không phải là bậc Vô Thượng, không phải là nhân vật cao cả.

Yathā ca buddhassa, evaṃ dhammassāpi taṃ taṃ akāraṇameva kāraṇato vatvā — “Samaṇassa Gotamassa dhammo durakkhāto, duppaṭivedito, aniyyāniko, anupasamasaṃvattaniko”ti tathā tathā avaṇṇaṃ bhāsati.

Và đã nói lên những điều không có lý do như thế ấy, chính như thế (cho rằng) đó là lý do rồi nói lời xúc phạm luôn cả Giáo Pháp tương tự như đã xúc phạm đến đức Phật như vầy: “Pháp của Sa-môn Gotama trình bày tuyên bố một cách vụng về, khó có thể nhận biết, không phải là pháp thoát khỏi khổ đau, không vận hành đưa đến sự an tịnh. 

Yathā ca dhammassa, evaṃ saṅghassāpi yaṃ vā taṃ vā akāraṇameva kāraṇato vatvā — “Micchāpaṭipanno Samaṇassa Gotamassa sāvakasaṅgho, kuṭilapaṭipanno, paccanīkapaṭipadaṃ ananulomapaṭipadaṃ adhammānulomapaṭipadaṃ paṭipanno”ti tathā tathā avaṇṇaṃ bhāsati.

Và nói điều không thích hợp, bất kể lý do nào, chính điều đó (cho rằng) đó là lý do rồi xúc phạm đến cả hội chúng Tỳ khưu, tương tự như đã xúc phạm đến Giáo Pháp: “Hội chúng đệ tử của Sa-môn Gotama thực hành sai lạc, thực hành cong vẹo, thực hành dối trá, thực hành theo đạo lộ trái nghịch, thực hành theo đạo lộ không phải điều phù hợp đối với các pháp bằng nhiều hình thức.

Antevāsī panassa — “amhākaṃ ācariyo aparāmasitabbaṃ parāmasati, anakkamitabbaṃ akkamati, svāyaṃ aggiṃ gilanto viya, hatthena asidhāraṃ parāmasanto viya, muṭṭhinā sineruṃ padāletukāmo viya, kakacadantapantiyaṃ kīḷamāno viya, pabhinnamadaṃ caṇḍahatthiṃ hatthena gaṇhanto viya ca vaṇṇārahasseva ratanattayassa avaṇṇaṃ bhāsamāno anayabyasanaṃ pāpuṇissati. Ācariye kho pana gūthaṃ vā aggiṃ vā kaṇṭakaṃ vā kaṇhasappaṃ vā akkamante, sūlaṃ vā abhirūhante, halāhalaṃ vā visaṃ khādante, khārodakaṃ176[70] vā pakkhalante, narakapapātaṃ vā papatante, na antevāsinā taṃ sabbamanukātabbaṃ hoti. Kammassakā hi sattā attano kammānurūpameva gatiṃ gacchanti. neva pitā puttassa kammena gacchati, na putto pitu kammena, na mātā puttassa, na putto mātuyā, na bhātā bhaginiyā, na bhaginī bhātu, na ācariyo antevāsino, na antevāsī ācariyassa kammena gacchati. Mayhañca ācariyo tiṇṇaṃ ratanānaṃ avaṇṇaṃ bhāsati, mahāsāvajjo kho panāriyūpavādoti. Evaṃ yoniso ummujjitvā ācariyavādaṃ maddamāno sammākāraṇameva kāraṇato apadisanto anekapariyāyena tiṇṇaṃ ratanānaṃ vaṇṇaṃ bhāsitumāraddho, yathā taṃ paṇḍitajātiko kulaputto”. Tena vuttaṃ — “Suppiyassa pana paribbājakassa antevāsī Brahmadatto māṇavo anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṃ bhāsati, dhammassa vaṇṇaṃ bhāsati, saṅghassa vaṇṇaṃ bhāsatī”ti.

Còn thanh niên Brahmadatta học trò của du sĩ ngoại đạo Suppiya ấy chợt khởi lên suy nghĩ với đường lối khéo léo như vầy rằng – “Thầy của chúng ta đụng chạm đến những thứ không nên đụng chạm, giẫm lên những thứ không nên giẫm lên, thầy của chúng ta này đây đã nói lời chê bai Tam Bảo [đối tượng] chỉ nên tán thán, sẽ đi đến sự bất hạnh và tổn hại giống như người nuốt ngọn lửa, giống như một người dùng bàn tay để vuốt ve cái sống gươm, giống như một người dùng nắm tay để phá hủy quả núi Suneru, tương tự như một người đùa giỡn bằng các răng cưa, và tương tự như người dùng tay bắt con voi hung dữ tới thời kỳ động dục. Trong khi thầy giẫm phải phân, hoặc lửa, hoặc gai, hoặc con rắn hổ mang, hay bước chồng lên cái giáo, ăn nhai thuốc độc cực mạnh, hoặc rớt xuống khe núi sâu thẳm, hoặc uống nước axit, điều đó không phải điều đệ tử nên làm theo để mất mát mọi thứ. Bởi vì tất cả chúng sanh đều có nghiệp riêng của mình, (và) họ chắc chắn (sẽ) đi đến cảnh giới tái sanh phù hợp với nghiệp đó, không phải cha đi với nghiệp của con, không phải con đi với nghiệp của cha, không phải mẹ đi với nghiệp của con, không phải con đi với nghiệp của mẹ, không phải anh trai đi với nghiệp của em gái, không phải em gái đi với nghiệp của anh trai, không phải thầy đi với nghiệp của học trò, không phải học trò đi theo nghiệp của thầy. Và thầy của chúng tôi nói lời chê bai đến Tam Bảo, và nói lời phỉ báng đến hội chúng Tỳ khưu quả thật tội lỗi ấy vô cùng nghiêm trọng. Trong khi phủ nhận lời nói của thầy, (vị ấy) đã dẫn chứng nhân quả phù hợp, rồi bắt đầu nói lời tán thán Tam Bảo bằng nhiều hình thức, (những điều đó) cũng bởi vì thanh niên trẻ Brahmadatta là một thiện nam tử thuộc dòng dõi trí thức. Vì thế, trưởng lão Ānanda đã nói rằng - “Còn thanh niên trẻ Brahmadatta là học trò của du sĩ ngoại đạo Suppiya nói lời tán thán đức Phật, nói lời tán thán Giáo Pháp, và nói lời tán thán hội chúng Tỳ khưu”.

Ý Nghĩa Từ Vaṇṇa

Tattha vaṇṇanti vaṇṇa-saddo saṇṭhāna jāti rūpāyatana kāraṇa pamāṇa guṇa pasaṃsādīsu dissati. Tattha “mahantaṃ sapparājavaṇṇaṃ abhinimminitvā”tiādīsu177[71] saṇṭhānaṃ vuccati. “Brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo”tiādīsu178[72] jāti. “Paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato”tiādīsu179[73] rūpāyatanaṃ.

“Na harāmi na bhañjāmi, ārā siṅghāmi vārijaṃ.

Atha kena nu vaṇṇena, gandhatthenoti vuccatī”ti.180[74] — ādīsu kāraṇaṃ.

“Tayo pattassa vaṇṇā”tiādīsu181[75] pamāṇaṃ. “kadā saññūḷhā pana, te gahapati, ime samaṇassa gotamassa vaṇṇā”tiādīsu182[76] guṇo. “vaṇṇārahassa vaṇṇaṃ bhāsatī”tiādīsu183[77] pasaṃsā. Idha guṇopi pasaṃsāpi. Ayaṃ kira taṃ taṃ bhūtameva kāraṇaṃ apadisanto anekapariyāyena ratanattayassa guṇūpasañhitaṃ pasaṃsaṃ abhāsi. Tattha — “itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho”tiādinā184[78] nayena, “ye bhikkhave, buddhe pasannā agge te pasannā”tiādinā185[79] “ekapuggalo, bhikkhave, loke uppajjamāno uppajjati ... pe ... asamo asamasamo”tiādinā186[80] ca nayena buddhassa vaṇṇo veditabbo. “Svākkhāto bhagavatā dhammo”ti187[81] ca “ālayasamugghāto vaṭṭupacchedo”ti188[82] ca, “ye bhikkhave, ariye aṭṭhaṅgike magge pasannā, agge te pasannā”ti ca evamādīhi nayehi dhammassa vaṇṇo veditabbo. “Suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho”ti189[83] ca, “ye, bhikkhave, saṅghe pasannā, agge te pasannā”ti190[84] ca evamādīhi pana nayehi saṅghassa vaṇṇo veditabbo. Pahontena pana dhammakathikena pañcanikāye navaṅgaṃ satthusāsanaṃ caturāsītidhammakkhandhasahassāni ogāhitvā buddhādīnaṃ vaṇṇo pakāsetabbo. Imasmiñhi ṭhāne buddhādīnaṃ guṇe pakāsento atitthena pakkhando dhammakathikoti na sakkā vattuṃ. Īdisesu hi ṭhānesu dhammakathikassa thāmo veditabbo. Brahmadatto pana māṇavo anussavādimattasambandhitena191[85] attano thāmena ratanattayassa vaṇṇaṃ bhāsati.

Ở đấy, từ ‘vaṇṇa’ trong tử ‘vaṇṇo’ được diễn giải với ý nghĩa - (1) hình tướng (2) sanh chủng (3) sắc vóc (4) lý do (5) kích thước (6) ân đức (7) tán thán. Trong các ý nghĩa ấy hình tướng gọi là ‘vaṇṇa’ như trong câu sau: “Đã biến thành hình tướng con đại xà vương rồi đi đến Thế Tôn”. Sanh chủng gọi là ‘vaṇṇa’ như trong câu sau: “Bà-la-môn là sanh chủng tối thượng, sanh chủng khác là hạ liệt”. Sắc vóc gọi là ‘vaṇṇa’: “Được thành tựu với sắc vóc xinh đẹp tướng mạo tuyệt vời”.

Lý do gọi là ‘vaṇṇa’: “Tôi không lấy đi, tôi không bẻ gãy, tôi hít ngửi bông hoa từ xa, vậy thì với lý do gì mà ngài nói rằng ‘kẻ trộm cắp hương thơm?’”

Kích thước gọi là ‘vaṇṇa’: “Bình bát có 3 kích thước”. Ân đức gọi là ‘vaṇṇa’: “Này gia chủ, ông chất chứa những ân đức này của Sa-môn Gotama từ bao giờ?” Tán thán gọi là ‘vaṇṇa’: “Nói lời tán thán người xứng đáng được tán thán.” Ở đây, ‘vaṇṇa’ vừa có nghĩa ‘ân đức’, và cũng có nghĩa là ‘tán thán’. Biết rằng thanh niên trẻ Brahmadatta đã dẫn chứng lý do chân thật đó để nói lời tán thán, kết hợp với các ‘ân đức’ của Tam Bảo bằng nhiều hình thức. Ở đây – nên biết ‘ân đức’ của đức Phật theo phương cách sau: “Thật vậy, đức Thế Tôn vị ấy là bậc A-ra-hán, đấng Chánh đẳng Chánh giác”, “Này chư Tỳ khưu, những người nào đặt lòng tin vào đức Phật, những người ấy đặt lòng tin vào tối thượng.” “Có một người, này các Tỳ khưu, khi xuất hiện ở đời …nt… là vị không có người ngang bằng, là vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng.” Nên biết ‘ân đức’ của Giáo Pháp theo phương cách sau: “Pháp của đức Thế Tôn đã khéo được thuyết giảng” và “sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt vòng tái sanh”, và “này chư Tỳ khưu, những người nào đặt niềm tin vào trong tám chi đạo, những người đó gọi là đặt niềm tin vào tối thượng.” Nên biết ‘ân đức’ của hội chúng Tỳ khưu theo phương cách sau: “Chư Tăng đệ tử của đức Thế Tôn đã khéo thực hành,” và “này chư Tỳ khưu, những người nào đặt niềm tin vào hội chúng Tỳ khưu, những người đó gọi là đặt niềm tin vào tối thượng.” Hơn nữa, vị thuyết pháp có khả năng có thể tập hợp chín Thể [Aṅga] trong năm bộ kinh vào tám mươi bốn ngàn Pháp Uẩn để tuyên bố về ân đức của Tam Bảo gồm có Phật Bảo v.v. Thanh niên trẻ Brahmadatta trong khi tuyên bố về ân đức của đức Phật ở trường hợp này thì bất cứ ai cũng không thể nói rằng vị thuyết pháp bị sai hướng. Nên biết năng lực của vị thuyết pháp ở trường hợp như thế. Còn thanh niên trẻ Brahmadatta nói lời tán thán Tam Bảo theo năng lực của bản thân được hoàn thiện thêm chỉ với thông tin được nghe v.v.

Itiha te ubho ācariyantevāsīti evaṃ te dve ācariyantevāsikā. Aññamaññassāti añño aññassa. Ujuvipaccanīkavādāti īsakampi apariharitvā ujumeva vividhapaccanīkavādā, anekavāraṃ viruddhavādā eva hutvāti attho. Ācariyena hi ratanattayassa avaṇṇe bhāsite antevāsī vaṇṇaṃ bhāsati, puna itaro avaṇṇaṃ, itaro vaṇṇanti evaṃ ācariyo sāraphalake visarukkhāaṇiṃ ākoṭayamāno viya punappunaṃ ratanattayassa avaṇṇaṃ bhāsati. antevāsī pana suvaṇṇarajatamaṇimayāya āṇiyā taṃ āṇiṃ paṭibāhayamāno192[86] viya punappunaṃ ratanattayassa vaṇṇaṃ bhāsati. tena vuttaṃ — “ujuvipaccanīkavādā”ti.

Như thế, thầy và trò cả hai người ấy: Như vậy cả hai người ấy, thầy và trò. Aññamaññassa tách từ thành añño aññassa (người này trở nên đối nghịch với người kia). Có lời nói thẳng thắn đối nghịch lẫn nhau: có nhiều lời nói thẳng thắn hoàn toàn đối nghịch trong khi thầy chê bai Tam Bảo thì người học trò lại tán thán, là một người phỉ báng, người còn lại thì tán dương theo phương thức này. Vì người thầy liên tục nói lời phỉ báng Tam Bảo như vậy, tương tự như đóng một nêm (được làm bằng) gỗ mềm xuống trên một tấm gỗ cứng. Còn người học trò liên tục nói lời tán thán Tam Bảo, tương tự như lấy một cái nêm được làm bằng vàng, bạc và ngọc ma-ni để bảo hộ cái nêm ấy. Vì lý do đó, ngài Ānanda mới nói rằng: “Có lời nói thẳng thắng đối nghịch”

Bhagavantaṃ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti bhikkhusaṅghañcāti bhagavantañca bhikkhusaṅghañca pacchato pacchato dassanaṃ avijahantā iriyāpathānubandhanena anubandhā193[87] honti, sīsānulokino hutvā anugatā hontīti attho.

Đi theo sát ở phía sau đức Thế Tôn và hội chúng Tỳ khưu: Người đi theo ở phía sau đức Thế Tôn và hội chúng Tỳ khưu bằng việc theo sau oai nghi, có nghĩa là chú ý nhìn cái đầu để đi theo.

Kasmā pana Bhagavā taṃ addhānaṃ paṭipanno? Kasmā ca Suppiyo anubandho? Kasmā ca so ratanattayassa avaṇṇaṃ bhāsatīti? Bhagavā tāva tasmiṃ kāle Rājagahaparivattakesu aṭṭhārasasu mahāvihāresu aññatarasmiṃ vasitvā pātova sarīrappaṭijagganaṃ katvā bhikkhācāravelāyaṃ bhikkhusaṅghaparivuto rājagahe piṇḍāya carati. So taṃ divasaṃ bhikkhusaṅghassa sulabhapiṇḍapātaṃ katvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto bhikkhusaṅghaṃ pattacīvaraṃ gāhāpetvā — “Nāḷandaṃ gamissāmī”ti, Rājagahato nikkhamitvā taṃ addhānaṃ paṭipanno. Suppiyopi kho tasmiṃ kāle Rājagahaparivattake aññatarasmiṃ paribbājakārāme vasitvā paribbājakaparivuto Rājagahe bhikkhāya carati. Sopi taṃ divasaṃ paribbājakaparisāya sulabhabhikkhaṃ194[88] katvā bhuttapātarāso paribbājake paribbājakaparikkhāraṃ gāhāpetvā — nāḷandaṃ gamissāmicceva bhagavato taṃ maggaṃ paṭipannabhāvaṃ ajānantova anubandho. Sace pana jāneyya nānubandheyya. So ajānitvāva gacchanto gīvaṃ ukkhipitvā olokayamāno Bhagavantaṃ addasa Buddhasiriyā sobhamānaṃ rattakambalaparikkhittamiva jaṅgamakanakagirisikharaṃ.

Tại sao đức Thế Tôn đi quãng đường xa? Và tại sao du sĩ ngoại đạo đi theo sau? và tại sao vị ấy lại phỉ báng Tam Bảo? Ban đầu đức Thế Tôn an trú ở một Đại Tự trong số mười tám Đại Tự nằm tiếp nối nhau xung quanh thành Rājagaha, trong thời gian ấy, từ lúc sáng sớm, ngài đã làm vệ sinh thân thể, đến giờ đi khất thực có hội chúng Tỳ khưu tháp tùng để đi khất thực trong thành Rājagaha. Ngày hôm ấy, ngài đã làm cho hội chúng Tỳ khưu có thể tìm kiếm được vật thực một cách dễ dàng. Sau bữa ăn, trong khi đi khất thực trở về (ngài) đã cho chư Tăng nhận lấy bình bát và y phục và nói rằng: “Ta sẽ đi đến thành Nāḷanda”, sau khi rời khỏi thành Rājagaha ngài đi một chặng đường xa như thế. Vào thời gian ấy thì du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng cư trú ở một tu viện của các du sĩ nằm tiếp nối nhau xung quanh thành Rājagaha, có các du sĩ ngoại đạo tháp tùng đi khất thực trong thành Rājagaha. Cũng vào ngày hôm ấy, du sĩ ngoại đạo Suppiya đã làm cho hội chúng du sĩ có thể tìm kiếm được vật thực một cách dễ dàng. Sau khi thọ dụng bữa ăn sáng, (vị ấy) đã cho nhóm du sĩ nhận lấy các vật phụ tùng của du sĩ và nói rằng: “Ta cũng sẽ đi đến thành Nāḷanda” không biết rằng đức Thế Tôn đi trên con đường ấy nên mới đi theo sau (chỉ là tình cờ), còn nếu biết sẽ không đi theo. Vị ấy không biết, trong khi đi đã vươn cổ lên nhìn mới thấy được đức Thế Tôn tuyệt mỹ bởi vẻ rực rỡ của vị Phật, trông như thể đỉnh của một ngọn núi vàng di chuyển được quấn quanh bằng một dải lụa đỏ.

Tasmiṃ kira samaye Dasabalassa sarīrato nikkhamitvā chabbaṇṇarasmiyo samantā asītihatthappamāṇe padese ādhāvanti vidhāvanti ratanāveḷa-ratanadāma-ratanacuṇṇa-vippakiṇṇaṃ viya, pasāritaratanacittakañcanapaṭamiva, rattasuvaṇṇarasanisiñcamānamiva, ukkāsatanipāta-samākulamiva195[89], nirantara-vippakiṇṇa-kaṇikārapupphamiva vāyuvegakkhittacīnapiṭṭhacuṇṇamiva, indadhanuvijjulatā-tārāgaṇappabhā-visaravipphuritaviccharitamiva196[90] ca taṃ vanantaraṃ hoti.

Kể rằng vào lúc ấy hào quang sáu màu được phát ra từ kim thân của đấng Thập Lực, bao quanh khu vực có kích thước tám mươi cánh tay, ví như được bao quanh bởi những chùm ngọc quý, tràng hoa bằng ngọc quý và bột đá quý, ví như một tấm vàng được điểm tô bằng ngọc quý rồi trải ra, ví như vẫy nước vàng lóng lánh, ví như hàng trăm vì tinh tú rơi xuống phủ khắp, ví như những bông hoa kaṇikāra được rải rắc liên tục, ví như bụi đỏ tản mát bởi sức mạnh của trận cuồng phong, ví như vô số ánh sáng rung động của các tia chớp của cầu vồng và các chòm tinh tú như thế ở bên trong khu rừng ấy.

Asīti anubyañjanānurañjitañca pana bhagavato sarīraṃ vikasita-kamaluppalamiva, saraṃ sabbapāliphullamiva pāricchattakaṃ, tārāmarīci-vikasitamiva, gaganatalaṃ siriyā avahasantamiva, byāmappabhāparikkhepavilāsinī cassa dvattiṃsavaralakkhaṇamālā ganthetvā ṭhapitadvattiṃsacandamālāya dvattiṃsasūriyamālāya paṭipāṭiyā ṭhapita dvattiṃsacakkavatti dvattiṃsasakkadevarāja197[91] dvattiṃsamahābrahmānaṃ siriṃ siriyā abhibhavantimiva. Tañca pana Bhagavantaṃ parivāretvā ṭhitā bhikkhū sabbeva appicchā santuṭṭhā pavivittā asaṃsaṭṭhā codakā pāpagarahino vattāro vacanakkhamā sīlasampannā samādhi-paññā-vimutti-vimuttiññāṇadassana-sampannā. Tesaṃ majjhe bhagavā rattakambalapākāraparikkhitto viya kañcanathambho, rattapadumasaṇḍamajjhagatā viya suvaṇṇanāvā, pavāḷavedikāparikkhitto viya aggikkhandho, tārāgaṇaparivārito viya puṇṇacando migapakkhīnampi cakkhūni pīṇayati, pageva devamanussānaṃ. Tasmiñca pana divase yebhuyyena asītimahātherā meghavaṇṇaṃ paṃsukūlaṃ ekaṃsaṃ karitvā kattaradaṇḍaṃ ādāya suvammavammitā viya gandhahatthino vigatadosā vantadosā bhinnakilesā vijaṭitajaṭā chinnabandhanā bhagavantaṃ parivārayiṃsu. So sayaṃ vītarāgo vītarāgehi, sayaṃ vītadoso vītadosehi, sayaṃ vītamoho vītamohehi, sayaṃ vītataṇho vītataṇhehi, sayaṃ nikkileso nikkilesehi, sayaṃ buddho anubuddhehi parivārito; pattaparivāritaṃ viya kesaraṃ198[92], kesaraparivāritā viya kaṇṇikā, aṭṭhanāgasahassaparivārito viya chaddanto nāgarājā, navutihaṃsasahassaparivārito viya dhataraṭṭho haṃsarājā, senaṅgaparivārito viya cakkavattirājā, devagaṇaparivārito viya sakko devarājā, brahmagaṇaparivārito viya hārito mahābrahmā, aparimita-kāla-sañcita-puññabalanibbattāya acinteyyāya anopamāya buddhalīlāya cando viya gaganatalaṃ taṃ maggaṃ paṭipanno hoti.

Hơn nữa, thân thể chói lói với tám mươi tướng phụ của đức Thế Tôn, tựa như hồ nước có hoa sen và hoa súng đang hé nở, tựa như cây san hô đang nở rộ ở toàn thân, tựa như bầu trời được chiếu sáng bởi các vì tinh tú, tựa như với vẻ đẹp ở khoảng không của bầu trời đã được mở rộng, và ba mươi hai tướng trạng cao quý của Ngài đã được kết thành vòng hoa với vẻ đẹp được bao quanh bởi ánh hào quang, đã được đang kết lại với nhau bởi các tràng hoa là 32 vầng mặt trăng, (và) bởi các tràng hoa là 32 vầng mặt trời; tỏa sáng với sự lộng lẫy ngự trị sự lộng lẫy của 32 vị vua Chuyển Luân, 32 vị vua trời Đế Thích và 32 vị Đại Phạm Thiên đang đứng theo thứ tự. Và hơn nữa tất cả chư Tỳ khưu đứng xung quanh đức Thế Tôn ấy, toàn bộ đều là những vị ít ham muốn, sống tri túc, ưa thích yên tĩnh, không tụ hội, nhắc nhở lẫn nhau, khiển trách điều xấu ác, có trách nhiệm, kham nhẫn từ những lời nói, thành tựu về giới, thành tựu về định, thành tựu về trí tuệ, thành tựu về giải thoát và thành tựu về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát. Ở giữa hội chúng Tỳ khưu ấy đức Thế Tôn như thể một cột trụ bằng vàng, được bao bọc bởi bức tường là dải lụa được nhuộm đỏ, tựa như một chiếc thuyền bằng vàng đi qua giữa rừng sen đỏ, giống như đám lửa được bao quanh bởi dải ngọc san hô, giống như ánh trăng tròn được bao quanh bởi các vì tinh tú, được mở mang tầm mắt ngay cả đối với muôn thú và chim chóc, còn nói gì nữa đến chư Thiên và nhân loại. Cũng vào ngày hôm ấy hầu hết tám mươi vị đại trưởng lão, các vị đều mang (thượng) y paṃsukūla màu sắc tựa như màu đám mây ở một bên vai (và) cầm một cây gậy nhỏ, giống như loài voi thuộc dòng Gandhavaṃsa đã khéo được huấn luyện, có sân hận đã được lìa bỏ, có sân hận đã được tống khứ, có phiền não đã bị bẻ gãy, mọi sự rối rắm đã được gỡ bỏ, mọi sự ràng buộc đã bị cắt đứt, cùng nhau đã hội tụ vây quanh đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy tự mình có sự luyến ái đã được xa lìa, được chư Tỳ khưu đã ly ái luyến vây quanh; tự mình có sân đã được xa lìa, được chư Tỳ khưu đã ly sân vây quanh; tự mình có si đã được xa lìa, được chư Tỳ khưu ly si vây quanh; tự mình có tham ái đã được xa lìa, được chư Tỳ khưu ly tham ái vây quanh; tự mình không ô nhiễm, được chư Tỳ khưu không ô nhiễm vây quanh; tự mình giác ngộ, được vây quanh bởi chư Tỳ khưu giác ngộ theo. Giống như sư tử chúa được muôn thú vây quanh, y như hoa sen Kaṇṇikā được bao quanh bởi nhụy hoa, trông giống như voi chúa tên Chaddanta được vây quanh bởi đàn voi tám nghìn con, trông giống như chim thiên nga chúa tên Dhataraṭṭha được vây quanh bởi đàn chim thiên nga chín mươi ngàn con, trông giống như vị Chuyển Luân Vương được vây quanh bởi bốn đạo binh, trông giống như Vua trời Đế thích được vây quanh bởi đông đảo chúng chư thiên, trông giống như Đại Phạm thiên Hārita được vây quanh bởi chúng Phạm thiên, với vẻ từ hòa vô lượng của bậc Giác Ngộ, điều mà bất kỳ ai cũng không thể nghĩ bàn được tạo nên nhờ vào thiện nghiệp đã được tích lũy trong khoảng thời gian dài vô tận ngài bước đi trên con đường ấy trông giống như mặt trăng di chuyển ở trên bầu trời. 

Du Sĩ Ngoại Đạo Suppiya Gặp Đức Thế Tôn

Athevaṃ bhagavantaṃ anopamāya buddhalīlāya gacchantaṃ bhikkhū ca okkhittacakkhū santindriye santamānase uparinabhe ṭhitaṃ199[93] puṇṇacandaṃ viya bhagavantaṃyeva namassamāne disvāva200[94] paribbājako attano parisaṃ avalokesi. Sā hoti kājadaṇḍake olambetvā gahitoluggaviluggapiṭṭhakatidaṇḍamorapiñcha mattikāpatta pasibbaka kuṇḍikādi-anekaparikkhārabhārabharitā. “Asukassa hatthā sobhaṇā201[95], asukassa pādā”ti evamādiniratthakavacanā mukharā vikiṇṇavācā adassanīyā apāsādikā. Tassa taṃ disvā vippaṭisāro udapādi.

Khi ấy, sau khi du sĩ ngoại đạo Suppiya nhìn thấy đức Thế Tôn bước đi với vẻ đẹp từ hòa vô lượng của bậc Giác Ngộ và chư Tỳ khưu với ánh mắt nhìn xuống, có các giác quan thanh tịnh, có tâm an tịnh, bày tỏ sự tôn kính đối với đức Thế Tôn, ngài như thể một vầng trăng tròn đang lơ lửng nổi bật ở trên bầu trời, đã nhìn sang hội chúng của mình. Hội chúng của du sĩ ngoại đạo ấy mang xách nhiều vật dụng phụ tùng gồm có ghế gỗ nhỏ ba chân, gậy trượng, cây quạt đuôi công, bình bát đất, cái sọt và bình nước v.v, được treo vào đòn gánh rồi gánh ở trên vai nhìn lôi thôi lếch thếch, bạo mồm bạo miệng, nói lời nói vô ích như vầy: “Tay của người kia đẹp, chân của người kia xinh”, nói lung tung, không ưa nhìn, không đáng tịnh tín. Sau khi nhìn thấy như vậy vị ấy khởi lên sự ăn năn.

Idāni tena bhagavato vaṇṇo vattabbo bhaveyya. Yasmā panesa lābhasakkārahāniyā ceva pakkhahāniyā ca niccampi bhagavantaṃ usūyati202[96]. aññatitthiyānañhi yāva buddho loke nuppajjati, tāvadeva lābhasakkārā nibbattanti, buddhuppādato pana paṭṭhāya parihīnalābhasakkārā honti, sūriyuggamane khajjopanakā viya nissirīkataṃ āpajjanti. Upatissakolitānañca sañjayassa santike pabbajitakāleyeva paribbājakā mahāparisā ahesuṃ, tesu pana pakkantesu sāpi tesaṃ parisā bhinnā. Iti imehi dvīhi kāraṇehi ayaṃ paribbājako yasmā niccampi bhagavantaṃ usūyati, tasmā taṃ usūyavisuggāraṃ uggiranto ratanattayassa avaṇṇameva bhāsatīti veditabbo.

Lúc bấy giờ, thích hợp để vị ấy nói lời tán thán đức Thế Tôn. Nhưng lý do du sĩ ngoại đạo này luôn luôn ganh tị đức Thế Tôn, bởi vì sự suy giảm về lợi đắc và sự cung kính và cả sự suy giảm đồng môn, chả là suốt khoảng thời gian các đức Thế Tôn vẫn chưa xuất hiện ở trên đời thì lợi đắc và sự cung kính được phát sanh cho các du sĩ, nhưng kể từ khi chư Phật xuất hiện thì lợi đắc và sự cung kính của các du sĩ dần bị suy giảm, mất đi sự vinh hiển chằng khác nào con đom đóm khi mặt trời mọc. Cũng vào thời điểm ‘Upatissa và Kolita’203[97] xuất gia thì trú xứ của Sañjaya ấy thì nhóm du sĩ trở thành hội chúng đông đảo, nhưng khi Upatissa và Kolita rời đi thì hội chúng của họ cũng dần tan rã. Với hai nguyên nhân như đã đề cập có thể hiểu rằng: du sĩ ngoại đạo Suppiya này do luôn luôn ganh tị đối với đức Thế Tôn, khi nhả sự ganh tị ấy ra đã nói toàn lời chê bảo Tam Bảo”.

  1. Atha kho Bhagavā Ambalaṭṭhikāyaṃ rājāgārake ekarattivāsaṃ upagacchi saddhiṃ bhikkhusaṅghenāti bhagavā tāya buddhalīlāya gacchamāno anupubbena Ambalaṭṭhikādvāraṃ pāpuṇitvā sūriyaṃ oloketvā — “akālo dāni gantuṃ, atthasamīpaṃ gato204[98] sūriyo”ti Ambalaṭṭhikāyaṃ rājāgārake ekarattivāsaṃ upagacchi.
  2. Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến trú ngụ một đêm tại nhà nghỉ của đức vua ở khu vườn Ambalaṭṭhikā cùng với hội chúng Tỳ khưu: Khi ấy đức Thế Tôn bước đi với vẻ đẹp từ hòa của bậc Giác Ngộ ấy đến cổng khu vườn Ambalaṭṭhikā theo tuần tự, đưa mắt nhìn ánh mặt trời rồi khởi lên suy nghĩ rằng – “Bây giờ không phải thời để đi, mặt trời gần sắp lặn” nên (ngài) đã đi đến nghỉ lại một đêm tại nhà nghỉ của đức vua ở khu vườn Ambalaṭṭhikā.

Tattha Ambalaṭṭhikāti rañño uyyānaṃ. Tassa kira dvārasamīpe taruṇāmbarukkho atthi, taṃ “ambalaṭṭhikā”ti vadanti. Tassa avidūre bhavattā uyyānampi ambalaṭṭhikā tveva saṅkhyaṃ gataṃ. Taṃ chāyūdakasampannaṃ pākāraparikkhittaṃ suyojitadvāraṃ mañjusā viya suguttaṃ. Tattha rañño kīḷanatthaṃ paṭibhānacittavicittaṃ agāraṃ akaṃsu. taṃ “rājāgārakan”ti vuccati.

Ở đây, Ambalaṭṭhikā là tên khu vườn của đức vua. Được biết rằng ở gần cổng của khu vườn đó có cây xoài còn nhỏ mọi người gọi là ‘Ambalaṭṭhikā’. Ngay cả khu vườn cũng được biết đến là ‘Ambalaṭṭhikā’ bởi vì ở gần cây xoài nhỏ ấy. Khu vườn ấy đầy đủ bóng mát và nước, có bức tường xung quanh, có cổng được lắp đặt tốt, bảo vệ tốt, giống như cái rương. Trong khu vườn ấy đã xây dựng một nhà nghỉ được trang hoàng với nhiều màu sắc rực rỡ bởi sự kiến tạo làm nơi vui chơi thưởng thức của đức vua, chỗ đó được gọi là “nhà nghỉ của đức vua”.

Suppiyopi khoti suppiyopi tasmiṃ ṭhāne sūriyaṃ oloketvā — “akālo dāni gantuṃ, bahū khuddakamahallakā paribbājakā, bahuparissayo ca ayaṃ maggo corehipi vāḷayakkhehipi vāḷamigehipi. Ayaṃ kho pana samaṇo gotamo uyyānaṃ paviṭṭho, samaṇassa ca gotamassa vasanaṭṭhāne devatā ārakkhaṃ gaṇhanti, handāhampi idha ekarattivāsaṃ upagantvā sveva gamissāmī”ti tadevuyyānaṃ pāvisi. Tato bhikkhusaṅgho bhagavato vattaṃ dassetvā attano attano vasanaṭṭhānaṃ sallakkhesi. Paribbājakopi uyyānassa ekapasse paribbājakaparikkhāre otāretvā vāsaṃ upagacchi saddhiṃ attano parisāya. Pāḷiyamārūḷhavaseneva pana — “saddhiṃ attano antevāsinā Brahmadattena māṇavenā”ti vuttaṃ.

Ngay cả du sĩ ngoại đạo Suppiya: cả du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng đã nhìn mặt trời ở tại chỗ ấy nghĩ rằng: “Bây giờ không phải thời để đi, rất nhiều các du sĩ nhỏ và lớn, và con đường này cũng có nhiều nguy hiểm bởi bọn cướp, bởi quỷ dữ, hoặc bởi các loài thú dữ. Hơn nữa, Sa-môn Gotama này cũng đi vào khu vườn, nơi cư trú của Sa-môn Gotama, chư Thiên hẳn đua nhau để bảo vệ, vậy thì ta cũng sẽ nghỉ lại một đêm tại khu vườn này, ngày mai ta sẽ đi”, khi suy nghĩ như vậy vị ấy đã đi vào khu vườn ấy. Sau đó, hội chúng Tỳ khưu đã thực hiện phận sự đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi xác định chỗ nghỉ ngơi của mỗi cá nhân. Còn du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng cho đặt các vật phụ tùng xuống một bên của khu vườn, rồi vào nghỉ ngơi cùng với hội chúng của mình. Tuy nhiên, trong bản kinh Pāḷi gốc, kinh chỉ đề cập đến một người duy nhất đi cùng: “Cùng với thanh niên trẻ Brahmadatta là học trò của mình”.

Evaṃ vāsaṃ upagato pana so paribbājako rattibhāge dasabalaṃ olokesi. Tasmiñca samaye samantā vippakiṇṇatārakā viya padīpā jalanti, majjhe bhagavā nisinno hoti, bhikkhusaṅgho ca bhagavantaṃ parivāretvā. Tattha ekabhikkhussapi hatthakukkuccaṃ vā pādakukkuccaṃ vā ukkāsitasaddo vā khipitasaddo vā natthi. Sā hi parisā attano ca sikkhitasikkhatāya satthari ca gāravenāti dvīhi kāraṇehi nivāte padīpasikhā viya niccalā sannisinnāva ahosi. Paribbājako taṃ vibhūtiṃ disvā attano parisaṃ olokesi. tattha keci hatthaṃ khipanti, keci pādaṃ, keci vippalapanti, keci nillālitajivhā paggharitakheḷā, dante khādantā kākacchamānā gharugharupassāsino205[99] sayanti. So ratanattayassa guṇavaṇṇe vattabbepi issāvasena puna avaṇṇameva ārabhi206[100]. Brahmadatto pana vuttanayeneva vaṇṇaṃ. Tena vuttaṃ — “Tatrāpi sudaṃ suppiyo paribbājako”ti sabbaṃ vattabbaṃ. Tattha tatrāpīti tasmimpi, Ambalaṭṭhikāyaṃ uyyāneti attho.

Du sĩ ngoại đạo ấy vào nghỉ ngơi một đêm như vậy đã được quan sát đấng Thập Lực. Và vào lúc bấy giờ ngọn đèn được thắp sáng tựa như vô vàn vì tinh tú xung quanh, đức Thế Tôn ngồi giữa hội chúng, và chư Tỳ khưu ngồi xung quanh đức Thế Tôn. Ở tại nơi ấy không có bất cứ vị Tỳ khưu nào dù chỉ là một vị Tỳ khưu có cảm giác khó chịu do tay và có cảm giác khó chịu về chân (do không được cử động), hoặc một tiếng ho, hoặc một tiếng đằng hắng cũng không có. Thật vậy, hội chúng ấy ngồi tụ họp cùng nhau vô cũng tĩnh lặng như thể ngọn đèn ở nơi khuất gió, với 2 lý do - (1) là vị đã được học tập và đã được rèn luyện, và (2) do sự tôn kính đối với bậc Đạo Sư. Du sĩ ngoại đạo đã nhìn thấy được sự thành tựu đức hạnh như thế, mới quan sát hội chúng của mình. Ở nơi tụ họp của các du sĩ ấy, một số thì nằm ngủ dơ tay, một số thì nằm ngủ dơ chân, một số thì ngủ mớ, một số thì nằm ngủ thè lưỡi, chảy nước dãi, nghiến răng, ngáy khò khò. Ngay cả lúc nên nói lời tán thán Tam Bảo thì du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng vẫn nói lời chê bai do tác động của sự ganh tị. Còn thanh niên trẻ Brahmadatta thì lại nói lời tán thán Tam Bảo theo phương cách như đã trình bày. Do đó, đại đức Ānanda đã nói rằng: “Được biết rằng - ngay cả ở tại khu vườn Ambalaṭṭhikā của đức vua ấy thì du sĩ ngoại đạo Suppiya (cũng vẫn nói lời chê bai đức Phật)” nên nói tất cả. Ở đấy, tatrāpī - có nghĩa là trong khu vườn Ambalaṭṭhikā đó. 

Giải Thích Từ ‘Này Chư Tỳ Khưu’ và Từ ‘Tăng Chúng’
  1. Sambahulānanti bahukānaṃ. tattha vinayapariyāyena tayo janā “sambahulā”ti vuccanti. Tato paraṃ saṅgho. Suttantapariyāyena pana tayo tayova tato paṭṭhāya sambahulā. Idha suttantapariyāyena “sambahulā”ti veditabbā. Maṇḍalamāḷeti katthaci dve kaṇṇikā gahetvā haṃsavaṭṭakacchannena katā kūṭāgārasālāpi “maṇḍalamāḷo”ti vuccati, katthaci ekaṃ kaṇṇikaṃ gahetvā thambhapantiṃ parikkhipitvā katā upaṭṭhānasālāpi maṇḍalamāḷo”ti vuccati. Idha pana nisīdanasālā “maṇḍalamāḷo”ti veditabbo. Sannisinnānanti nisajjanavasena. Sannipatitānanti samodhānavasena. Ayaṃ saṅkhiyadhammoti saṅkhiyā207[101] vuccati kathā, kathādhammoti attho. Udapādīti uppanno. Katamo pana soti? Acchariyaṃ āvusoti evamādi. Tattha andhassa pabbatārohaṇaṃ viya niccaṃ na hotīti acchariyaṃ. Ayaṃ tāva saddanayo208[102]. ayaṃ pana aṭṭhakathānayo — accharāyogganti acchariyaṃ. Accharaṃ paharituṃ yuttanti attho. Abhūtapubbaṃ bhūtanti abbhutaṃ. Ubhayaṃ petaṃ vimhayassevādhivacanaṃ. Yāvañcidanti yāva ca idaṃ tena suppaṭividitatāya appameyyattaṃ dasseti.
  2. Này chư Tỳ khưu: nhiều vị với nhau. Trong câu đó theo giải thích ở Tạng Luật thì 3 vị Tỳ khưu gọi là ‘nhiều vị’, nhiều hơn thế thì gọi là Tăng Chúng. Còn theo giải thích Tạng Kinh thì 3 vị Tỳ khưu cũng gọi là 3 vị mà thôi, nhiều hơn thế thì gọi là ‘nhiều vị’. Ở đây, nên hiểu rằng ‘nhiều vị’ theo giải thích trong Tạng Kinh. Gian nhà hình tròn -Maṇḍalamāḷa: một số giảng đường kūṭāgāra được đặt ở 2 đầu nóc nhà, được xây dựng với việc lợp mái theo kiểu con hạc gọi là ‘Maṇḍalamāḷa’, một số giảng đường Upaṭṭhāna, (mà) giảng đường này chỉ được đặt ở một đầu nóc nhà, được xây dựng hành lang bao quanh được gọi là ‘Maṇḍalamāḷa’. Nhưng ở đây nên hiểu rằng ‘giảng đường để ngồi’ cũng được gọi là Gian nhà hình tròn - Maṇḍalamāḷa. Đã ngồi lại: ngài nói liên hệ đến việc ngồi. Tụ hội với nhau: ngài nói liên hệ đến việc gom chung lại. Có nghĩa là lời nói về pháp, lời nói đã được nói gọi là việc đàm luận trong câu ‘có cuộc pháp đàm này’. Đã khởi lên: đã khởi lên. Cuộc đàm luận ấy như thế nào? Nói chuyện với nhau như vầy - “Này các đại đức, thật là vi diệu!" Ở đây, theo lối giải thích theo văn tự (sadda-nayo): điều “kỳ diệu” (acchariya) là điều không thường xảy ra, như chuyện “người mù leo núi” — nên gọi là “kỳ diệu.”. Còn theo lối chú giải (aṭṭhakathā-nayo) – gọi là ‘thật là vi diệu!’ (acchariya) xứng đáng để búng ngón tay (tức đáng làm dấu hiệu tán thán), nghĩa là “đáng búng tay khen ngợi”. Hoặc gọi là chưa từng có (abbhuta): điều chưa từng có trước đây nay đã thành hiện hữu. Cả hai, “acchariya” và “abbhuta,” đều là các tên gọi chỉ sự kinh ngạc (vimhaya). Yāvañcidaṃ tách thành yāva ca idaṃ, dùng để nêu rõ tính “không thể lường hết/không bờ bến” nhờ sự thông đạt rất khéo (suppaṭividitatā) — tức để cho thấy tính không thể đo lường.

Tena bhagavatā jānatā ... pe ... suppaṭividitāti etthāyaṃ saṅkhepattho. Yo so bhagavā samatiṃsa pāramiyo pūretvā sabbakilese bhañjitvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho, tena bhagavatā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ āsayānusayaṃ jānatā, hatthatale ṭhapitaṃ āmalakaṃ viya sabbañeyyadhammaṃ passatā.

Đức Thế Tôn trong khi biết, trong khi thấy, đã khéo thấu hiểu khuynh hướng khác biệt của các chúng sanh: ở đây, điều này có ý nghĩa vắn tắt. Đức Thế Tôn, vị nào đã làm tròn đủ một cách đồng đều ba mươi pháp ba-la-mật, đã phá hủy tất cả phiền não, giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Đức Thế Tôn, vị ấy biết được các lậu hoặc và các tùy miên của các chúng sanh đó, nhìn thấy tất cả những pháp đáng biết - ñeyyadhamma209[103] giống như trái cây āmalaka đã được đặt xuống vào lòng bàn tay.

Api ca pubbenivāsādīhi jānatā, dibbena cakkhunā passatā. tīhi vijjāhi chahi vā pana abhiññāhi jānatā, sabbattha appaṭihatena samantacakkhunā passatā. sabbadhammajānanasamatthāya vā paññāya jānatā, sabbasattānaṃ cakkhuvisayātītāni tirokuṭṭādigatānipi rūpāni ativisuddhena maṃsacakkhunā passatā. Attahitasādhikāya vā samādhipadaṭṭhānāya paṭivedhapaññāya jānatā, parahitasādhikāya karuṇāpadaṭṭhānāya desanāpaññāya passatā.

Và hơn nữa, biết bằng Trí nhớ về các kiếp sống trước, nhìn thấy bằng thiên nhãn. Hoặc là biết bằng Tam minh, hay bằng Lục thông, nhìn thấy bằng Phật nhãn. Hoặc biết bằng tuệ có khả năng nhận biết tất cả Pháp, nhìn thấy sắc vượt khỏi tầm mắt của tất cả chúng sanh hoặc sắc ở bên ngoài bức tường v.v, với nhục nhãn vô cùng thanh tịnh. Hoặc biết bằng tuệ thấu triệt có định làm nhân cận cho thành tựu lợi ích đối với cá nhân, nhìn thấy bằng tuệ làm phương tiện thuyết giảng có lòng bi mẫn làm nhân gần cho thành tựu lợi ích đối với người khác.

Arīnaṃ hatattā paccayādīnañca arahattā Arahatā. Sammā sāmañca sabbadhammānaṃ Buddhattā Sammāsambuddhena antarāyikadhamme vā jānatā, niyyānikadhamme passatā, kilesārīnaṃ hatattā Arahatā210[104]. sammā sāmañca sabbadhammānaṃ buddhattā sammāsambuddhenāti. evaṃ catūvesārajjavasena catūhākārehi thomitena sattānaṃ nānādhimuttikatā nānajjhāsayatā suppaṭividitā yāva ca suṭṭhu paṭividitā.

bậc A-ra-hán bởi vì diệt trừ kẻ thù là phiền não, và bởi vì là bậc xứng đáng nhận được lễ vật cúng dường có bốn món vật dụng v.v, là bậc Chánh đẳng Chánh giác bởi vì giác ngộ tất cả các pháp một cách chân chánh và tự mình giác ngộ hoặc biết được các chướng ngại pháp, thấy pháp dẫn dắt ra khỏi khổ. Là bậc A-ra-hán bởi diệt trừ kẻ thù là phiền não và bởi là bậc xứng đáng nhận được lễ vật cúng dường có bốn món vật dụng v.v, là bậc Chánh đẳng Chánh giác bởi vì giác ngộ tất cả các pháp một cách chân chánh và tự mình giác ngộ với bốn tướng trạng - ākāra, và bởi năng lực của bốn vô sở úy như giải thích đã khéo thấu hiểu về tính chất khuynh hướng khác biệt của của các chúng sanh là người có khuynh hướng khác biệt và có tánh khí khác biệt, và sự hiểu biết tốt đẹp chừng nào.

Idānissa suppaṭividitabhāvaṃ dassetuṃ ayañhītiādimāha. Idaṃ vuttaṃ hoti yā ca ayaṃ bhagavatā “dhātuso, bhikkhave, sattā saṃsandanti samenti, hīnādhimuttikā hīnādhimuttikehi saddhiṃ saṃsandanti samenti, kalyāṇādhimuttikā kalyāṇādhimuttikehi saddhiṃ saṃsandanti samenti. atītampi kho, bhikkhave, addhānaṃ dhātusova sattā saṃsandiṃsu samiṃsu, hīnādhimuttikā hīnādhimuttikehi ... pe ... kalyāṇādhimuttikā kalyāṇādhimuttikehi saddhiṃ saṃsandiṃsu samiṃsu, anāgatampi kho, bhikkhave, addhānaṃ ... pe ... saṃsandissanti samessanti, etarahipi kho, bhikkhave, paccuppannaṃ addhānaṃ dhātusova sattā saṃsandanti samenti, hīnādhimuttikā hīnādhimuttikehi ... pe ... kalyāṇādhimuttikā kalyāṇādhimuttikehi saddhiṃ saṃsandanti samentī”ti211[105] evaṃ sattānaṃ nānādhimuttikatā, nānajjhāsayatā, nānādiṭṭhikatā, nānākhantitā, nānārucitā, nāḷiyā minantena viya tulāya tulayantena viya ca nānādhimuttikatāñāṇena sabbaññutaññāṇena viditā, sā yāva suppaṭividitā. Dvepi nāma sattā ekajjhāsayā dullabhā lokasmiṃ. Ekasmiṃ gantukāme eko ṭhātukāmo hoti, ekasmiṃ pivitukāme eko bhuñjitukāmo. imesu cāpi dvīsu ācariyantevāsīsu ayañhi “suppiyo paribbājako ... pe ... bhagavantaṃ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti bhikkhusaṅghañcā”ti. Tattha itihameti itiha ime, evaṃ imeti attho. sesaṃ vuttanayameva.

Bây giờ, để trình bày về tính chất thấu suốt tường tận (suppaṭividitabhāva) ấy của Đức Thế Tôn, Chú giải bắt đầu bằng cụm từ: “Bởi du sĩ ngoại đạo Suppiya này” v.v. Ý được nói ở đây là:

Sự thật rằng các chúng sanh có khuynh hướng đa dạng (nānādhimuttikatā), tâm tính đa dạng (nānajjhāsayatā), tri kiến đa dạng (nānādiṭṭhikatā), sở nguyện đa dạng (nānākhantitā), và sở thích đa dạng (nānārucitā), đã được Đức Thế Tôn thấu suốt bằng Toàn Giác Trí (sabbaññutaññāṇa) và bằng trí tuệ biết rõ các khuynh hướng đa dạng (nānādhimuttikatāñāṇa)—giống như dùng ống đong (nāḷi) để đo, như dùng cân (tulā) để lường. Sự thấu suốt ấy thật tường tận biết bao! Điều này được nói rõ qua đoạn kinh văn sau: 

“Này các Tỳ khưu, tùy theo bản chất các chúng sanh được kết hợp, được gặp gỡ nhau. Các chúng sanh có khuynh hướng thấp kém cùng với các chúng sanh có khuynh hướng thấp kém được kết hợp, được gặp gỡ nhau. Các chúng sanh có khuynh hướng tốt lành cùng với các chúng sanh có khuynh hướng tốt lành được kết hợp, được gặp gỡ nhau. Này các Tỳ khưu, ngay cả ở thời kỳ quá khứ, tùy theo bản chất các chúng sanh đã kết hợp, đã gặp gỡ nhau. Các chúng sanh có khuynh hướng thấp kém cùng với các chúng sanh có khuynh hướng thấp …nt… Các chúng sanh có khuynh hướng tốt lành cùng với các chúng sanh có khuynh hướng tốt lành đã kết hợp, đã gặp gỡ nhau. Này các Tỳ khưu, luôn cả ở thời kỳ vị lai, tùy theo bản chất các chúng sanh sẽ kết hợp, sẽ gặp gỡ nhau …nt… sẽ kết hợp, sẽ gặp gỡ nhau. Này các Tỳ khưu, kể cả hiện nay ở thời kỳ hiện tại, tùy theo bản chất các chúng sanh kết hợp, gặp gỡ nhau. Các chúng sanh có khuynh hướng thấp kém cùng với các chúng sanh có khuynh hướng thấp kém…nt... Các chúng sanh có khuynh hướng tốt lành cùng với các chúng sanh có khuynh hướng tốt lành kết hợp, gặp gỡ nhau,”

Trên đời, hai chúng sanh có cùng một tâm tính (ekajjhāsayā) quả là điều hiếm có. Khi một người muốn đi thì người kia lại muốn đứng, khi một người muốn uống thì người kia lại muốn ăn. Ngay cả trong trường hợp của hai thầy trò này cũng vậy. Bởi vì (kinh đã kể rằng): “du sĩ ngoại đạo Suppiya bằng nhiều phương thức đã nói lời phỉ báng đức Phật, phỉ báng Giáo Pháp, phỉ báng Chư Tăng. Còn thanh niên trẻ Brahmadatta là đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, bằng nhiều phương thức, đức Phật, tán thán Giáo Pháp, tán thán Chư Tăng. Như vậy cả hai thầy và trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng đức Thế Tôn và hội chúng Tỳ khưu.” Ở đấy, itiha’me tách thành itiha ime đồng nghĩa với ‘evaṃ ime’ là ‘như vầy’. Từ còn lại cũng theo phương thức như đã nói.

  1. Atha kho Bhagavā tesaṃ bhikkhūnaṃ imaṃ saṅkhiyadhammaṃ viditvāti ettha viditvāti sabbaññutaññāṇena jānitvā. Bhagavā hi katthaci maṃsacakkhunā disvā jānāti — “Addasā kho Bhagavā mahantaṃ dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānan”tiādīsu212[106] viya. Katthaci dibbacakkhunā disvā jānāti — “Addasā kho Bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tā devatāyo sahassasseva Pāṭaligāme vatthūni parigaṇhantiyo”tiādīsu213[107] viya. Katthaci pakatisotena sutvā jānāti — “Assosi kho bhagavā āyasmato Ānandassa subhaddena paribbājakena saddhiṃ imaṃ kathāsallāpan”tiādīsu214[108] viya. Katthaci dibbasotena sutvā jānāti — “Assosi kho Bhagavā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya Sandhānassa gahapatissa Nigrodhena paribbājakena saddhiṃ imaṃ kathāsallāpan”tiādīsu215[109] viya. Idha pana sabbaññutaññāṇena sutvā aññāsi. Kiṃ karonto aññāsi? pacchimayāmakiccaṃ,
  2. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn biết được cuộc pháp đàm giữa chư Tăng này: ở đây, ‘đã biết đến’ là đã biết với Trí Toàn Giác. Thật vậy, một vài chỗ đức Thế Tôn đã nhìn thấy bằng nhục nhãn mới nhận biết chẳng hạn như – “Đức Thế Tôn đã nhìn thấy một đống gỗ to lớn bị cuốn trôi bởi dòng chảy của con sông”. Một vài chỗ đức Thế Tôn đã nhìn thấy bằng thiên nhãn mới nhận biết chẳng hạn như – “Đức Thế Tôn quả nhiên đã nhìn thấy các Thiên nhân ấy có đến hàng ngàn vị đang chiếm giữ các vùng đất ở Pāṭaligāma với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người.” Một vài chỗ đức Thế Tôn đã nghe bằng nhĩ thông thường mới nhận biết chẳng hạn như – “Đức Thế Tôn đã nghe cuộc trò chuyện trao đổi này giữa đại đức Ānanda với du sĩ ngoại đạo Subhadda.” Một vài chỗ đức Thế Tôn đã nghe bằng thiên nhĩ mới nhận biết chẳng hạn như – “Đức Thế Tôn quả nhiên đã nghe gia chủ Sandhāra cuộc trò chuyện trao đổi này với du sĩ ngoại đạo Nirodha với Thiên nhĩ thanh tịnh vượt trội loài người.” Nhưng ở trong bài Kinh này thấy bằng Trí Toàn Giác mới biết được. Ngài làm gì mới biết? Ngài thực hiện phận sự vào canh cuối.
Giải Thích Năm Phận Sự Của Đức Phật

Kiccañca nāmetaṃ sātthakaṃ, niratthakanti duvidhaṃ hoti. Tattha niratthakakiccaṃ bhagavatā bodhipallaṅkeyeva arahattamaggena samugghātaṃ kataṃ. Sātthakaṃyeva pana bhagavato kiccaṃ hoti. Taṃ pañcavidhaṃ — purebhattakiccaṃ, pacchābhattakiccaṃ, purimayāmakiccaṃ, majjhimayāmakiccaṃ, pacchimayāmakiccanti.

Và phận sự này có 2 loại là phận sự có lợi ích và phận sự không có lợi ích. Trong 2 phận sự ấy thì phận sự không có lợi ích đức Thế Tôn đã nhổ bỏ bởi A-ra-hán Đạo ở tại cội Bồ Đề. Đức Thế Tôn chỉ còn phận sự có lợi ích mà thôi. Phận sự có lợi ích của đức Thế Tôn ấy có 5 phận sự là - (1) phận sự trước bữa ăn, (2) phận sự sau bữa ăn, (3) phận sự vào canh đầu,

(4) phận sự vào canh giữa, (5) phận sự vào canh cuối.

Tatridaṃ purebhattakiccaṃ – Bhagavā hi pātova uṭṭhāya upaṭṭhākānuggahatthaṃ sarīraphāsukatthañca mukhadhovanādisarīraparikammaṃ katvā yāva bhikkhācāravelā tāva vivittāsane vītināmetvā, bhikkhācāravelāyaṃ nivāsetvā kāyabandhanaṃ bandhitvā cīvaraṃ pārupitvā pattamādāya kadāci ekako, kadāci bhikkhusaṅghaparivuto, gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya pavisati; kadāci pakatiyā, kadāci anekehi pāṭihāriyehi vattamānehi. Seyyathidaṃ216[110], piṇḍāya pavisato lokanāthassa purato purato gantvā mudugatavātā pathaviṃ sodhenti, valāhakā udakaphusitāni muñcantā magge reṇuṃ vūpasametvā upari vitānaṃ hutvā tiṭṭhanti, apare vātā pupphāni upasaṃharitvā magge okiranti, unnatā bhūmippadesā onamanti, onatā unnamanti, pādanikkhepasamaye samāva bhūmi hoti, sukhasamphassāni padumapupphāni vā pāde sampaṭicchanti. Indakhīlassa anto ṭhapitamatte dakkhiṇapāde sarīrato chabbaṇṇarasmiyo nikkhamitvā suvaṇṇarasapiñjarāni viya citrapaṭaparikkhittāni viya ca pāsādakūṭāgārādīni alaṅkarontiyo ito cito ca dhāvanti, hatthiassavihaṅgādayo sakasakaṭṭhānesu ṭhitāyeva madhurenākārena saddaṃ karonti, tathā bherivīṇādīni tūriyāni manussānañca kāyūpagāni ābharaṇāni.

Đây là phận sự trước bữa ăn – Bởi vì đức Thế Tôn ngài dậy từ sáng sớm, vệ sinh thân thể, như súc miệng v.v, để hỗ trợ người hầu cận và vì sự dễ chịu của cơ thể, khi hoàn tất ngài đã ngồi xuống Phật tọa an tĩnh cho đến thời gian khất thực, khi đến thời gian đi khất thực, ngài quấn y nội buộc dây thắt lưng, đã mặc y, cầm bình bát, đôi khi ngài đi một mình, đôi khi tháp tùng cùng với hội chúng Tỳ khưu, đi vào làng hoặc thị trấn để khất thực; đôi khi ngài bước đi thông thường, đôi khi đi bằng nhiều phép kỳ diệu. Là thế nào? Khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã đi vào khất thực một cơn gió thổi nhẹ nhàng, thổi về phía trước dọn sạch bề mặt đất làm cho (con đường) trở nên sạch sẽ, những cơn mưa cũng trút nước xuống để ngăn bụi bẩn bám trên đường, trải rộng ra như trần nhà phía trên, cơn gió đã mang theo các loại bông hoa và rải chúng xuống lên trên mặt đường. Những chỗ đất cao trở nên thấp hơn, còn chỗ thấp thì trở nên cao hơn. Mặt đất bằng phẳng đều đặn khi ngài bước chân, hoặc những bông hoa sen (được rải trên đường) có cảm giác mềm mại êm ái, dễ chịu chờ nâng đôi chân của ngài, khi bàn chân phải của Ngài đã đặt xuống phía bên trong ngạch cửa thì hào quang sáu màu chiếu sáng quảng đại tỏa ra từ kim thân (của bậc Giác Ngộ) xoay tròn lấp lánh trang trí cho lâu đài tháp nhọn v.v. tựa như ánh sáng chói lóa của vàng và như thể được bao bọc bởi một dải lụa xinh đẹp, trong tất cả các loài thú có voi, ngựa và chim v.v, cư trú ở trong khu vực của chúng cũng cùng nhau cất lên những âm thanh quyến rũ, các nhạc khí như trống, đàn tỳ bà v.v., và cả những đồ trang sức đeo trên thân người cũng phát ra những âm thanh du dương.

Tena saññāṇena manussā jānanti — “ajja bhagavā idha piṇḍāya paviṭṭho”ti. Te sunivatthā supārutā gandhapupphādīni ādāya gharā nikkhamitvā antaravīthiṃ paṭipajjitvā bhagavantaṃ gandhapupphādīhi sakkaccaṃ pūjetvā vanditvā — “amhākaṃ, bhante, dasa bhikkhū, amhākaṃ vīsati, paññāsaṃ ... pe ... sataṃ dethā”ti yācitvā bhagavatopi pattaṃ gahetvā āsanaṃ paññapetvā sakkaccaṃ piṇḍapātena paṭimānenti. Bhagavā katabhattakicco tesaṃ sattānaṃ cittasantānāni oloketvā tathā dhammaṃ deseti, yathā keci saraṇagamanesu patiṭṭhahanti, keci pañcasu sīlesu, keci sotāpattisakadāgāmianāgāmiphalānaṃ aññatarasmiṃ; keci pabbajitvā aggaphale arahatteti. Evaṃ mahājanaṃ anuggahetvā uṭṭhāyāsanā vihāraṃ gacchati. Tattha gantvā maṇḍalamāḷe paññattavarabuddhāsane nisīdati, bhikkhūnaṃ bhattakiccapariyosānaṃ āgamayamāno. Tato bhikkhūnaṃ bhattakiccapariyosāne upaṭṭhāko Bhagavato nivedeti. Atha Bhagavā gandhakuṭiṃ pavisati. idaṃ tāva purebhattakiccaṃ.

Với dấu hiệu này khiến cho tất cả mọi người biết rằng – “Ngày hôm nay đức Thế Tôn đi vào (làng) để khất thực”. Mọi người ai cũng sửa soạn ăn mặc chỉnh tề cùng nhau mang các vật thơm và tràng hoa v.v, rời khỏi nhà đi theo con đường đó, sau khi cúng dường đức Thế Tôn với vật thơm và tràng hoa v.v, một cách cung kính, đã đảnh lễ thỉnh cầu chư Tăng như sau –“Kính bạch ngài, xin ngài hãy vì lòng bi mẫn chỉ định mười vị Tỳ khưu, hai mươi vị Tỳ khưu, năm mươi vị Tỳ khưu, …nt…một trăm vị Tỳ khưu đến cho chúng con” rồi cầm lấy bình bát luôn cả của đức Thế Tôn, đã sắp đặt chỗ ngồi, cúi mình cúng dường đồ ăn khất thực một kính cung kính. Sau khi việc thọ thực hoàn tất, đức Thế Tôn đã quan sát về căn tánh của những chúng sanh đó để thuyết pháp, tương trợ cho một số đã vững trú với việc đi đến nương tựa, một số đã vững trú vào năm giới, một số vững trú trong phẩm vị Thánh Nhập-lưu, Thánh Nhất-lai, Thánh Bất-lai hay phẩm vị nào khác; một số đã xuất gia vững trú vào phẩm vị Thánh A-ra-hán là quả tối thượng, sau khi đã trợ giúp đại chúng như thế, (ngài) đứng dậy từ chỗ ngồi rồi trở về tịnh xá. Khi ngồi trên Phật tọa đã được sửa soạn sẵn trong gian nhà mái tròn, chờ đợi chư Tỳ khưu thọ thực hoàn tất. Sau khi chư Tỳ khưu thọ thực hoàn tất, vị Tỳ khưu thị giả bạch cho đức Thế Tôn biết. Sau đó, đức Thế Tôn đi vào Hương Thất. Đây là phận sự trước bữa ăn.

Atha217[111] Bhagavā evaṃ katapurebhattakicco gandhakuṭiyā upaṭṭhāne218[112] nisīditvā pāde pakkhāletvā pādapīṭhe ṭhatvā bhikkhusaṅghaṃ ovadati — “Bhikkhave, appamādena sampādetha, dullabho buddhuppādo lokasmiṃ, dullabho manussattapaṭilābho, dullabhā sampatti219[113], dullabhā pabbajjā, dullabhaṃ saddhammassavanan”ti. Tattha keci bhagavantaṃ kammaṭṭhānaṃ pucchanti. Bhagavāpi tesaṃ cariyānurūpaṃ kammaṭṭhānaṃ deti. Tato sabbepi bhagavantaṃ vanditvā attano attano rattiṭṭhānadivāṭṭhānāni gacchanti. Keci araññaṃ, keci rukkhamūlaṃ, keci pabbatādīnaṃ aññataraṃ, keci Cātumahārājikabhavanaṃ220[114] ... pe ... keci Vasavattibhavananti. Tato bhagavā gandhakuṭiṃ pavisitvā sace ākaṅkhati, dakkhiṇena passena sato sampajāno muhuttaṃ sīhaseyyaṃ kappeti. Atha samassāsitakāyo vuṭṭhahitvā dutiyabhāge lokaṃ voloketi. Tatiyabhāge yaṃ gāmaṃ vā nigamaṃ vā upanissāya viharati tattha mahājano purebhattaṃ dānaṃ datvā pacchābhattaṃ sunivattho supāruto gandhapupphādīni ādāya vihāre sannipatati. Tato bhagavā sampattaparisāya anurūpena pāṭihāriyena gantvā dhammasabhāyaṃ paññattavarabuddhāsane nisajja dhammaṃ deseti kālayuttaṃ samayayuttaṃ, atha kālaṃ viditvā parisaṃ uyyojeti, manussā bhagavantaṃ vanditvā pakkamanti. Idaṃ pacchābhattakiccaṃ.

Khi ấy, đức Thế Tôn khi thực hiện phận sự trước bữa ăn hoàn tất như vậy, ngồi tại giảng đường ở gần Hương Thất, sau khi rửa chân đã đứng trên bục giảng, rồi ban lời giáo huấn đến hội chúng Tỳ khưu rằng: – “Này chư Tỳ khưu, các ông hãy nên cố gắng hoàn thành mục tiêu của mình, bằng pháp không dễ duôi, sự xuất hiện của đức Phật trên thế gian là một điều khó, được sinh làm người là một điều khó, sự thành tựu trọn vẹn (với một sát-na, đức tin) là một điều khó, được xuất gia trở thành Tỳ khưu là một điều khó, được nghe Chánh Pháp là một điều khó”. Tại nơi đó một số vị Tỳ khưu hỏi về đề mục hành thiền cùng đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn cũng hướng dẫn đề mục hành thiền phù hợp cùng với căn tánh của các vị Tỳ khưu ấy. Sau đó, tất cả các vị Tỳ khưu đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đi đến chỗ nghỉ ban ngày và chỗ nghỉ ban đêm của mỗi vị. Vị thì vào rừng, vị thì đến gốc cây, vị thì đến núi v.v.; có vị đến cung điện của chư Thiên Tứ Đại Vương … có vị đến cung điện của chư Thiên Vāsavatti. Sau đó, đức Thế Tôn đi vào Hương Thất nếu như có ước muốn, có niệm, có sự nhận thức rõ, áp dụng thế nằm của sư tử (nghỉ ngơi cơ thể) trong chốc lát bằng sườn bên phải. Khi cơ thể khỏe khoắn ngài ngồi dậy quan sát thế gian lần thứ hai. Trong lần thứ 3, tại ngôi làng hoặc thị trấn nơi đức Thế Tôn sống nương tựa ấy, đại chúng cùng nhau đã cúng dường vật thí trước bữa ăn, sau bữa ăn đã mặc y phục tươm tất, mang theo các loại vật thơm và tràng hoa v.v, đến tụ hội với nhau ở tịnh xá. Khi hội chúng đã đầy đủ, đức Thế Tôn đã đi đến bằng phép kỳ diệu thích hợp, ngồi thuyết giảng giáo pháp tùy thời, tùy lúc ở trên Phật tọa cao thượng đã được sắp đặt tỉ mỉ ở Pháp Đường [Dhammasabhā], khi đã biết đúng thời thì giải tán hội chúng, mọi người đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi cùng nhau quay trở về. Đây là phận sự sau bữa ăn.

So evaṃ niṭṭhitapacchābhattakicco sace gattāni osiñcitukāmo hoti, buddhāsanā vuṭṭhāya nhānakoṭṭhakaṃ pavisitvā upaṭṭhākena paṭiyāditaudakena gattāni utuṃ gaṇhāpeti. Upaṭṭhākopi Buddhāsanaṃ ānetvā gandhakuṭipariveṇe paññapeti. Bhagavā surattadupaṭṭaṃ nivāsetvā kāyabandhanaṃ bandhitvā uttarāsaṅgaṃ ekaṃsaṃ karitvā tattha gantvā nisīdati ekakova muhuttaṃ paṭisallīno, atha bhikkhū tato tato āgamma Bhagavato upaṭṭhānaṃ āgacchanti. tattha ekacce pañhaṃ pucchanti, ekacce kammaṭṭhānaṃ, ekacce dhammassavanaṃ yācanti. Bhagavā tesaṃ adhippāyaṃ sampādento purimayāmaṃ vītināmeti. Idaṃ purimayāmakiccaṃ.

Đức Thế Tôn ấy khi hoàn tất phận sự sau bữa ăn như vậy, nếu có mong muốn sẽ tắm gội thân thể, ngài đứng dậy từ Phật tọa đi vào ngôi nhà mái vòm để tắm rửa với nước được vị Tỳ khưu thị giả chuẩn bị sẵn. Còn vị Tỳ khưu thị giả cũng đem tọa cụ của đức Phật trải ra ở khu vực Hương Thất. Đức Thế Tôn khoác y hai lớp đã được nhuộm kỹ, buộc dây thắt lưng, đắp thượng y một bên vai rồi ngài đi đến ngồi trên Phật tọa ấy ấy, một mình, an tịnh trong chốc lát. Khi đó chư Tỳ khưu cùng nhau đến từ nơi này nơi khác đến nơi Pháp Đường của đức Thế Tôn. Tại nơi đó, một số vị hỏi vấn đề, một số xin đề mục hành thiền, một số xin được nghe pháp. Đức Thế Tôn đã ngồi nán lại suốt canh đầu, để cho sự mong muốn của các vị Tỳ khưu ấy thành tựu. Đây là phận sự vào canh đầu.

Purimayāmakiccapariyosāne pana bhikkhūsu bhagavantaṃ vanditvā pakkantesu sakaladasasahassilokadhātudevatāyo okāsaṃ labhamānā bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchanti, yathābhisaṅkhataṃ antamaso caturakkharampi. Bhagavā tāsaṃ devatānaṃ pañhaṃ vissajjento majjhimayāmaṃ vītināmeti. Idaṃ majjhimayāmakiccaṃ.

Hơn nữa trong khi hoàn tất phận sự vào canh đầu chư Tỳ khưu đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi quay trở về, chúng chư Thiên trong toàn thể mười ngàn thế giới khi có được cơ hội cũng cùng nhau đến gặp đức Thế Tôn, hỏi những câu hỏi đã được soạn sẵn, cho dẫu chỉ vắn tắt bốn chữ. Đức Thế Tôn trả lời câu hỏi cùng những vị chư Thiên ấy, suốt canh giữa. Đây là phận sự vào canh giữa.

Pacchimayāmaṃ pana tayo koṭṭhāse katvā purebhattato paṭṭhāya nisajjāya pīḷitassa sarīrassa kilāsubhāvamocanatthaṃ ekaṃ koṭṭhāsaṃ caṅkamena vītināmeti. dutiyakoṭṭhāse gandhakuṭiṃ pavisitvā dakkhiṇena passena sato sampajāno sīhaseyyaṃ kappeti. Tatiyakoṭṭhāse paccuṭṭhāya nisīditvā purimabuddhānaṃ santike dānasīlādivasena katādhikārapuggaladassanatthaṃ buddhacakkhunā lokaṃ voloketi. Idaṃ pacchimayāmakiccaṃ.

Còn phận sự vào canh cuối đức Thế Tôn chia làm 3 thời là thời thứ nhất trải qua thời gian với việc đi kinh hành, để xua tan sự mệt mỏi của cơ thể đã bị chi phối bởi tư thế ngồi từ trước bữa ăn. Trong thời thứ hai ngài bước vào Hương Thất, có niệm, có sự nhận thức rõ ràng, áp dụng thế nằm của sư tử (nghỉ ngơi cơ thể) trong chốc lát bằng sườn bên phải. Vào thời thứ ba ngài đứng dậy từ chỗ ngồi và dùng Phật nhãn quán xét thế gian để thấy những chúng sinh đã gieo trồng căn lành nơi các Đức Phật quá khứ qua việc thực hành bố thí, trì giới v.v.. Đây là phận sự vào canh cuối.

Tasmiṃ pana divase Bhagavā purebhattakiccaṃ Rājagahe pariyosāpetvā pacchābhatte maggaṃ āgato, purimayāme bhikkhūnaṃ kammaṭṭhānaṃ kathetvā, majjhimayāme devatānaṃ pañhaṃ vissajjetvā, pacchimayāme caṅkamaṃ āruyha caṅkamamāno pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ imaṃ sabbaññutaññāṇaṃ ārabbha pavattaṃ kathaṃ sabbaññutaññāṇeneva sutvā aññāsīti. Tena vuttaṃ — “pacchimayāmakiccaṃ karonto aññāsī”ti. 

Vào ngày hôm ấy, sau khi hoàn tất phận sự trước bữa ăn tại thành Rājagaha và lên đường vào thời gian sau bữa ăn, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng đề mục thiền cho các Tỳ-kheo vào canh đầu và giải đáp các câu hỏi của chư Thiên vào canh giữa. Đến canh cuối, trong khi đi kinh hành, Ngài đã dùng chính Trí Toàn Tri mà nghe và biết được cuộc trò chuyện của năm trăm vị Tỳ-kheo đang bàn về năng lực Toàn tri này. Do đó, có lời ghi rằng: "Ngài đã biết (việc ấy) trong khi đang thực hành phận sự canh cuối."

Ñatvā ca panassa etadahosi — “ime bhikkhū mayhaṃ sabbaññutaññāṇaṃ ārabbha guṇaṃ kathenti, etesañca sabbaññutaññāṇakiccaṃ na pākaṭaṃ, mayhameva pākaṭaṃ. mayi pana gate ete attano kathaṃ nirantaraṃ ārocessanti, tato nesaṃ ahaṃ taṃ aṭṭhuppattiṃ katvā tividhaṃ sīlaṃ vibhajanto, dvāsaṭṭhiyā ṭhānesu appaṭivattiyaṃ sīhanādaṃ nadanto, paccayākāraṃ samodhānetvā Buddhaguṇe pākaṭe katvā, sineruṃ ukkhipento viya suvaṇṇakūṭena nabhaṃ paharanto viya ca dasasahassilokadhātukampanaṃ brahmajālasuttantaṃ arahattanikūṭena niṭṭhāpento desessāmi, sā me desanā parinibbutassāpi pañcavassasahassāni sattānaṃ amatamahānibbānaṃ sampāpikā221[115] bhavissatī”ti. Evaṃ cintetvā yena maṇḍalamāḷo tenupasaṅkamīti . Yenāti yena disābhāgena, so upasaṅkamitabbo. Bhummatthe vā etaṃ karaṇavacanaṃ, yasmiṃ222[116] padese so maṇḍalamāḷo, tattha gatoti ayamettha attho.

Và sau khi biết ngài đã khởi lên suy tư như vầy – “Những vị Tỳ khưu này đã nói đến ân đức liên quan đến Trí Toàn Tri của ta, và phận sự của Trí Toàn Tri không hiện hữu cùng những vị Tỳ khưu này chỉ hiện hữu nơi ta mà thôi, khi ta đi thì ngay lập tức những vị Tỳ khưu này sẽ nói chuyện của mình. Từ đó, ta sẽ nói chuyện của những vị Tỳ khưu ấy làm căn nguyên rồi phân chia giới thành ba loại, gầm lên tiếng gầm sư tử mà bất kỳ ai cũng không thể chuyển vận nghịch lại trong 62 trường hợp, sau khi đã thu thập về lý duyên khởi làm cho ân đức Phật được hiện hữu, sẽ thuyết giảng bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng làm cho mười ngàn thế giới rung chuyển, kết thúc với đỉnh cao là A-ra-hán, y như nâng đỉnh núi Suneru lên và giống như ném vào bầu trời với cái búa vàng, Pháp thoại ấy, ngay cả sau khi ta đã nhập diệt, vẫn sẽ là phương tiện dẫn dắt chúng sanh đến Bất tử Đại Niết-bàn trong suốt năm ngàn năm.”. Như vậy, khi đức Phật nghĩ như vậy ngài bước vào gian nhà mái tròn nơi các vị Tỳ khưu đang ngồi. Yena: Từ yena (ở đây chỉ phương hướng) được dùng theo nghĩa của định sở cách, tức là: "Nơi nào có ngôi nhà tròn, Ngài đi đến nơi đó."

Paññatte āsane nisīdīti Buddhakāle kira yattha yattha ekopi bhikkhu viharati sabbattha Buddhāsanaṃ paññattameva hoti. Kasmā? Bhagavā kira attano santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā phāsukaṭṭhāne viharante manasi karoti — “asuko mayhaṃ santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā gato, sakkhissati223[117] nu kho visesaṃ nibbattetuṃ no vā”ti. atha naṃ passati kammaṭṭhānaṃ vissajjetvā akusalavitakkaṃ vitakkayamānaṃ, tato “kathañhi nāma mādisassa satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā viharantaṃ imaṃ kulaputtaṃ akusalavitakkā abhibhavitvā anamatagge vaṭṭadukkhe saṃsāressantī”ti224[118] tassa anuggahatthaṃ tattheva attānaṃ dassetvā taṃ kulaputtaṃ ovaditvā ākāsaṃ uppatitvā puna attano vasanaṭṭhānameva gacchati. Athevaṃ ovadiyamānā te bhikkhū cintayiṃsu — “satthā amhākaṃ manaṃ jānitvā āgantvā amhākaṃ samīpe ṭhitaṃyeva attānaṃ dasseti”. tasmiṃ khaṇe — “bhante, idha nisīdatha, idha nisīdathā”ti āsanapariyesanaṃ nāma bhāroti. te āsanaṃ paññapetvāva viharanti. yassa pīṭhaṃ atthi, so taṃ paññapeti. yassa natthi, so mañcaṃ vā phalakaṃ vā kaṭṭhaṃ vā pāsāṇaṃ vā vālukapuñjaṃ vā paññapeti. taṃ alabhamānā purāṇapaṇṇānipi saṅkaḍḍhitvā tattha paṃsukūlaṃ pattharitvā ṭhapenti. idha pana rañño nisīdanāsanameva atthi, taṃ papphoṭetvā paññapetvā parivāretvā te bhikkhū Bhagavato adhimuttikañāṇamārabbha guṇaṃ thomayamānā nisīdiṃsu. taṃ sandhāya vuttaṃ — “Paññatte āsane nisīdī”ti. Athevaṃ ovadiyamānā te bhikkhū cintayiṃsu — “Satthā amhākaṃ manaṃ jānitvā āgantvā amhākaṃ samīpe ṭhitaṃyeva attānaṃ dasseti”. Tasmiṃ khaṇe — “Bhante, idha nisīdatha, idha nisīdathā”ti āsanapariyesanaṃ nāma bhāroti. Te āsanaṃ paññapetvāva viharanti. Yassa pīṭhaṃ atthi, so taṃ paññapeti. Yassa natthi, so mañcaṃ vā phalakaṃ vā kaṭṭhaṃ vā pāsāṇaṃ vā vālukapuñjaṃ225[119] vā paññapeti. Taṃ alabhamānā purāṇapaṇṇānipi saṅkaḍḍhitvā tattha paṃsukūlaṃ pattharitvā ṭhapenti. Idha pana rañño nisīdanāsanameva atthi, taṃ papphoṭetvā paññapetvā parivāretvā te bhikkhū bhagavato adhimuttikañāṇamārabbha guṇaṃ thomayamānā nisīdiṃsu. Taṃ sandhāya vuttaṃ — “paññatte āsane nisīdī”ti.

Ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn: ngồi trên chỗ ngồi đã được sắp đặt tỉ mỉ, được biết vào thời kỳ của đức Phật ở bất kỳ chỗ nào có Tỳ khưu cư trú dù chỉ có một vị thì cũng đều được sắp đặt Phật Tọa ở mọi nơi. Vì sao? Được biết đức Thế Tôn tác ý đến những vị Tỳ khưu đã nắm giữ đề mục hành thiền trong trú xứ của ngài, cư trú ở nơi dễ chịu rằng – “Vị Tỳ khưu kia đã nắm giữ đề mục hành thiền trong trú xứ của ta, có thể làm ân đức cao thượng sanh khởi hay không?” Khi nhìn thấy vị Tỳ khưu ấy từ bỏ đề mục hành thiền, đang suy tư đến suy tầm về bất thiện. Sau đó, đức Phật có suy nghĩ như sau: “Thiện nam tử này đã nắm giữ đề mục hành thiền trong trú xứ của bậc Đạo Sư như ta, nguyên nhân nào lại bị suy tầm bất thiện chi phối khiến chìm vào vòng luân hồi khổ không có điểm khởi đầu và kết thúc”, để trợ giúp vị Tỳ khưu đó, ngài đã thể hiện mình ở ngay chính tại nơi ấy, trong khi ban bố lời giáo huấn đến thiện nam tử đó ngài đã bay lên không trung, rồi quay trở về nơi cư ngụ của ngài. Sau đó, những vị Tỳ khưu ấy trong khi được đức Thế Tôn ban lời giáo huấn như vậy khởi lên suy nghĩ rằng – “Bậc Đạo Sư biết được suy nghĩ của chúng ta, ngài đã đến thể hiện chính mình trong tư thế đứng gần chỗ chúng ta”. Nhiệm vụ của chúng ta là sắp đặt chỗ ngồi dành cho đức Phật, đối với việc thỉnh mời vào thời điểm đó: “Kính bạch ngài, xin ngài hãy ngồi trên chỗ ngồi này, xin ngài hãy ngồi trên chỗ ngồi này. Chư Tỳ khưu ấy mới sắp đặt chỗ ngồi dành cho đức Phật. Vị có ghế thì sắp đặt ghế. Vị không có ghế thì sắp đặt giường, hoặc tấm bảng, hoặc gỗ, hoặc phiến đá hoặc đống cát, khi không được như thế cũng có thể lấy những lá cây cũ đến rồi trải tấm y phấn tảo chồng lên chính những chiếc lá cũ đó. Nhưng tại nhà nghỉ của đức vua ở khu vườn Ambalaṭṭhikā này có chỗ ngồi của đức vua, chư Tỳ khưu hỗ trợ nhau quét dọn bụi bẩn, chỗ ngồi ấy đã được sắp đặt sẵn, ngồi xung quanh ngợi khen về ân đức Phật liên quan đến trí tuệ biết được căn tánh của chúng sanh của đức Thế Tôn. Đại đức Ānanda muốn đề cập đến chỗ ngồi ấy mới nói rằng: “Ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn”.

Evaṃ nisinno pana jānantoyeva kathāsamuṭṭhāpanatthaṃ bhikkhū pucchi. Te cassa sabbaṃ kathayiṃsu. Tena vuttaṃ — “Nisajja kho bhagavā”tiādi. Tattha kāya nutthāti katamāya nu kathāya sannisinnā bhavathāti attho. Kāya netthātipi pāḷi, tassā katamāya nu etthāti attho kāya notthātipi pāḷi. Tassāpi purimoyeva attho.

Hơn nữa, đức Thế Tôn đã ngồi như vậy, dù biết được cũng hỏi chư Tỳ khưu nhằm mục đích tạo ra cuộc đàm luận và chư Tỳ khưu ấy cũng cùng nhau đáp lại ngài mọi chuyện. Vì lý do ấy đại đức Ānanda mới nói rằng: “Đức Thế Tôn sau khi ngồi như vậy v.v.” Trong các câu ấy ‘câu chuyện gì’ nghĩa là các ông ngồi đàm luận với nhau câu chuyện gì vậy? Pāḷī ‘kāya nettha’ cũng có. Pāḷī ấy có ý nghĩa rằng: các ông ngồi đàm luận với nhau chuyện gì ở đây? Pāḷī ‘kāya nottha’ cũng có. Ở đó cũng có ý nghĩa tương tự như ý nghĩa trước.

Antarākathāti, kammaṭṭhānamanasikārauddesaparipucchādīnaṃ antarā aññā ekā kathā. Vippakatāti, mama āgamanapaccayā apariniṭṭhitā sikhaṃ appattā. Tena kiṃ dasseti? “nāhaṃ tumhākaṃ kathābhaṅgatthaṃ āgato, ahaṃ pana sabbaññutāya tumhākaṃ kathaṃ niṭṭhāpetvā matthakappattaṃ katvā dassāmīti āgato”ti nisajjeva sabbaññupavāraṇaṃ pavāreti. Ayaṃ kho no, bhante, antarākathā vippakatā, atha bhagavā anuppattoti etthāpi ayamadhippāyo. Ayaṃ bhante amhākaṃ bhagavato sabbaññutaññāṇaṃ ārabbha guṇakathā vippakatā, na rājakathādikā tiracchānakathā, atha Bhagavā anuppatto; taṃ no idāni niṭṭhāpetvā desethāti226[120].

Câu chuyện các ông nói còn dang dở: Cuộc đàm thoại giữa việc tác ý đến đề mục hành thiền được diễn giải và hỏi v.v, ở giữa một câu chuyện khác. Nói còn dang dở: vẫn chưa chấm dứt, là vẫn chưa đi đến cuối cùng, do đấng Như Lai đến. Với câu đó thuyết giảng như thế nào? “Không phải Như Lai vì dừng việc đàm luận của các ông, mà đến với hy vọng sẽ thuyết giảng cho việc đàm luận của các ông kết thúc, là làm cho đi đến cuối cùng với bản thể Toàn Giác”, vì thế đức Thế Tôn đã ngồi, cho phép mọi sự thông suốt. Bạch ngài, câu chuyện trao đổi này giữa chúng con vẫn còn dang dở, khi ấy đức Thế Tôn đi đến: chính ở đây, đây là ý định. Kính bạch ngài, việc đàm luận về ân đức Phật liên quan đến Toàn Giác Trí của đức Thế Tôn vẫn còn dang dở, không phải nói lời phù phiếm như câu chuyện về vua chúa v.v, vừa lúc đức Thế Tôn ngài đi đến; xin ngài hãy thuyết giảng để cho cuộc đàm luận của chúng con kết thúc ngay bây giờ.

Ettāvatā ca yaṃ āyasmatā Ānandena kamalakuvalayujjalavimalasādhurasasalilāya pokkharaṇiyā sukhāvataraṇatthaṃ nimmalasilātalaracanavilāsa227[121] sobhitaratanasopānaṃ, vippakiṇṇamuttātalasadisavālukākiṇṇa228[122] paṇḍarabhūmibhāgaṃ titthaṃ viya suvibhattabhittivicitravedikāparikkhittassa nakkhattapathaṃ phusitukāmatāya viya, vijambhita229[123] samussayassa pāsādavarassa sukhārohaṇatthaṃ

dantamayasaṇhamuduphalakakañcanalatāvinaddhamaṇigaṇappabhāsamudayujjalasobha ṃ sopānaṃ viya, suvaṇṇavalayanūpurādisaṅghaṭṭanasaddasammissitakathitahasitamadhurassaragehajanav icaritassa uḷārissarivibhavasobhitassa mahāgharassa sukhappavesanatthaṃ suvaṇṇarajatamaṇimuttapavāḷādijutivissaravijjotitasuppatiṭṭhitavisāladvārabāhaṃ

mahādvāraṃ viya ca atthabyañjanasampannassa buddhaguṇānubhāvasaṃsūcakassa imassa suttassa sukhāvagahaṇatthaṃ kāladesadesakavatthuparisāpadesapaṭimaṇḍitaṃ nidānaṃ bhāsitaṃ, tassatthavaṇṇanā samattāti.

Và chỉ với chừng ấy lời, đại đức Ānanda có được lời nói làm căn nguyên được tô điểm với thời gian, xứ sở, người thuyết, câu chuyện, hội chúng và dẫn chứng để hiểu một cách dễ dàng bài Kinh này, giải thích oai lực của ân đức Phật đầy đủ về mặt ý nghĩa và văn cú, ví như hồ nước có khu vực trong lành sạch sẽ đầy cát tựa như một chuỗi ngọc trai được tản mát, có bậc thang ngọc được điểm tô tuyệt đẹp được sắp xếp với bề mặt đá vô cấu để có thể bước dễ dàng xuống hồ nước có vị ngon ngọt, tinh khiết, rực rỡ với những đóa hoa hoa sen và những đóa hoa súng, và ví như cầu thang xinh đẹp rực rỡ phát ra ánh sáng từ ngọc ma-ni, có tấm ván nhẵn nhụi, mềm mịn được làm bằng ngà voi được buộc chặt bằng dây leo vàng để bước thuận tiện vào lâu đài cao quý có mái nhà được tô trát kỹ lưỡng, bao quanh bởi hàng lan can tuyệt đẹp, cả hình dáng được trang hoàng rực rỡ, y như có ý muốn chạm vào những vì tinh tú và giống như Đại Tự có các cửa sổ lớn được lắp đặt kỹ lưỡng rực rỡ bởi hào quang của vàng bạc, ngọc ma-ni, ngọc trai và ngọc sang hô v.v, để dễ dàng bước vào một ngôi nhà rộng lớn, xinh đẹp, quyền thế, của cải tài sản đồ xộ cùng những tiếng rít lên và các điệu nhảy của những hộ gia đình có âm giọng êm dịu, tiếng nói cười hớn hở xen lẫn với tiếng va chạm của các đồ trang sức bằng như lắc tay vàng và đồ trang sức ở chân v.v. 

Giải Thích Nhân Thiết Lập Bài Kinh
  1. Idāni — “mamaṃ vā, bhikkhave, pare avaṇṇaṃ bhāseyyun”tiādinā nayena bhagavatā nikkhittassa suttassa vaṇṇanāya okāso anuppatto. Sā panesā suttavaṇṇanā. yasmā suttanikkhepaṃ vicāretvā vuccamānā pākaṭā hoti, tasmā suttanikkhepaṃ tāva vicārayissāma. Cattāro hi suttanikkhepā — attajjhāsayo, parajjhāsayo, pucchāvasiko, aṭṭhuppattikoti.
  2. Bây giờ, đã đến lúc giảng giải bài kinh do Đức Thế Tôn thuyết giảng theo phương pháp bắt đầu bằng câu: “Này chư Tỳ khưu, những người khác có thể chê bai ta v.v.” Về phần giải thích bài kinh này, vì lời giảng sẽ trở nên sáng rõ khi được trình bày sau khi đã xem xét về duyên khởi thiết lập bài kinh, cho nên trước hết, chúng ta sẽ xem xét về các duyên khởi ấy. Thật vậy có bốn nguyên nhân để thiết thiết lập bài kinh – (1) Attajjhāsaya: Do tự thân (bậc Đạo sư) khởi ý. (2) Parajjhāsaya: Do người khác khởi ý. (3) Pucchāvasika: Do một câu hỏi.

(4) Aṭṭhuppattikoti: Do một sự kiện phát sinh.

Tattha yāni suttāni Bhagavā parehi anajjhiṭṭho kevalaṃ attano ajjhāsayeneva kathesi; seyyathidaṃ, ākaṅkheyyasuttaṃ, vatthasuttaṃ, mahāsatipaṭṭhānaṃ, mahāsaḷāyatanavibhaṅgasuttaṃ, ariyavaṃsasuttaṃ, sammappadhānasuttantahārako, iddhipādaindriyabalabojjhaṅgamaggaṅgasuttantahārakoti evamādīni; tesaṃ attajjhāsayo nikkhepo.

Trong các nguyên nhân đó những bài Kinh nào mà người khác không thỉnh cầu, đức Thế Tôn thuyết giảng toàn bộ dựa theo khuynh hướng của cá nhân; đó là, Kinh Ước Nguyện [Ākaṅkheyyasutta], Kinh Ví Dụ Tấm Vải [Vatthasuttaṃ], Đại Kinh Thiết Lập Niệm [Mahāsatipaṭṭhāna], Kinh Đại Kinh Phân Biệt Sáu Xứ [Mahāsaḷāyatanavibhaṅgasutta], Kinh Truyền Thống Bậc Thánh [Ariyavaṃsasutta], và phần của Kinh Tứ Chánh Cần, phần của Kinh Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Và Bát Chánh Đạo v.v, những bài Kinh đó gọi là có nhân được thiết lập do tự thân (bậc Đạo sư) khởi ý.

Yāni pana “paripakkā kho Rāhulassa vimuttiparipācaniyā dhammā; yaṃnūnāhaṃ Rāhulaṃ uttariṃ āsavānaṃ khaye vineyyan”ti230[124]; eEvaṃ paresaṃ ajjhāsayaṃ khantiṃ manaṃ abhinīhāraṃ bujjhanabhāvañca avekkhitvā parajjhāsayavasena kathitāni; Seyyathidaṃ, Cūḷarāhulovādasuttaṃ, Mahārāhulovādasuttaṃ, Dhammacakkappavattanaṃ, Dhātuvibhaṅgasuttanti evamādīni; tesaṃ parajjhāsayo nikkhepo.

Hơn nữa, những bài Kinh nào đức Thế Tôn thuyết do tác động khuynh hướng của người khác, sau khi quan sát khuynh hướng sự mong mỏi, sự ưa thích, nguyện vọng và tính chất giác ngộ của người khác như vầy rằng: “Pháp làm cho sự giải thoát của Rāhula trở nên chín mùi, vậy Ta hãy hướng dẫn Rāhula thêm nữa pháp diệt trừ các lậu hoặc (saṃ. ni. 4.121).” Chẳng hạn như: Tiểu Kinh Giáo Giới Rāhula [Cūḷarāhulovāda], Đại Kinh Giáo Giới Rāhula [Mahārāhulovāda], Kinh Chuyển Pháp Luân [Dhammacakkappavattana], Kinh Phân Tích Giới [Dhātuvibhaṅga],; những bài Kinh đó gọi là có nhân được thiết lập do người khác khởi ý.

Bhagavantaṃ pana upasaṅkamitvā catasso parisā, cattāro vaṇṇā, nāgā, supaṇṇā, gandhabbā, asurā, yakkhā, mahārājāno, tāvatiṃsādayo devā, mahābrahmāti evamādayo — “bojjhaṅgā bojjhaṅgā”ti, bhante, vuccanti231[125]. “Nīvaraṇā nīvaraṇā”ti, bhante, vuccanti; “ime nu kho, bhante, pañcupādānakkhandhā”. “Kiṃ sūdha vittaṃ purisassa seṭṭhan”tiādinā232[126] nayena pañhaṃ pucchanti. Evaṃ puṭṭhena bhagavatā yāni kathitāni bojjhaṅgasaṃyuttādīni, yāni vā panaññānipi devatāsaṃyutta-mārasaṃyutta-brahmasaṃyutta-sakkapañha-cūḷavedalla-mahāvedalla-sāmaññaphala-āḷavaka-sūciloma-kharalomasuttādīni; tesaṃ pucchāvasiko nikkhepo.

Lại nữa, khi bốn hội chúng, bốn giai cấp, các loài rồng, Nhân-điểu, Càn-thát-bà, A-tu-la, Dạ-xoa, Tứ đại Thiên vương, chư Thiên cõi trời Đao lợi v.v, Đại Phạm thiên sau khi đến gần đức Thế Tôn và hỏi những câu hỏi theo phương cách như sau – “Kính bạch đức Thế Tôn được gọi là ‘Các chi phần giác ngộ, các chi phần giác ngộ’. Kính bạch ngài, được gọi là ‘các pháp ngăn che, các pháp ngăn che’. “Như vậy, kính bạch đức Thế Tôn sự chấp thủ vào năm uẩn trong đời này”. “Điều gì là tài sản quý giá nhất của loài người”. Khi được hỏi như vậy, đức Thế Tôn thuyết giảng về Tương Ưng Giác Chi v.v, hoặc các bài Kinh khác như Tương Ưng Chư Thiên, Tương Ưng Ác Ma, Tương Ưng Phạm Thiên, Kinh Đế Thích Sở Vấn, Kinh Tiểu Phương Quảng [Cūḷavedalla], Kinh Đại Phương Quảng [Mahāvedalla], Kinh Sa-môn Quả, Kinh Āḷavaka, Kinh Sūciloma, Kinh Kharaloma v.v, những bài Kinh đó gọi là có nhân được thiết lập do một câu hỏi.

Yāni pana tāni uppannaṃ kāraṇaṃ paṭicca kathitāni, seyyathidaṃ — Dhammadāyādaṃ, Cūḷasīhanādaṃ, Candūpamaṃ233[127], Puttamaṃsūpamaṃ, Dārukkhandhūpamaṃ, Aggikkhandhūpamaṃ, Pheṇapiṇḍūpamaṃ, Pāricchattakūpamanti evamādīni; tesaṃ aṭṭhuppattiko nikkhepo.

Lại nữa, ở đây những bài Kinh nào mà đức Thế Tôn dựa vào lý do đã khởi lên rồi mới thuyết giảng, chẳng hạn như: Kinh Dhammadāyāda, Kinh Cūḷasīhanāda, Kinh Candūpama, Kinh Puttamaṃsūpama, Kinh Dārukkhandhūpama, Kinh Aggikkhandhūpama, Kinh Pheṇapiṇḍūpama, Kinh Pāricchattakūpama; Những bài kinh đó gọi là có nhân được thiết lập do một sự kiện phát sinh.

Evametesu catūsu nikkhepesu imassa suttassa aṭṭhuppattiko nikkhepo. aṭṭhuppattiyā hi234[128] idaṃ bhagavatā nikkhittaṃ. Katarāya aṭṭhuppattiyā? Vaṇṇāvaṇṇe. Ācariyo ratanattayassa avaṇṇaṃ abhāsi, antevāsī vaṇṇaṃ. Iti imaṃ vaṇṇāvaṇṇaṃ aṭṭhuppattiṃ katvā desanākusalo Bhagavā — “mamaṃ vā, bhikkhave, pare avaṇṇaṃ bhāseyyun”ti desanaṃ ārabhi. Tattha mamanti, sāmivacanaṃ, mamāti attho. Vā-saddo vikappanattho. Pareti, paṭiviruddhā sattā. Tatrāti ye avaṇṇaṃ vadanti tesu.

Trong số bốn nhân được thiết lập như đã giải thích này thì bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng có nhân được thiết lập do một sự kiện phát sinh. Bởi vì Đức Thế Tôn đã thuyết giảng bài kinh này nhân một sự kiện cụ thể. Nhân sanh khởi như thế nào? Sự kiện đó là gì? Là việc khen và chê. Vị thầy đã nói lời chê bai Tam Bảo, còn người đệ tử thì nói lời tán thán. Như vậy, lấy việc khen-chê này làm duyên khởi, Đức Thế Tôn, bậc thiện xảo trong thuyết giảng, đã bắt đầu bài pháp: – “Này chư Tỳ khưu, những người khác có thể nói lời chê bai ta v.v.” Ở đây ‘mamaṃ’ là Sở Hữu Cách [Chaṭṭhīvibhatti] đồng nghĩa với ‘mama'. Từ ‘vā’ có nghĩa là sự tách rời ‘hoặc’. Người khác: những chúng sanh khác là kẻ thù nghịch. Những người đó: trong nhóm người nói lời chỉ trích ấy.

Na āghātotiādīhi kiñcāpi tesaṃ bhikkhūnaṃ āghātoyeva natthi, atha kho āyatiṃ kulaputtānaṃ īdisesupi ṭhānesu akusaluppattiṃ paṭisedhento dhammanettiṃ ṭhapeti. Tattha āhanati cittanti ‘āghāto’; kopassetaṃ adhivacanaṃ. Appatītā honti tena atuṭṭhā asomanassikāti appaccayo; domanassassetaṃ adhivacanaṃ. Neva attano na paresaṃ hitaṃ abhirādhayatīti anabhiraddhi; kopassetaṃ adhivacanaṃ. Evamettha dvīhi padehi saṅkhārakkhandho, ekena vedanākkhandhoti dve khandhā vuttā. Tesaṃ vasena sesānampi sampayuttadhammānaṃ kāraṇaṃ paṭikkhittameva.

Chớ có sự căm hận v.v, dù các Tỳ-kheo ấy không hề có sân hận, Đức Thế Tôn vẫn thiết lập một nguyên tắc của Pháp (dhammanetti) nhằm ngăn chặn sự phát sinh của bất thiện tâm nơi các thiện nam tử trong tương lai, ngay cả trong những hoàn cảnh tương tự. Ở đây, ‘sự căm hận’ (āghāta) được gọi vậy vì nó "đánh vào tâm" (āhanati cittaṃ). Đây là một tên gọi khác của kopa (sự phẫn nộ). Sự bất mãn (Appaccayo): được gọi vậy vì nó khiến người ta "không hài lòng, không vừa ý, không hoan hỷ". Đây là một tên gọi khác của domanassa (ưu sầu, khổ tâm). Sự không hài lòng (Anabhiraddhi): không hoan hỷ lợi ích cho mình, mà cũng không hoan hỷ lợi ích cho người khác. Từ này là tên gọi của sự phẫn nộ (kopa). Như vậy, ở đây, hai uẩn đã được đề cập đến: Hành uẩn (qua hai thuật ngữ āghāta và anabhiraddhi) và Thọ uẩn (qua thuật ngữ appaccayo). Qua việc loại trừ các tâm sở này, nguyên nhân phát sinh của các pháp tương ưng còn lại cũng mặc nhiên bị loại trừ.

Evaṃ paṭhamena nayena manopadosaṃ nivāretvā, dutiyena nayena tattha ādīnavaṃ dassento āha — “tatra ce tumhe assatha kupitā vā anattamanā vā, tumhaṃ yevassa tena antarāyo”ti. Tattha ‘tatra ce tumhe assathā’ ’ti tesu avaṇṇabhāsakesu, tasmiṃ vā avaṇṇe tumhe bhaveyyātha ce; yadi bhaveyyāthāti attho. ‘Kupitā’ kopena, anattamanā domanassena. ‘Tumhaṃ yevassa tena antarāyo’ ’ti tumhākaṃyeva tena kopena, tāya ca anattamanatāya paṭhamajjhānādīnaṃ antarāyo bhaveyya.

Như vậy, sau khi đã ngăn chặn sự bất bình của tâm theo cách thứ nhất, Ngài chỉ ra lỗi nguy hiểm của nó theo cách thứ hai và dạy rằng: “Nếu như các ngươi trở nên bực tức, hoặc không hoan hỷ đối với những kẻ ấy, sự chướng ngại có thể xuất hiện cho chính các ngươi.” Ở đây, “nếu như các ngươi trở nên bực tức”: có nghĩa là, "nếu các ngươi trở nên [sân hận hay bất mãn] đối với những người nói lời chê bai ấy, hoặc đối với chính lời chê bai ấy". Kupitā (sân hận) là do kopa (sự phẫn nộ); anattamanā (bất mãn) là do domanassa (ưu sầu). ‘sự chướng ngại có thể xuất hiện cho các ngươi do chính nguyên nhân ấy’: có nghĩa là, chính vì sự sân hận và bất mãn ấy mà một chướng ngại sẽ khởi lên cho các ngươi (trên con đường tu tập) như Sơ thiền v.v.

Evaṃ dutiyena nayena ādīnavaṃ dassetvā, tatiyena nayena vacanatthasallakkhaṇamattepi asamatthataṃ dassento — “Api nu tumhe paresan”tiādimāha. Tattha paresanti yesaṃ kesaṃ ci. Kupito hi neva buddhapaccekabuddhāriyasāvakānaṃ, na mātāpitūnaṃ, na paccatthikānaṃ subhāsita-dubbhāsitassa atthaṃ ājānāti. Yathāha —

Kuddho atthaṃ na jānāti, kuddho dhammaṃ na passati. Andhaṃ tamaṃ tadā hoti, yaṃ kodho sahate naraṃ.

Anatthajanano kodho, kodho cittappakopano.

Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhatī”ti.235[129]

Sau khi chỉ ra lỗi nguy hiểm theo cách thứ hai như vậy, Ngài tiếp tục theo cách thứ ba để chỉ ra rằng (người sân hận) ngay cả đến việc nhận biết ý nghĩa của lời nói cũng không thể làm được, và dạy rằng: “Các ông có thể nhận biết điều đã được nói đúng, điều đã được nói sai của những kẻ khác không?” Ở đây, ‘của những kẻ khác’ có nghĩa là của bất kỳ ai. Thật vậy, người sân hận không thể biết được ý nghĩa lời nói đúng hay sai của bất kỳ ai, dù là của một vị Phật, một vị Phật Độc Giác, một vị Thánh Thinh Văn, của cha mẹ, hay của kẻ đối nghịch. Như có lời dạy rằng:

Người bị nóng giận không biết được sự lợi ích, người bị nóng giận không nhìn thấy lý lẽ. Sự nóng giận chi phối người nào, ngay lập tức sự mù quáng tối tăm hiện diện.

Sân sản sinh ra điều không lợi ích, sân tạo ra sự rối loạn của tâm. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong.

Evaṃ sabbathāpi avaṇṇe manopadosaṃ nisedhetvā idāni paṭipajjitabbākāraṃ dassento — “tatra tumhehi abhūtaṃ abhūtato”tiādimāha.

Như vậy, sau khi đã ngăn chặn sự bất bình của tâm trước lời chê bai bằng mọi cách, giờ đây, để chỉ ra cách thức nên thực hành, Ngài dạy rằng: “Trong trường hợp ấy các ngươi nên giải thích rõ ràng rằng điều không đúng là không đúng”.

Tattha tatra tumhehīti, tasmiṃ avaṇṇe tumhehi. Abhūtaṃ abhūtato nibbeṭhetabbanti yaṃ abhūtaṃ, taṃ abhūtabhāveneva apanetabbaṃ. Kathaṃ?Itipetaṃ abhūtantiādinā nayena. Tatrāyaṃ yojanā — “Tumhākaṃ satthā na sabbaññū, dhammo durakkhāto, saṅgho duppaṭipanno”tiādīni sutvā na tuṇhī bhavitabbaṃ. Evaṃ pana vattabbaṃ — “iti petaṃ abhūtaṃ, yaṃ tumhehi vuttaṃ, taṃ imināpi kāraṇena abhūtaṃ, imināpi kāraṇena atacchaṃ, ‘natthi cetaṃ amhesu’, ‘na ca panetaṃ amhesu saṃvijjati’, sabbaññūyeva amhākaṃ satthā, svākkhāto dhammo, suppaṭipanno saṅgho, tatra idañcidañca kāraṇan”ti. Ettha ca dutiyaṃ padaṃ paṭhamassa, catutthañca tatiyassa vevacananti veditabbaṃ. idañca avaṇṇeyeva nibbeṭhanaṃ kātabbaṃ, na sabbattha. yadi hi “tvaṃ dussīlo, tavācariyo dussīlo, idañcidañca tayā kataṃ, tavācariyena katan”ti vutte tuṇhībhūto adhivāseti, āsaṅkanīyo hoti.

Tasmā manopadosaṃ akatvā avaṇṇo nibbeṭhetabbo. “oṭṭhosi, goṇosī”tiādinā236[130] pana nayena dasahi akkosavatthūhi akkosantaṃ puggalaṃ ajjhupekkhitvā adhivāsanakhantiyeva tattha kātabbā.

Ở đây, trong trường hợp ấy (những lời chê bái ấy) các ngươi: có nghĩa là "đối với lời chê bai ấy, các ngươi...". Các ngươi nên giải thích rõ ràng điều không đúng là không đúng: điều gì không có thật thì phải được gỡ bỏ (phản bác) đúng với bản chất không thật của nó. Bằng cách nào? Theo phương pháp sau đây: “điều ấy như thế là không đúng”.

Sự áp dụng ở đây như sau: Khi nghe những lời như "Bậc Đạo Sư của các ông không phải là bậc Toàn Giác, Giáo Pháp không được khéo thuyết, Tăng chúng thực hành không đúng đắn", v.v., các ngươi không nên im lặng. Thay vào đó, phải nói như sau: "Điều các ông nói đó là không thật. Vì lý do này, nó là không thật; vì lý do này, nó là không đúng. Điều đó không có nơi chúng tôi, và nó cũng không tồn tại nơi chúng tôi. Bậc Đạo Sư của chúng tôi chính là bậc Toàn Giác, Giáo Pháp đã được khéo thuyết, Tăng chúng đã khéo thực hành, và đây là những lý do cụ thể..."

Ở đây, nên hiểu rằng vế thứ hai (atacchaṃ - không đúng) là đồng nghĩa với vế thứ nhất (abhūtaṃ - không thật), và vế thứ tư (na ca panetaṃ amhesu saṃvijjati - nó không tồn tại nơi chúng tôi) là đồng nghĩa với vế thứ ba (natthi cetaṃ amhesu - điều đó không có nơi chúng tôi).

Và việc tháo gỡ (nibbeṭhana) này chỉ nên làm đối với lời chê bai (avaṇṇa) mà thôi, không phải trong mọi trường hợp. Bởi vì nếu có người nói: “Ngươi là ác giới; thầy của ngươi là ác giới; việc này việc kia do ngươi làm; việc này việc kia do thầy ngươi làm”, mà mình im lặng chấp nhận, thì đáng lo ngại (có thể bị hiểu là thừa nhận). Do vậy, phải tháo gỡ lời chê bai ấy mà không khởi tâm bất bình. Còn với hạng người mắng nhiếc theo mười đề mục mắng chửi (dasā akkosavatthu), theo kiểu “"Ngươi là đồ con lạc đà, ngươi là đồ con bò!” v.v., thì nên làm ngơ mà thực hành kham nhẫn chấp thọ (adhivāsana-khanti) ở đó.

  1. Evaṃ avaṇṇabhūmiyaṃ tādilakkhaṇaṃ dassetvā idāni vaṇṇabhūmiyaṃ dassetuṃ “mamaṃ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṃ bhāseyyun”tiādimāha. Tattha pareti ye keci pasannā devamanussā. Ānandanti etenāti ānando, pītiyā etaṃ adhivacanaṃ. Sumanassa bhāvo somanassaṃ, cetasikasukhassetaṃ adhivacanaṃ. Uppilāvino237[131] bhāvo uppilāvitattaṃ. Kassa uppilāvitattanti? Cetasoti. Uddhaccāvahāya uppilāpanapītiyā etaṃ adhivacanaṃ. Idhāpi238[132] dvīhi padehi saṅkhārakkhandho, ekena vedanākkhandho vutto.
  2. Đức Thế Tôn khi thuyết giảng tướng trạng của hạng người ở địa vị chê bai như vậy, bây giờ có ý muốn thuyết giảng tướng trạng của hạng người ở địa vị ca ngợi, đã nói rằng “Này chư Tỳ khưu, nếu những kẻ khác ca ngợi ta v.v.” Ở đây, ‘những kẻ khác’ gồm bất cứ chư Thiên và nhân loại nào có lòng tịnh tín. “Ānanda”: do điều này mà hân hoan khởi lên, nên gọi là hỷ; đây là tên gọi khác của pīti. “Somanassa”: là trạng thái tâm hoan hỷ; đây là tên gọi khác của lạc tâm sở (cetasika-sukha). “Uppilāvitatta”: là trạng thái phấn khích, rộn ràng. Cái gì phấn khích? Tâm. Đây là tên gọi khác của thứ hỷ khiến tâm sôi động, có khuynh hướng dẫn đến phóng dật (tương ưng với tâm phóng dật). Trong đoạn này, bằng hai từ chỉ hỷ (pīti) nói đến Hành uẩn; bằng một từ chỉ lạc tâm (somanassa) nói đến Thọ uẩn.

Evaṃ paṭhamanayena uppilāvitattaṃ nivāretvā, dutiyena tattha ādīnavaṃ dassento — “Tatra ce tumhe assathā”tiādimāha. Idhāpi tumhaṃ yevassa tena antarāyoti tena uppilāvitattena tumhākaṃyeva paṭhamajjhānādīnaṃ antarāyo bhaveyyāti239[133] attho veditabbo. Kasmā panetaṃ vuttaṃ? Nanu bhagavatā —

Buddhoti kittayantassa, kāye240[134] bhavati yā pīti. Varameva hi sā pīti, kasiṇenāpi jambudīpassa.

Dhammoti kittayantassa, kāye bhavati yā pīti. Varameva hi sā pīti, kasiṇenāpi jambudīpassa. Saṅghoti kittayantassa, kāye bhavati yā pīti.

Varameva hi sā pīti, kasiṇenāpi jambudīpassā”ti ca.

Đức Thế Tôn khi ngăn chặn sự phấn khích theo cách thứ nhất như vậy, để thuyết giảng lỗi lầm đó theo cách thứ hai đã nói rằng – “Nếu các ông trở nên có sự vui mừng, có sự thích ý, có sự phấn khởi trong lời ca ngợi ấy, do điều ấy có thể xuất hiện sự chướng ngại cho chính các ông”. Ngay cả trong trường hợp này cũng nên hiểu ý nghĩa do trạng thái phấn khích rộn ràng ấy, sẽ có chướng ngại đối với Sơ thiền v.v. của chính các ông. Vì sao lại nói như vậy? Há chẳng phải Thế Tôn đã dạy:

Khi xưng tán ‘Buddho’, nơi thân khởi lên hỷ lạc;

và hỷ ấy thật thù thắng, hơn cả khi tu tập toàn bộ cõi Jambudīpa bằng kasiṇa. 

Khi xưng tán ‘Dhammo’, nơi thân khởi lên hỷ lạc;

và hỷ ấy thật thù thắng, hơn cả khi tu tập toàn bộ cõi Jambudīpa bằng kasiṇa. 

Khi xưng tán ‘Saṅgho’, nơi thân khởi lên hỷ lạc;

và hỷ ấy thật thù thắng, hơn cả khi tu tập toàn bộ cõi Jambudīpa bằng kasiṇa.” 

Ye, bhikkhave, buddhe pasannā, agge te pasannā”ti241[135] ca evamādīhi anekasatehi suttehi ratanattaye pītisomanassameva vaṇṇitanti. Saccaṃ vaṇṇitaṃ, taṃ pana nekkhammanissitaṃ. Idha — “amhākaṃ buddho, amhākaṃ dhammo”tiādinā242[136] nayena āyasmato channassa uppannasadisaṃ gehassitaṃ pītisomanassaṃ adhippetaṃ. Idañhi jhānādipaṭilābhāya antarāyakaraṃ hoti. tenevāyasmā channopi yāva buddho na parinibbāyi, tāva visesaṃ nibbattetuṃ nāsakkhi, parinibbānakāle paññattena pana brahmadaṇḍena tajjito taṃ pītisomanassaṃ pahāya visesaṃ nibbattesi. tasmā antarāyakaraṃyeva sandhāya idaṃ vuttanti veditabbaṃ. Ayañhi lobhasahagatā243[137] pīti. lobho ca kodhasadisova. Yathāha —

Luddho atthaṃ na jānāti, luddho dhammaṃ na passati. Andhaṃ tamaṃ tadā hoti, yaṃ lobho sahate naraṃ.

Anatthajanano lobho, lobho cittappakopano244[138].

Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhatī”ti.245[139]

Và “này chư Tỳ khưu, người nào đặt niềm tin đối với đức Phật, người ấy gọi là đặt niềm tin vào đối tượng tối thượng”, ngài đã tán dương sự hân hoan (hỷ) và sự an vui (thọ hỷ) đối với Tam Bảo với hàng trăm bài Kinh bắt đầu như vậy không phải sao? Quả thật tán dương, tuy nhiên sự tán dương ấy là y chỉ trên xuất ly (nekkhamma-nissita). Còn ở đây, điều được nhắm đến là thứ hỷ-lạc mang tính tại gia (gehassita), giống như thứ đã khởi lên nơi Tôn giả Channa theo lối: “Buddho của ta, Dhammo của ta…” v.v. Chính thứ hỷ-lạc tại gia ấy gây chướng ngại cho việc chứng đắc thiền định v.v. Do vậy, ngay cả Tôn giả Channa cũng không thể phát sanh thắng trí cho đến khi Thế Tôn chưa nhập Niết-bàn; nhưng đến lúc Thế Tôn nhập Niết-bàn, sau khi bị cảnh tỉnh bằng hình phạt Phạm đàn (brahmadaṇḍa) đã được quy định, vị ấy từ bỏ thứ hỷ-lạc ấy rồi phát sanh thắng trí. Vì thế, nên hiểu rằng ở đây lời dạy được nói nhằm vào tính chất gây chướng ngại của (loại) hỷ-lạc này. Bởi lẽ, đây là thứ hỷ đi kèm với tham (lobha-sahagatā pīti); mà tham thì tương tự như sân về mặt tác hại. Như đã nói:

Người bị khởi tham không biết được sự lợi ích, người bị khởi tham không nhìn thấy lý lẽ. Khi tham ngự trị người nào, ngay lập tức người ấy bị mù quáng tối tăm. 

Tham sản sinh ra điều bất lợi, tham khiến cho tâm bị kích động. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong.”

Tatiyavāro pana idha anāgatopi atthato āgato yevāti veditabbo. yatheva hi kuddho, evaṃ luddhopi atthaṃ na jānātīti.

Còn về lượt thứ ba (tatiyavāra), tuy ở đây không được nói ra, nhưng về ý nghĩa thì vẫn đã được bao hàm: cũng như người sân không biết được nghĩa, thì người tham cũng vậy — không biết được nghĩa. 

Paṭipajjitabbākāradassanavāre panāyaṃ yojanā — “tumhākaṃ satthā sabbaññū arahaṃ sammāsambuddho, dhammo svākkhāto, saṅgho suppaṭipanno”tiādīni sutvā na tuṇhī bhavitabbaṃ. Evaṃ pana paṭijānitabbaṃ — “itipetaṃ bhūtaṃ, yaṃ tumhehi vuttaṃ, taṃ imināpi kāraṇena bhūtaṃ, imināpi kāraṇena tacchaṃ. So hi bhagavā itipi arahaṃ, itipi sammāsambuddho; dhammo itipi svākkhāto, itipi sandiṭṭhiko; saṅgho itipi suppaṭipanno, itipi ujuppaṭipanno”ti. “tvaṃ sīlavā”ti pucchitenāpi sace sīlavā, “sīlavāhamasmī”ti paṭijānitabbameva. “tvaṃ paṭhamassa jhānassa lābhī ... pe ... arahā”ti puṭṭhenāpi sabhāgānaṃ bhikkhūnaṃyeva paṭijānitabbaṃ. Evañhi pāpicchatā ceva parivajjitā hoti, sāsanassa ca amoghatā dīpitā hotīti. sesaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ.

Trong phần chỉ bày về cách thức nên thực hành, sự áp dụng (ý nghĩa) như sau: Khi nghe những lời như "Bậc Đạo Sư của các ông là bậc Toàn Giác, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; Giáo Pháp đã được khéo thuyết; Tăng chúng đã khéo thực hành", v.v., thì không nên im lặng. Mà nên xác nhận như vầy: "Điều đó là đúng sự thật. Điều các ông nói, vì lý do này là đúng, vì lý do này là chân xác. Quả vậy, Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, là bậc Chánh Đẳng Giác; Giáo Pháp là được khéo thuyết, là thiết thực hiện tại; Tăng chúng là khéo thực hành, là thực hành ngay thẳng". 

Ngay cả khi được hỏi: "Ông có phải là người có giới không?", nếu thực sự có giới, cũng nên xác nhận rằng: "Tôi là người có giới". Kể cả khi được hỏi: "Ông có phải là người đắc Sơ thiền không?... cho đến... Ông có phải là một vị A-la-hán không?", thì chỉ nên xác nhận với các vị Tỳ-khưu đồng hạnh mà thôi. 

Làm như vậy, một là tránh được ước muốn xấu xa (tức khoe khoang), hai là làm sáng tỏ được tính hiệu quả (không vô ích) của Giáo Pháp này. 

Phần còn lại nên được hiểu theo cách đã trình bày. 

246[29] Cakkadhamma: tức là bốn pháp đưa đến sự tăng trưởng điều lợi ích

  1. Paṭirūpadesavāsa: Cư trú ở trú xứ thích hợp, ở nơi có điều kiện làm thiện.
  2. Sappurisūpassaya: Thân cận bậc Chân nhân, gần gũi với bậc hiền trí.
  3. Attassammāpanidhi: Tự lập trường chân chánh, đặt mình theo lẽ chánh.
  4. Pubbekatapuññatā: Đã từng tạo phước thiện trong quá khứ 
 
Giải Thích Tiểu Giới
  1. Appamattakaṃ kho panetaṃ, bhikkhaveti ko247[1] anusandhi? Idaṃ suttaṃ dvīhi padehi ābaddhaṃ248[2] vaṇṇena ca avaṇṇena ca. Tattha avaṇṇo — “iti petaṃ abhūtaṃ iti petaṃ atacchan”ti, ettheva udakantaṃ patvā aggiviya nivatto. Vaṇṇo pana bhūtaṃ bhūtato paṭijānitabbaṃ — “iti petaṃ bhūtan”ti evaṃ anuvattatiyeva. So pana duvidho brahmadattena bhāsitavaṇṇo ca bhikkhusaṅghena acchariyaṃ āvusotiādinā nayena āraddhavaṇṇo ca. Tesu bhikkhusaṅghena vuttavaṇṇassa upari suññatāpakāsane anusandhiṃ dassessati. idha pana brahmadattena vuttavaṇṇassa anusandhiṃ dassetuṃ “appamattakaṃ kho panetaṃ, bhikkhave”ti desanā āraddhā.
  2. Sự tiếp nối bắt đầu như sau: “Này chư Tỳ khưu, trong lúc phàm phu nói lời ca ngợi Như Lai có thể nói đến chẳng qua là điều nhỏ nhặt, là điều quá thấp thỏi, chỉ thuộc cấp độ giới”, ám chỉ điều gì? Bài Kinh này đức Thế Tôn bắt đầu với 2 câu ‘việc ca ngợi và việc chê bai’. Ở đây, việc chê bai – “điều ấy như vậy là không đúng, điều ấy như thế là không xác thực”, lời nói đó liền bị dập tắt giống như lửa đã chạm phải nước. Còn việc ca ngợi cũng cần phải xác thực chắc chắn điều đúng là đúng (rằng) – “điều này như thế là đúng” hoàn toàn nương theo như vậy. Hơn nữa lời ca ngợi đó có hai cách là (1) lời tán thán của thanh niên trẻ Brahmadatta, và (2) lời tán tán của hội chúng Tỳ khưu ước muốn theo phương cách sau: “này các đại đức, thật là vi diệu”. Trong hai cách đó lời tán thán được hội chúng Tỳ khưu nói thì đức Thế Tôn sẽ trình bày sự tiếp nối vào lúc tuyên bố về ‘tánh không’ ở phần thượng. Nhưng trong trường hợp này muốn trình bày sự tiếp nối lời ca ngợi của thanh niên trẻ Brahmadatta mới bắt đầu thuyết rằng: “Này chư Tỳ khưu, trong lúc phàm phu nói lời ca ngợi Như Lai có thể nói đến chẳng qua là điều nhỏ nhặt, là điều quá thấp thỏi, chỉ thuộc cấp độ giới”.

Tattha appamattakanti parittassa nāmaṃ. Oramattakanti tasseva vevacanaṃ. Mattāti vuccati pamāṇaṃ. Appaṃ mattā etassāti appamattakaṃ. Oraṃ mattā etassāti oramattakaṃ. Sīlameva sīlamattakaṃ. Idaṃ vuttaṃ hoti — ‘appamattakaṃ kho, panetaṃ bhikkhave, oramattakaṃ sīlamattakaṃ’ nāma yena “tathāgatassa vaṇṇaṃ vadāmī”ti ussāhaṃ katvāpi vaṇṇaṃ vadamāno puthujjano vadeyyāti. Tattha siyā — nanu idaṃ sīlaṃ nāma yogino aggavibhūsanaṃ? yathāhu porāṇā —

Ở đây, điều nhỏ nhặt: để gọi những thứ nhỏ bé. Điều quá thấp thỏi: chỉ là từ đồng nghĩa với ‘điều nhỏ nhặt’. Kích cỡ được gọi là sự ước lượng. Gọi là có kích cỡ nhỏ bởi vì có sự ước lượng ít. Gọi là quá thấp thỏi bởi vì có sự đo lường thấp. Chỉ là giới, chính là giới. Điều này được nói là – “Này chư Tỳ khưu, điều đó quả thật là điều nhỏ nhặt, là điều thấp thỏi, chỉ thuộc cấp độ giới” điều mà phàm nhân trong lúc nói lời ca ngợi Như Lai dù đã thực hiện sự gắng sức, có thể nói “tôi (sẽ) nói lời tán thán Như Lai”. Trong câu đó nếu như có thể có câu hỏi rằng: – “Thông thường giới này làm phương tiện tô điểm tối thượng của hành giả không phải sao?” Như các bậc trưởng thượng đã nói –

Sīlaṃ yogissa’laṅkāro, sīlaṃ yogissa maṇḍanaṃ. Sīlehi’laṅkato249[3] yogī, maṇḍane aggataṃ gato”ti.

Bhagavatāpi ca anekesu suttasatesu sīlaṃ mahantameva katvā kathitaṃ. yathāha — “ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu ‘sabrahmacārīnaṃ piyo cassaṃ manāpo ca garu ca bhāvanīyo cā’ti, sīlesvevassa paripūrakārī”ti250[4] ca.

Giới hạnh là vật trang sức của hành giả, giới là vật điểm tô của hành giả. Hành giả được trang điểm bởi giới hạnh, đi đến bản thể tối thượng trong việc trang điểm ấy.

Thêm nữa, cả đức Thế Tôn cũng đã nói về giới được thực hành đưa đến vĩ đại ở trong hàng trăm bài Kinh. Như đã nói – “Này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu có ước nguyện: ‘Mong rằng ta được các đồng phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và tôn trọng!’, Tỳ khưu ấy phải thực hành viên mãn giới luật”.

Kikīva aṇḍaṃ, camarīva vāladhiṃ. Piyaṃva puttaṃ, nayanaṃva ekakaṃ. Tatheva sīlaṃ, anurakkhamānā.

Supesalā hotha, sadā sagāravā”ti ca.

Hoăc là, tựa như loài chim kikī bảo vệ trứng, tựa như loài bò xứ Tây Tạng bảo vệ cái đuôi, tựa như người bảo vệ đứa con trai yêu dấu, tựa như người bảo vệ con mắt độc nhất như thế nào, những người đang gìn giữ giới cũng tương tự y như thế, hãy là người có giới thật tốt đẹp, luôn luôn có sự tôn kính.

Na pupphagandho paṭivātameti. Na candanaṃ taggaramallikā251[5] vā. Satañca gandho paṭivātameti. Sabbā disā sappuriso pavāyati.

Hương thơm của bông hoa không bay ngược chiều gió, (hương thơm của) gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc hoa nhài cũng không. Nhưng hương thơm của bậc chân nhân bay ngược chiều gió, bậc chân nhân tỏa hương tất cả các phương (hương thơm giới hạnh).

Candanaṃ tagaraṃ252[6] vāpi, uppalaṃ atha vassikī. Etesaṃ gandhajātānaṃ, sīlagandho anuttaro.

Gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc hoa sen, cả hoa nhài, trong số các loại có hương thơm thì hương thơm của giới là vô thượng.

Appamatto ayaṃ gandho, yvāyaṃ tagaracandanaṃ253[7]. Yo ca sīlavataṃ gandho, vāti devesu uttamo.

Hương thơm này của gỗ tagara hay gỗ trầm có phẩm lượng ít ỏi, còn hương thơm của các bậc có giới hạnh là hương thơm tôi thượng lan tỏa giữa chư Thiên.

Tesaṃ sampannasīlānaṃ, appamādavihārinaṃ.

Sammadaññā vimuttānaṃ, māro maggaṃ na vindatī”ti ca254[8].

Đối với những vị có giới đã được viên mãn, đang sống với sự không xao lãng,

Đã được giải thoát nhờ vào hiểu biết chân chánh, Ma Vương không tìm ra đạo lộ của những vị ấy.

Sīle patiṭṭhāya naro sapañño, cittaṃ paññañca bhāvayaṃ. Ātāpī nipako bhikkhu, so imaṃ vijaṭaye jaṭan”ti ca.255[9] Người có trí tuệ, đã đặt nền móng ở giới, tu tập tâm và tuệ.

Vị tỳ khưu tinh cần, có tuệ bảo vệ mình, vị ấy có thể gỡ ra mối rối này.

Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci bījagāmabhūtagāmā vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti, sabbe te pathaviṃ nissāya, pathaviyaṃ patiṭṭhāya; evamete bījagāmabhūtagāmā vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti. Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya sattabojjhaṅge bhāvento sattabojjhaṅge bahulīkaronto vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesū”ti256[10] ca. Evaṃ aññānipi anekāni suttāni daṭṭhabbāni. Evamanekesu suttasatesu sīlaṃ mahantameva katvā kathitaṃ. Taṃ “kasmā imasmiṃ ṭhāne appamattakan”ti āhāti? Upari guṇe upanidhāya. sīlañhi samādhiṃ na pāpuṇāti, samādhi paññaṃ na pāpuṇāti, tasmā uparimaṃ upanidhāya heṭṭhimaṃ oramattakaṃ nāma hoti.

Hoặc là, “Này các Tỳ khưu, cũng giống như các loại hạt giống, các loại thảo mộc này được lớn lên, sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh là vì tất cả chúng đều y cứ vào đất, nương tựa vào đất. Nhờ vậy các loại hạt giống, các loại thảo mộc này được sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh. Này các Tỳ khưu, tương tự y như thế, sau khi nương tựa vào giới sau khi thiết lập ở giới, vị Tỳ khưu tu tập Thất Giác Chi, làm cho sung mãn Thất Giác Chi đạt đến sự phát triển, sự tăng trưởng, và sự lớn mạnh trong các Pháp. Kể cả những bài Kinh khác không phải ít cũng nên hiểu như vậy. Đức Thế Tôn đã thuyết về Giới, thực hiện cho lớn mạnh ngay trong hàng trăm bài Kinh như vậy không phải sao, nhưng tại sao trong trường hợp này ngài lại nói về Giới rằng ‘là nhỏ nhặt’? Để so sánh với ân đức cao hơn. Bởi vì Giới vẫn chưa đạt đến Định, Định vẫn chưa đạt đến Tuệ, vì thế so sánh với ân đức cao hơn nữa, Giới thuộc phần hạ mới gọi là ‘thấp thỏi’.

Kathaṃ sīlaṃ samādhiṃ na pāpuṇāti? bhagavā hi abhisambodhito sattame saṃvacchare sāvatthinagara — dvāre kaṇḍambarukkhamūle dvādasayojane ratanamaṇḍape yojanappamāṇe ratanapallaṅke nisīditvā tiyojanike dibbasetacchatte dhāriyamāne dvādasayojanāya parisāya attādānaparidīpanaṃ titthiyamaddanaṃ — “uparimakāyato aggikkhandho pavattati, heṭṭhimakāyato udakadhārā pavattati ... pe ... ekekalomakūpato aggikkhandho pavattati, ekekalomakūpato udakadhārā pavattati, channaṃ vaṇṇānan”tiādinayappavattaṃ yamakapāṭihāriyaṃ dasseti. Tassa suvaṇṇavaṇṇasarīrato suvaṇṇavaṇṇā rasmiyo uggantvā yāva bhavaggā gacchanti, sakaladasasahassacakkavāḷassa alaṅkaraṇakālo viya hoti, dutiyā dutiyā rasmiyo purimāya purimāya yamakayamakā viya257[11] ekakkhaṇe viya pavattanti.

Giới vẫn chưa đạt đến Định là (có ý nghĩa) như thế nào? Vì đức Thế Tôn vào năm thứ bảy kể từ khi giác ngộ đã ngự trên Bảo Thạch Tọa có kích thước một do-tuần, bên trong mái che bằng châu báu có kích thước mười hai do-tuần tại gốc cây kaṇḍamba ở gần cổng thành Sāvatthī khi các Thiên nhân trong lúc cầm che cây lọng trắng thuộc cõi trời có kích thước ba do-tuần (ngài) đã thị hiện Song Thông để nhiếp phục hàng ngoại đạo giảng giải rõ ràng của việc đích thân (thị hiện Song Thông) trong hội chúng khoảng chừng mười hai do tuần, tức là thị hiện Song Thông vận hành theo cách thức sau: “Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía trên, phát ra dòng nước từ phần thân phía dưới …nt… phát ra khối lửa từ mỗi một lỗ chân lông, phát ra dòng nước từ mỗi một lỗ chân lông, có hào quang sáu màu258[12]”. Hào quang có màu sắc hoàng kim phát ra từ kim thân có màu sắc tựa như màu vàng rồng của đức Thế Tôn lan tỏa đến cõi trời cao nhất y như thể thời gian trang hoàng toàn bộ mười ngàn thế giới. Hào quang lần thứ hai với lần thứ nhất giống nhau thành từng đôi từng đôi phát ra trong cùng một sát-na.

Dvinnañca cittānaṃ ekakkhaṇe pavatti nāma natthi. buddhānaṃ pana bhagavantānaṃ bhavaṅgaparivāsassa lahukatāya pañcahākārehi āciṇṇavasitāya ca, tā ekakkhaṇe viya pavattanti. Tassā tassā pana rasmiyā āvajjanaparikammādhiṭṭhānāni visuṃ visuṃyeva.

Không thể gọi 2 tam sanh khởi trong một sát-na được. Tuy nhiên chư Phật có việc nghỉ ngơi tâm hộ kiếp nhanh chóng, và có sự thiện xảo được huân tập bởi 5 biểu hiện - ākāra ấy, những hào quang ấy phát ra y như trong cùng một sát-na. Nhưng những hào quang đó vẫn có Hướng Tâm - Āvajjana, Chuẩn Bị - Parikamma, Quyết Định - Adhiṭṭhāna được tách rời riêng biệt.

Nīlarasmiatthāya hi Bhagavā nīlakasiṇaṃ samāpajjati, pītarasmiatthāya pītakasiṇaṃ, lohitaodātarasmiatthāya lohitaodātakasiṇaṃ, aggikkhandhatthāya tejokasiṇaṃ, udakadhāratthāya āpokasiṇaṃ samāpajjati. Satthā caṅkamati, nimmito tiṭṭhati vā nisīdati vā seyyaṃ vā kappetīti259[13] sabbaṃ vitthāretabbaṃ. Ettha ekampi sīlassa kiccaṃ natthi, sabbaṃ samādhikiccameva. Evaṃ sīlaṃ samādhiṃ na pāpuṇāti.

Thật vậy, đức Thế Tôn có ý muốn hào quang màu xanh, ngài thể nhập vào biến xứ xanh; có ý muốn hào quang màu vàng, ngài thể nhập vào biến xứ vàng; có ý muốn hào quang màu đỏ và trắng, ngài thể nhập vào biến xứ đỏ, biến xứ trắng; có ý muốn phát ra lửa, ngài thể nhập vào biến xứ lửa; có ý muốn phát ra dòng nước, ngài thể nhập vào biến xứ nước. Bậc Đạo đi kinh hành thì hình biến hóa cũng ở tư thế đứng, hoặc tư thế ngồi, hoặc nằm. Bậc trí nên giải thích chi tiết tất cả các câu theo cách này. Trong trường hợp này phận sự của Giới dù chỉ một chút cũng không có, tất cả đều là phận sự của Định. Giới không đạt đến Định là (có ý nghĩa) như thế.

Yaṃ pana bhagavā kappasatasahassādhikāni cattāri asaṅkhyeyyāni pāramiyo pūretvā, ekūnatiṃsavassakāle Cakkavattisirīnivāsabhūtā bhavanā nikkhamma Anomānadītīre pabbajitvā, chabbassāni padhānayogaṃ katvā, Visākhapuṇṇamāyaṃ Uruvelagāme Sujātāya dinnaṃ pakkhittadibbojaṃ madhupāyāsaṃ paribhuñjitvā, Sāyanhasamaye dakkhiṇuttarena bodhimaṇḍaṃ pavisitvā assatthadumarājānaṃ tikkhattuṃ padakkhiṇaṃ katvā, pubbuttarabhāge ṭhito tiṇasanthāraṃ santharitvā, tisandhipallaṅkaṃ ābhujitvā, caturaṅgasamannāgataṃ mettākammaṭṭhānaṃ pubbaṅgamaṃ katvā, vīriyādhiṭṭhānaṃ adhiṭṭhāya, cuddasahatthapallaṅkavaragato suvaṇṇapīṭhe ṭhapitaṃ260[14] rajatakkhandhaṃ viya paññāsahatthaṃ bodhikkhandhaṃ piṭṭhito katvā, upari maṇichattena viya bodhisākhāya dhāriyamāno, suvaṇṇavaṇṇe cīvare pavāḷasadisesu bodhiaṅkuresu patamānesu, sūriye atthaṃ upagacchante mārabalaṃ vidhamitvā, paṭhamayāme pubbenivāsaṃ anussaritvā, majjhimayāme dibbacakkhuṃ visodhetvā, paccūsakāle sabbabuddhānamāciṇṇe paccayākāre ñāṇaṃ otāretvā, ānāpānacatutthajjhānaṃ nibbattetvā, tadeva pādakaṃ katvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā, maggapaṭipāṭiyā adhigatena catutthamaggena sabbakilese khepetvā sabbabuddhaguṇe paṭivijjhi, idamassa paññākiccaṃ. Evaṃ samādhi paññaṃ na pāpuṇāti.

Hơn nữa, điều mà đức Thế Tôn sau khi tròn đủ Ba-la-mật suốt bốn a-tăng-kỳ với một trăm ngàn kiếp, vào năm hai mươi chín tuổi ngài đã rời khỏi cung điện nguy nga của vua Chuyển Luân để đi xuất gia ở bờ sông Anomā, đã thực hành sự nỗ lực tinh tấn suốt sáu năm, khi đến ngày trăng tròn Visākha ngài đã thọ dụng món cơm sữa được trộn với dưỡng chất ở cõi trời mà nàng Sujāta trong làng Uruvela cúng dường, vào buổi chiều ngài đến khuôn viên cội Bồ-đề ở hướng Nam và hướng Bắc, đã nhiễu quanh cây Bồ-đề ba lần, rồi đứng về hướng Đông Bắc, đã trải ra nắm cỏ, đã ngồi với tư thế kiết già thực hành đề mục tâm từ hội đủ với bốn yếu tố làm nền tảng, đã chú nguyện xác định sự tinh tấn, ngài đã bước lên Bồ Đoàn quý báu cao 14 cánh tay, dựa phần lưng hướng về phía thân cây Bồ-đề cao 50 cánh tay, như thể cây bạc được đặt ở trên ghế vàng, ở bên trên được các nhánh cây Bồ-đề che chắn như thể cây lọng được tạc bằng ngọc ma-ni, có các chồi non Bồ-đề như thể những viên ngọc san hô rơi xuống chiếc y có màu sắc như màu hoàng kim, vào lúc mặt trời gần sắp lặn ngài đã chế ngự được Ác Ma và đạo binh của Ác Ma, ngài đã chứng đạt Túc Mạng Minh vào canh đầu, đã làm trong sạch thiên nhãn vào canh giữa, khi trời gần sáng ngài đã mang trí tuệ vào trong Duyên Khởi - Paccayākāra mà tất cả chư Phật Toàn Giác đã thực hành, khiến Tứ thiền có đề mục niệm hơi thở làm đối tượng sanh khởi, làm cho Tứ thiền trở thành nền tảng để phát triển Minh Sát, ngài đã làm cạn kiệt hết tất cả phiền não bằng Thánh Đạo thứ 4 (A-ra-hán Đạo) mà ngài đã chứng đắc theo tuần tự của Đạo, thấu triệt toàn bộ ân đức Phật, đây là phận sự của Tuệ. Định không đạt đến Tuệ là (có ý nghĩa) như vậy.

Tattha yathā hatthe udakaṃ pātiyaṃ udakaṃ na pāpuṇāti, pātiyaṃ udakaṃ ghaṭe udakaṃ na pāpuṇāti, ghaṭe udakaṃ kolambe udakaṃ na pāpuṇāti, kolambe udakaṃ cāṭiyaṃ udakaṃ na pāpuṇāti, cāṭiyaṃ udakaṃ mahākumbhiyaṃ udakaṃ na pāpuṇāti, mahākumbhiyaṃ udakaṃ kusobbhe udakaṃ na pāpuṇāti, kusobbhe udakaṃ kandare udakaṃ na pāpuṇāti, kandare udakaṃ kunnadiyaṃ udakaṃ na pāpuṇāti, kunnadiyaṃ udakaṃ pañcamahānadiyaṃ udakaṃ na pāpuṇāti, pañcamahānadiyaṃ udakaṃ cakkavāḷamahāsamudde udakaṃ na pāpuṇāti, cakkavāḷamahāsamudde udakaṃ sinerupādake mahāsamudde udakaṃ na pāpuṇāti. pātiyaṃ udakaṃ upanidhāya hatthe udakaṃ parittaṃ ... pe ... sinerupādakamahāsamudde udakaṃ upanidhāya cakkavāḷamahāsamudde udakaṃ parittaṃ261[15]. Iti uparūpari udakaṃ bahukaṃ upādāya heṭṭhā heṭṭhā udakaṃ parittaṃ hoti.

Trong trường hợp ấy thì nước ở trong lòng bàn tay không đạt đến (bằng) nước ở trong cái mâm, nước trong cái mâm không đạt đến (bằng) nước ở trong cái bình, nước trong cái bình không đạt đến (bằng) nước ở trong cái chĩnh, nước trong cái chĩnh không đạt đến (bằng) nước ở trong cái chum, nước trong cái chum không đạt đến (bằng) nước ở trong cái lu, nước trong cái lu không đạt đến (bằng) nước ở trong cái hồ, nước trong cái hồ không đạt đến (bằng) nước ở trong con suối, nước trong con suối không đạt đến (bằng) nước ở trong dòng sông nhỏ, nước trong dòng sông nhỏ không đạt đến (bằng) nước ở trong năm con sông lớn, nước trong năm con sông lớn không đạt đến (bằng) nước ở trong đại dương thế giới, nước trong đại dương thế giới không đạt đến (bằng) nước ở trong đại dương ở chân núi Suneru, nước trong lòng bàn tay so sánh với nước trong cái mâm thì cũng ít ỏi …nt… nước trong đại dương thế giới so sánh với nước ở chân núi Suneru thì cũng ít ỏi, vì thế nước ban đầu đạt đến nhiều cũng vẫn là ít ỏi so với nước sau đó là như thế.

Evameva upari upari guṇe upādāya heṭṭhā heṭṭhā sīlaṃ appamattakaṃ oramattakanti veditabbaṃ. Tenāha — “appamattakaṃ kho panetaṃ, bhikkhave, oramattakaṃ sīlamattakan”ti.

Câu này so sánh như thế nào thì Giới ở phần dưới cũng so sánh tương tự như thế ấy, nên biết rằng ‘là nhỏ nhặt, là thấp thỏi’ bằng việc so sánh với ân đức cao hơn. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này chư Tỳ khưu, điều đó là nhỏ nhặt, điều đó là thấp thỏi, chỉ thuộc cấp độ giới”.

Giải Thích Từ ‘Phàm Nhân’

Yena puthujjanoti, ettha —

Duve puthujjanā vuttā, buddhenādiccabandhunā. Andho puthujjano eko, kalyāṇeko puthujjano”ti.

Tattha yassa khandhadhātuāyatanādīsu uggaha paripucchā savana dhāraṇa paccavekkhaṇāni natthi, ayaṃ andhaputhujjano. Yassa tāni atthi, so kalyāṇaputhujjano. duvidhopi panesa —

Puthūnaṃ jananādīhi, kāraṇehi puthujjano. Puthujjanantogadhattā, puthuvāyaṃ jano iti”.

So hi puthūnaṃ nānappakārānaṃ kilesādīnaṃ jananādīhi kāraṇehi puthujjano. yathāha –

Điều mà phàm nhân…, này –

“Đức Phật, bậc thân quyến của mặt trời đã nói có hai hạng phàm nhân, hạng thứ nhất là phàm nhân mù lòa, hạng còn lại là phàm nhân hiểu biết”

Trong hai hạng ấy thì phàm nhân không được học tập, vấn hỏi, lắng nghe, ghi nhớ và quán xét trong Uẩn, Giới và Xứ v.v, đây gọi là phàm nhân mù lòa. Phàm nhân có những phận sự đó gọi là phàm nhân hiểu biết. Hơn nữa, thêm hai hạng phàm nhân –

“Gọi là phàm nhân bởi các lý do sản sinh ra các ô nhiễm khác nhau, những người này là người dày đặc (phiền não) bởi vì có phiền não dày đặc chìm sâu ở bên trong.”

Thật vậy, phàm nhân ấy được gọi là phàm nhân bởi lý do sau: sản sinh ra các ô nhiễm khác nhau. Như vị Tướng quân Chánh pháp Sārīputta đã nói –

Puthu262[16] kilese janentīti puthujjanā, puthu avihatasakkāyadiṭṭhikāti puthujjanā, puthu satthārānaṃ mukhullokikāti puthujjanā, puthu sabbagatīhi avuṭṭhitāti puthujjanā, puthu nānābhisaṅkhāre abhisaṅkharontīti puthujjanā, puthu nānāoghehi vuyhanti, puthu santāpehi santappanti, puthu pariḷāhehi pariḍayhanti, puthu pañcasu kāmaguṇesu rattā giddhā gathitā263[17] mucchitā ajjhopannā264[18] laggā laggitā palibuddhāti puthujjanā, puthu pañcahi nīvaraṇehi āvutā nivutā ovutā265[19] pihitā paṭicchannā paṭikujjitāti puthujjanā”ti. Puthūnaṃ gaṇanapathamatītānaṃ ariyadhammaparammukhānaṃ nīcadhammasamācārānaṃ janānaṃ antogadhattāpi puthujjano, puthuvāyaṃ visuṃyeva saṅkhyaṃ gato visaṃsaṭṭho sīlasutādiguṇayuttehi ariyehi janehīti puthujjanoti.

‘do sản sinh ra các ô nhiễm khác nhau’ là phàm phu. ‘Do có sự nhận thức sai trái về thân chưa được phá tan’ là phàm phu. ‘Do tin theo nhiều vị thầy’ là phàm phu. ‘Do chưa thoát ra khỏi các cảnh giới tái sanh’ là phàm phu. ‘Do đã tạo ra các sự tạo tác khác nhau’ là phàm phu. ‘Do bị nhiều dòng lũ khác nhau cuốn trôi’ là phàm phu. ‘Do bị nóng nảy bởi nhiều sự nóng nảy khác nhau’ là phàm phu. ‘Do bị thiêu đốt bởi nhiều sự bực bội khác nhau’ là phàm phu. ‘Do bị luyến ái, bị thèm khát, bị buộc trói, bị mê mẩn, bị gần gũi, bị máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở năm loại dục’ là phàm phu. ‘Do bị bao bọc, bị bao trùm, bị bao kín, bị che lại, bị che kín, bị đậy kín bởi năm pháp ngăn che’ là phàm phu. Bởi đã ăn sâu vào bên trong của vô số người không sao đếm xuể tất cả đều quay lưng với Thánh Pháp chỉ thực hành theo Ác Pháp như thế cũng có. Do những người này là những người dày đặc (phiền não), tức là đi đến việc tính đếm (rằng) đây hoàn toàn là một nhóm riêng biệt, không liên quan gì đến các bậc Thánh nhân, những vị gắn liền với các ân đức có Giới và sự học hỏi.

Giải Thích Từ ‘Như Lai - Tathāgata’

Tathāgatassāti aṭṭhahi kāraṇehi bhagavā tathāgato. Tathā āgatoti tathāgato, tathā gatoti tathāgato, tathalakkhaṇaṃ āgatoti tathāgato, tathadhamme yāthāvato abhisambuddhoti tathāgato, tathadassitāya tathāgato, tathavāditāya tathāgato, tathākāritāya tathāgato, abhibhavanaṭṭhena tathāgatoti.

Như Lai: Đức Thế Tôn có hồng danh Như Lai với tám lý do. (1) ‘vì ngài đã đến như vậy’ là Như Lai, (2) ‘vì ngài đã đi như vậy’ là Như Lai, (3) ‘vì ngài đã đến bằng tướng trạng thật sự’ là Như Lai, (4) ‘vì ngài đã hoàn toàn giác ngộ theo đúng thực tính các Pháp thực thể’ là Như Lai, (5) ‘vì ngài đã nhìn thấy đối tượng như thật’ là Như Lai, (6) ‘vì có lời nói thật’ là Như Lai, (7) ‘vì thực hành thật’ là Như Lai, (8) ‘vì sự chinh phục’ là Như Lai.

Kathaṃ Bhagavā tathā āgatoti Tathāgato? Yathā sabbalokahitāya ussukkamāpannā purimakā sammāsambuddhā āgatā, yathā Vipassī Bhagavā āgato, yathā Sikhī Bhagavā, yathā Vessabhū Bhagavā, yathā Kakusandho Bhagavā, yathā Koṇāgamano Bhagavā, yathā Kassapo Bhagavā āgato. Kiṃ vuttaṃ hoti? Yena abhinīhārena ete bhagavanto āgatā, teneva amhākampi bhagavā āgato.

  1. Đức Thế Tôn có hồng danh Như Lai ‘vì ngài đã đến như vậy’ là (có ý nghĩa) như thế nào? Như bậc Chánh đẳng Chánh giác quá khứ thể hiện sự nỗ lực vì lợi ích cho tất cả chúng sanh, ngài đã đến; như đức Thế Tôn Vipassī đã đến, như đức Thế Tôn Sikhī, như đức Thế Tôn Vessabhū, như đức Thế Tôn Kakusandha, như đức Thế Tôn Koṇāgamana, như đức Thế Tôn Kassapa đã đến. (vì lợi ích của tất cả chúng sanh thế nào, đức Thế Tôn của chúng ta Ngài cũng đến vì lợi ích của tất cả chúng sanh tương tự như thế đó). Điều này giải thích thế nào? Các đức Thế Tôn đó đã đến vì đại nguyện nào, đức Thế Tôn của tất cả chúng ta cũng đã đến vì đại nguyện đó.

Atha vā yathā Vipassī Bhagavā ... pe ... yathā Kassapo Bhagavā dānapāramiṃ pūretvā, sīla nekkhamma paññā vīriya khanti sacca adhiṭṭhāna mettā upekkhāpāramiṃ pūretvā, imā dasa pāramiyo, dasa upapāramiyo, dasa paramatthapāramiyoti samatiṃsapāramiyo pūretvā aṅgapariccāgaṃ, nayanadhanarajjaputtadārapariccāganti266[20] ime pañca mahāpariccāge pariccajitvā pubbayoga-pubbacariya-dhammakkhānañātatthacariyādayo pūretvā Buddhicariyāya267[21] koṭiṃ patvā āgato; tathā amhākampi Bhagavā āgato.

Hay là, đức Thế Tôn Vipassī…đức Thế Tôn Kassapa đã thực hành bố thí ba-la-mật, đã thực hành giới ba-la-mật, xuất ly ba-la-mật, trí tuệ ba-la-mật, tinh tấn ba-la-mật, kham nhẫn ba-la-mật, chân thật ba-la-mật, quyết định ba-la-mật, tâm từ ba-la-mật, tâm xả ba-la-mật; Ngài đã thực hành ba mươi pháp ba-la-mật là mười pháp ba-la-mật bậc hạ, mười pháp ba-la-mật bậc trung và mười pháp ba-la-mật bậc thượng; Ngài đã thực hành năm pháp đại thí là bố thí các chi phần trên cơ thể, bố thí mạng sống bố thí tài sản, bố thí ngai vàng, bố thí con và bố thí vợ, đã thực hành sự siêng năng chăm chỉ ban đầu [pubbayoga], sự thực hành liên tục từ đầu [pubbacariya], việc giảng dạy giáo pháp và thực hành lợi ích cho quyến thuộc v.v, đã đạt đến tận cùng của việc thực hành lợi ích ở địa vị đức Phật [buddhicariyā] ngài đã đến thế nào, đức Thế Tôn của chúng ta Ngài cũng đã đến như thế đó.

Atha vā yathā Vipassī Bhagavā ... pe ... Kassapo Bhagavā cattāro satipaṭṭhāne, cattāro sammappadhāne, cattāro iddhipāde, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅge, ariyaṃ aṅgikaṃ maggaṃ bhāvetvā brūhetvā āgato, tathā amhākampi Bhagavā āgato. Evaṃ tathā āgatoti Tathāgato.

Hoặc là, như đức Thế Tôn Vipassī…như đức Thế Tôn Kassapa đã tu tập, đã làm tăng trưởng bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, ngũ quyền, ngũ lực, bảy yếu tố đưa đến giác ngộ, thánh đạo tám chi phần các ngài đã đến như thế nào, thì đức Thế Tôn của chúng ta ngài cũng đã đến như thế đó. ‘Vì đã đến như thế’ là Như Lai (có ý nghĩa) là như vậy.

Yatheva lokamhi vipassiādayo, Sabbaññubhāvaṃ munayo idhāgatā. Tathā ayaṃ sakyamunīpi āgato, Tathāgato vuccati tena cakkhumā”ti. Evaṃ tathā āgatoti tathāgato.

Các bậc Hiền Trí có đức Phật Vipassī v.v, Ngài đã đạt đến bản thể Toàn Giác ở đời này bằng cách nào; thì bậc Hiền Trí dòng Sakya, Ngài cũng đã đến bằng cách đó. Với lý do ấy đức Thế Tôn vị Hữu Nhãn được gọi là Như Lai.

Đức Thế Tôn, ‘vì đã đến như thế’ là Như Lai (có ý nghĩa) là như vậy.

Kathaṃ tathā gatoti tathāgato? Yathā sampatijāto Vipassī Bhagavā gato ... pe ... Kassapo Bhagavā gato. Kathañca so Bhagavā gato? So hi sampati jātova samehi pādehi pathaviyaṃ patiṭṭhāya uttarābhimukho268[22] sattapadavītihārena gato. Yathāha — “Sampatijāto kho, Ānanda, bodhisatto samehi pādehi patiṭṭhahitvā uttarābhimukho sattapadavītihārena gacchati, setamhi chatte anudhāriyamāne sabbā ca disā anuviloketi, āsabhiṃ vācaṃ269[23] bhāsati — ‘Aggohamasmi lokassa, jeṭṭhohamasmi lokassa, seṭṭhohamasmi lokassa, ayamantimā jāti, natthidāni punabbhavo’ti”270[24]

  1. Đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘vì ngài đã đi như vậy’ là (có ý nghĩa) như thế nào? Như đức Thế Tôn Vipassī khi vừa được sanh ra (tức khắc) đã bước đi…nt… đức Thế Tôn Kassapa (tức khắc) đã bước đi. Và đức Thế Tôn ấy đã đi như thế nào? Thật vậy, vị ấy khi vừa được sanh ra Bồ-tát khi sanh ra ngài đứng vững chãi trên bề mặt địa đại bằng hai chân đều nhau, mặt hướng phía Bắc, rồi bước đi bảy bước. Như ngài đã nói: “Này Ānanda, vị Bồ-tát khi vừa mới sanh ra, ngài đứng vững chãi trên bề mặt địa đại bằng hai chân đều nhau, mặt hướng phía Bắc, rồi bước đi bảy bước, có chư Thiên cầm lọng trắng che bên trên. Ngài nhìn khắp mọi phương hướng, nói ra lời nói tối thượng (lời nói có âm thanh như con bò đực) như sau: “Ta là bậc đứng đầu ở thế gian, Ta là bậc cao cả ở thế gian, Ta là bậc tối thượng ở thế gian, đây là kiếp sống cuối cùng, giờ đây không còn phải tái sanh nữa.”

Tañcassa gamanaṃ tathaṃ ahosi avitathaṃ anekesaṃ visesādhigamānaṃ pubbanimittabhāvena. Yañhi so sampatijātova samehi pādehi patiṭṭhahi. idamassa caturiddhipādapaṭilābhassa pubbanimittaṃ. Uttarābhimukhabhāvo pana sabbalokuttarabhāvassa pubbanimittaṃ. Sattapadavītihāro, sattabojjhaṅgaratanapaṭilābhassa. “Suvaṇṇadaṇḍā vītipatanti cāmarā”ti271[25], ettha vuttacāmarukkhepo pana sabbatitthiyanimmaddanassa272[26]. Setacchattadhāraṇaṃ, arahattavimuttivaravimalasetacchattapaṭilābhassa. Sattamapadūpari ṭhatvā sabbadisānuvilokanaṃ, sabbaññutānāvaraṇañāṇapaṭilābhassa. Āsabhivācābhāsanaṃ appaṭivattiyavaradhammacakkappavattanassa pubbanimittaṃ. Tathā ayaṃ bhagavāpi gato, tañcassa gamanaṃ tathaṃ ahosi, avitathaṃ, tesaṃyeva visesādhigamānaṃ pubbanimittabhāvena. Tenāhu porāṇā —

Và việc đi như vậy của đức Thế Tôn ấy đã trở thành biểu hiện thật sự không bị biến đổi với điềm báo trước của việc chứng đạt nhiều ân đức cao thượng. Thật vậy, khi Ngài vừa mới sanh ra (ngay lập tức) đứng vững chãi trên bề mặt địa đại bằng hai chân đều nhau, đây là điềm báo trước của sự chứng đạt Tứ Như Ý Túc.

  • Lại nữa, ngài quay mặt về hướng Bắc là điềm báo trước của (sự chứng đạt) toàn bộ pháp xuất thế gian.
  • Ngài bước đi bảy bước là điềm báo trước của sự chứng đạt Thất Giác Chi.
  • Hơn nữa, ở đây việc cầm cây phất trần được nói như sau: “phe phẩy tới lui những cây phất trần có tay cầm bằng vàng” đây là điềm báo trước của việc đánh bại tất cả bọn ngoại đạo.
  • Việc che cây lọng trắng là điềm báo trước của việc đạt được cây lộng trắng thanh tịnh, tối thượng, là sự giải thoát bởi sức mạnh A-ra-hán.
  • Việc đứng (lại) vào bước thứ 7 rồi nhìn khắp mọi phương hướng là điềm báo trước của việc chứng đạt Trí Toàn Giác không bị chướng ngại.
  • Việc nói ra lời nói tối thượng (lời nói có âm thanh như con bò đực) là điềm báo trước của việc tuyên thuyết Chuyển Vận Bánh Xe Pháp cao thượng mà không ai (có thể) làm thay đổi. Ngay cả đức Thế Tôn này ngài cũng đã đi tương tự y như thế, và việc đi của vị ấy cũng đã trở thành biểu hiện thực sự, không bị thay đổi bởi tính chất điềm báo trước của việc chứng đạt những ân đức cao thượng ấy. Vì thế, các tài liệu cổ Porāṇā đã nói rằng: 

Muhuttajātova gavampatī yathā, samehi pādehi phusī vasundharaṃ. So vikkamī satta padāni Gotamo, setañca chattaṃ anudhārayuṃ marū. Gantvāna so satta padāni Gotamo, disā vilokesi samā samantato.

Aṭṭhaṅgupetaṃ giramabbhudīrayi, sīho yathā pabbatamuddhaniṭṭhito”ti. Evaṃ tathā gatoti tathāgato.

Ngài Gotama vừa mới sinh chỉ trong phút chốc, đã chạm vào bề mặt quả địa cầu bằng hai chân đều nhau, rồi bước đi bảy bước. Như bò chúa vừa mới sinh ngay lập tức, khi chân tiếp xúc mặt đất cũng đã bước đi, và chư thiên đã che cây lọng trắng bên trên cúng dường;

Ngài Gotama, vị ấy sau khi bước bảy bước; đã nhìn khắp các phương hướng. Thốt lên với âm giọng kết hợp với tám phẩm chất; như thể sư tử chúa đứng trên đỉnh núi gầm lên tiếng gầm sư tử.”

‘Đã đi như vậy’ là Như Lai (có ý nghĩa) là như thế.

Atha vā yathā Vipassī Bhagavā ... pe ... yathā Kassapo Bhagavā, ayampi bhagavā tatheva nekkhammena kāmacchandaṃ pahāya gato, abyāpādena byāpādaṃ, ālokasaññāya thinamiddhaṃ, avikkhepena uddhaccakukkuccaṃ, dhammavavatthānena vicikicchaṃ pahāya ñāṇena avijjaṃ padāletvā273[27], pāmojjena aratiṃ vinodetvā, paṭhamajjhānena nīvaraṇakavāṭaṃ ugghāṭetvā, dutiyajjhānena vitakkavicāraṃ vūpasametvā, tatiyajjhānena pītiṃ virājetvā274[28], catutthajjhānena sukhadukkhaṃ pahāya, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññāpaṭighasaññānānattasaññāyo samatikkamitvā, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññaṃ, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññaṃ, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññaṃ samatikkamitvā gato.

Hoặc là, như đức Thế Tôn Vipassī …nt… như đức Thế Tôn Kassapa đã đi như thế nào, đức Thế Tôn của chúng ta đã đi tương tự y như thế. Đức Thế Tôn đã đi nhờ sự xuất ly đã đoạn trừ sự ước muốn trong các dục; đã đoạn trừ sân hận bằng sự không sân hận; đã đoạn trừ hôn trầm thụy miên bằng sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, đã đoạn trừ phóng dật bằng sự không xao lãng, đã đoạn trừ hoài nghi do xác định pháp, đã đoạn trừ vô minh bằng trí tuệ, đã làm tiêu tan sự không hoan hỷ với sự hân hoan; đã mở cửa các pháp ngăn che do Sơ thiền; tầm và tứ đã được tĩnh lặng do Nhị thiền; đã lìa khỏi hỷ do Tam thiền; đã đoạn trừ sự an lạc và sự khổ đau do Tứ thiền; đã vượt khỏi sắc tưởng, bất bình tưởng, dị biệt tưởng bằng sự thể nhập Không Vô Biên Xứ; đã vượt khỏi tưởng Không Vô Biên Xứ bằng sự thể nhập Thức Vô Biên Xứ; đã vượt khởi tưởng Thức Vô Biên Xứ bằng sự thể nhập Vô Sở Hữu Xứ; đã vượt khỏi tưởng Vô Sở Hữu Xứ bằng sự thể nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, rồi ngài đã đi.

Aniccānupassanāya niccasaññaṃ pahāya, dukkhānupassanāya sukhasaññaṃ, anattānupassanāya attasaññaṃ, nibbidānupassanāya nandiṃ, virāgānupassanāya rāgaṃ, nirodhānupassanāya samudayaṃ, paṭinissaggānupassanāya ādānaṃ, khayānupassanāya ghanasaññaṃ, vayānupassanāya āyūhanaṃ, vipariṇāmānupassanāya dhuvasaññaṃ, animittānupassanāya nimittaṃ275[29], appaṇihitānupassanāya paṇidhiṃ, suññatānupassanāya abhinivesaṃ, adhipaññādhammavipassanāya sārādānābhinivesaṃ, yathābhūtañāṇadassanena sammohābhinivesaṃ, ādīnavānupassanāya ālayābhinivesaṃ, paṭisaṅkhānupassanāya appaṭisaṅkhaṃ, vivaṭṭānupassanāya saṃyogābhinivesaṃ, sotāpattimaggena diṭṭhekaṭṭhe kilese bhañjitvā276[30], sakadāgāmimaggena oḷārike kilese pahāya, anāgāmimaggena aṇusahagate kilese samugghāṭetvā, arahattamaggena sabbakilese samucchinditvā gato. Evampi tathā gatoti tathāgato.

Đã đoạn trừ tưởng về sự thường tồn bằng việc quán xét về vô thường; đã đoạn trừ tưởng về an lạc bằng việc quán chiếu về khổ não; đã đoạn trừ tưởng về tự ngã bằng việc quán chiếu về vô ngã; đoạn trừ sự vui thích bằng việc quán chiếu về nhàm chán; đã đoạn trừ tham ái do quan chiếu về ly tham; đoạn trừ nhân sanh khởi bằng việc quán chiếu về diệt tận; đã đoạn trừ sự nắm giữ bằng việc quán chiếu về từ bỏ; đã đoạn trừ sự nghĩ tưởng về sự tiếp nối bằng việc quán chiếu về đoạn tận; đã đoạn trừ sự tích lũy bằng việc quán chiếu về biến hoại; đã đoạn trừ sự nghĩ tưởng về vững chắc bằng việc quán chiếu về chuyển biến; đã đoạn trừ hiện tướng bằng việc quán chiếu về vô tướng; đã đoạn trừ sự nguyện ước bằng việc quán chiếu về vô nguyện; đã đoạn trừ sự cố chấp do quán xét về không tánh; đã đoạn trừ sự cố chấp trong việc chấp giữ bằng việc minh sát các pháp bằng thắng tuệ; đã đoạn trừ sự cố chấp vào sự lầm lẫn bằng việc quán chiếu về sự biết và thấy đúng theo thực thể; đã đoạn trừ sự cố chấp vào sự nương tựa bằng việc quán chiếu về tai hại; đã đoạn trừ sự không phân biệt rõ bằng việc quán chiếu về phân biệt rõ; đã đoạn trừ sự cố chấp vào sự ràng buộc bằng việc quán chiếu về ly khai; đã bẽ gãy các phiền não thuần về tà kiến bằng Tu-đà-hoàn đạo; đã đoạn trừ các phiền não thô thiển bằng Tư-đà-hàm đạo; đã bứng tận gốc các phiền não có tính chất vi tế bằng A-na-hàm đạo; đã đoạn tận toàn bộ phiền não theo ý nghĩa thu thúc bằng A-ra-hán đạo, rồi ngài đã đi. Đức Thế Tôn đã đi như vậy với biểu hiện như đã giải thích. ‘Vì đã đi như vậy’ là Như Lai là (có ý nghĩa) như vậy.

Kathaṃ tathalakkhaṇaṃ āgatoti tathāgato? Pathavīdhātuyā kakkhaḷattalakkhaṇaṃ tathaṃ avitathaṃ. Āpodhātuyā paggharaṇalakkhaṇaṃ. tejodhātuyā uṇhattalakkhaṇaṃ. Vāyodhātuyā vitthambhanalakkhaṇaṃ. Ākāsadhātuyā asamphuṭṭhalakkhaṇaṃ. Viññāṇadhātuyā vijānanalakkhaṇaṃ.

  1. Đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘vì ngài đã đến bằng tướng trạng thật sự’ (có

ý nghĩa) như thế nào? Địa giới có trạng thái cứng rắn, là trạng thái thật không biến đổi. Thủy giới có trạng thái chảy ra; Hỏa giới có trạng thái nóng; Phong giới có trạng thái căng phòng; Hư không giới có trạng thái không xúc chạm được; Thức giới có trạng thái nhận biết đối tượng.

Rūpassa ruppanalakkhaṇaṃ. Vedanāya vedayitalakkhaṇaṃ. Saññāya sañjānanalakkhaṇaṃ. Saṅkhārānaṃ abhisaṅkharaṇalakkhaṇaṃ. Viññāṇassa vijānanalakkhaṇaṃ.

Sắc có trạng thái thay đổi liên tục. Thọ có trạng thái sự cảm thọ đối tượng. Tưởng có trạng thái ghi nhớ đối tượng. Hành có trạng thái tạo tác đối tượng. Thức có trạng thái nhận biết đối tượng.

Vitakkassa abhiniropanalakkhaṇaṃ. Vicārassa anumajjanalakkhaṇaṃ. Pītiyā pharaṇalakkhaṇaṃ. Sukhassa sātalakkhaṇaṃ. Cittekaggatāya avikkhepalakkhaṇaṃ. Phassassa phusanalakkhaṇaṃ.

Tầm có trạng thái đưa tâm vào đối tượng. Tứ có trạng thái theo chăm nom đối tượng; Hỷ có trạng thái lan tỏa. Lạc có trạng thái dễ chịu. Nhất hành (sự chuyên nhất của tâm) có trạng thái yên tĩnh (không xao lãng). Xúc có trạng thái đụng chạm đối tượng.

Saddhindriyassa adhimokkhalakkhaṇaṃ. Vīriyindriyassa paggahalakkhaṇaṃ. satindriyassa upaṭṭhānalakkhaṇaṃ. samādhindriyassa avikkhepalakkhaṇaṃ. paññindriyassa pajānanalakkhaṇaṃ.

Tín quyền có trạng thái quyết định chắc chắn, Tấn quyền có trạng thái ra sức. Niệm quyền có trạng thái chăm nom. Định quyền có trạng thái không phóng dật. Tuệ quyền trạng thái nhận biết rõ.

Saddhābalassa assaddhiye akampiyalakkhaṇaṃ. Vīriyabalassa kosajje. Satibalassa muṭṭhassacce. Samādhibalassa uddhacce. Paññābalassa avijjāya akampiyalakkhaṇaṃ.

Tín lực có trạng thái không lay động đối với những thứ không đáng tin; Tấn lực có trạng thái không lay động trong sự lười biếng; Niệm lực có trạng thái không lay động trong sự thất niệm; Định lực có trạng thái không lay động trong sự xao lãng; Tuệ lực có trạng thái không bị lay động trong vô minh.

Satisambojjhaṅgassa upaṭṭhānalakkhaṇaṃ. Dhammavicayasambojjhaṅgassa pavicayalakkhaṇaṃ. Vīriyasambojjhaṅgassa paggahalakkhaṇaṃ. Pītisambojjhaṅgassa pharaṇalakkhaṇaṃ. Passaddhisambojjhaṅgassa vūpasamalakkhaṇaṃ. Samādhisambojjhaṅgassa avikkhepalakkhaṇaṃ. Upekkhāsambojjhaṅgassa paṭisaṅkhānalakkhaṇaṃ.

Niệm giác chi có trạng thái chăm nom. Trạch pháp giác chi có trạng thái nghiên cứu. Tinh tấn giác chi có trạng thái ra sức; Hỷ giác chi trạng thái lan tỏa; An tịnh giác chi có trạng thái tĩnh lặng; Định giác chi có trạng thái không phóng dật; Xả giác chi có trạng thái phân biệt rõ. 

Sammādiṭṭhiyā dassanalakkhaṇaṃ. Sammāsaṅkappassa abhiniropanalakkhaṇaṃ. sammāvācāya pariggahalakkhaṇaṃ. Sammākammantassa samuṭṭhānalakkhaṇaṃ277[31]. Sammāājīvassa vodānalakkhaṇaṃ. Sammāvāyāmassa paggahalakkhaṇaṃ. Sammāsatiyā upaṭṭhānalakkhaṇaṃ. Sammāsamādhissa avikkhepalakkhaṇaṃ.

Chánh kiến có trạng thái thấy; Chánh tư duy có trạng thái đưa tâm vào đối tượng; Chánh ngữ có trạng thái nắm giữ; Chánh nghiệp có trạng thái làm nhân trợ sanh - samuṭṭhāna; Chánh mạng có trạng thái trong sạch; Chánh tinh tấn có trạng thái ra sức; Chánh niệm có trạng thái chăm nom; Chánh định có trạng thái không phóng dật.

Avijjāya aññāṇalakkhaṇaṃ. Saṅkhārānaṃ cetanālakkhaṇaṃ. Viññāṇassa vijānanalakkhaṇaṃ. Nāmassa namanalakkhaṇaṃ. Rūpassa ruppanalakkhaṇaṃ. Saḷāyatanassa āyatanalakkhaṇaṃ. Phassassa phusanalakkhaṇaṃ. Vedanāya vedayitalakkhaṇaṃ. Taṇhāya hetulakkhaṇaṃ. Upādānassa gahaṇalakkhaṇaṃ. Bhavassa āyūhanalakkhaṇaṃ. Jātiyā nibbattilakkhaṇaṃ. Jarāya jīraṇalakkhaṇaṃ. Maraṇassa cutilakkhaṇaṃ.

Vô minh có trạng thái không hiểu biết; Hành có trạng thái suy tính; Thức có trạng thái nhận biết đối tượng; Danh có trạng thái hướng tâm đến; Sắc có trạng thái luôn biến hoại; 6 Xứ có trạng thái làm chỗ tiếp nối; Xúc có trạng thái đụng chạm đối tượng; Thọ có trạng thái cảm thọ đối tượng; Tham ái có trạng thái làm nhân của khổ đau; Thủ có trạng thái chấp chặt; Hữu có trạng thái chồng chất; Sự sanh có trạng thái sanh ra; Sự già có trạng thái hao mòn; Sự chết có trạng thái chấm dứt sự sống.

Dhātūnaṃ suññatālakkhaṇaṃ. Āyatanānaṃ āyatanalakkhaṇaṃ. Satipaṭṭhānānaṃ upaṭṭhānalakkhaṇaṃ. Sammappadhānānaṃ padahanalakkhaṇaṃ. Iddhipādānaṃ ijjhanalakkhaṇaṃ. Indriyānaṃ adhipatilakkhaṇaṃ. Balānaṃ akampiyalakkhaṇaṃ. Bojjhaṅgānaṃ niyyānalakkhaṇaṃ. Maggassa hetulakkhaṇaṃ.

Giới dhātu có trạng thái rỗng không - suññatā; Xứ āyatana có trạng thái làm chỗ tiếp nối; Niệm Xứ có trạng thái chăm nom; Chánh Cần có trạng thái bắt đầu thiết lập sự cố gắng; Thần Túc có trạng thái thành tựu. Quyền indriya có trạng thái to lớn; Lực có trạng thái không lay động; Giác Chi có trạng thái dẫn dắt thoát khỏi khổ; Đạo có trạng thái làm nhân đưa đến sự diệt khổ;

Saccānaṃ tathalakkhaṇaṃ. Samathassa avikkhepalakkhaṇaṃ. Vipassanāya anupassanālakkhaṇaṃ. Samathavipassanānaṃ ekarasalakkhaṇaṃ. Yuganaddhānaṃ anativattanalakkhaṇaṃ.

Chân lý có trạng thái thật; Chỉ Tịnh có trạng thái không phóng dật. Minh Sát có trạng thái tùy quán. Chi Tịnh và Minh Sát có trạng trái có phận sự thuần nhất - ekarasa. Pháp liên kết thành đôi, thành cặp có trạng thái không thể chuyển đổi. 

277[31] Ka. Samuṭṭhāpanalakkhaṇaṃ, aṃ-ṭṭha 1.83 piṭṭhe pasitabbaṃ 

Sīlavisuddhiyā saṃvaralakkhaṇaṃ. Cittavisuddhiyā avikkhepalakkhaṇaṃ. Diṭṭhivisuddhiyā dassanalakkhaṇaṃ.

Giới thanh tịnh có trạng thái thu thúc; Tâm thanh tịnh có trạng thái không phóng dật. Kiến thanh tịnh có trạng thái thấy;

Khaye ñāṇassa samucchedanalakkhaṇaṃ278[32]. Anuppāde ñāṇassa passaddhilakkhaṇaṃ. Chandassa mūlalakkhaṇaṃ. Manasikārassa samuṭṭhāpanalakkhaṇaṃ. Phassassa samodhānalakkhaṇaṃ. Vedanāya samosaraṇalakkhaṇaṃ. Samādhissa pamukhalakkhaṇaṃ. Satiyā ādhipateyyalakkhaṇaṃ. paññāya tatuttariyalakkhaṇaṃ279[33]. Vimuttiyā sāralakkhaṇaṃ...amatogadhassa nibbānassa pariyosānalakkhaṇaṃ tathaṃ avitathaṃ. Evaṃ tathalakkhaṇaṃ ñāṇagatiyā āgato avirajjhitvā patto anuppattoti tathāgato. Evaṃ tathalakkhaṇaṃ āgatoti tathāgato.

Đoạn tận trí khaya-ñāṇa có trạng thái đoạn trừ; Vô sanh trí anuppāda-ñāṇa có trạng thái an tịnh; Ước muốn có trạng thái làm gốc; Tác ý có trạng thái làm nhân trợ sanh - samuṭṭhāna; Xúc có trạng thái làm chỗ hội họp; Thọ có trạng thái làm nơi gặp gỡ; Định có trạng thái dẫn đầu; Niệm có trạng thái làm chủ quyền; Tuệ có trạng thái vượt trội. Giải thoát có trạng thái làm cốt lõi … Nibbāna nơi thâm nhập vào bất tử có trạng thái chấm dứt, mỗi một Pháp đều có trạng thái thật, không biến đổi. Đức Thế Tôn, ngài đã đi đến bằng tướng trạng thật sự bằng ñāṇagati, tức là chứng đắc, chứng đạt theo tuần tự, không bị biến đổi như thế gọi là Như Lai. (Vì lý do đó) ‘vì đã đến bằng tướng trạng thật’ là Như Lai (có ý nghĩa) như vậy.

Kathaṃ tathadhamme yāthāvato abhisambuddhoti tathāgato? tathadhammā nāma cattāri ariyasaccāni. yathāha — “cattārimāni, bhikkhave, tathāni avitathāni anaññathāni. katamāni cattāri? ‘idaṃ dukkhan’ti bhikkhave, tathametaṃ avitathametaṃ anaññathametan”ti280[34] vitthāro. Tāni ca bhagavā abhisambuddho, tasmā tathānaṃ dhammānaṃ abhisambuddhattā tathāgatoti vuccati. Abhisambuddhattho hettha gata-saddo.

  1. Đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘vì ngài đã hoàn toàn giác ngộ theo đúng thực tính các Pháp thực thể’ (có ý nghĩa) như thế nào? Bốn Thánh Đế gọi là Pháp thực thể. Như đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này các Tỳ khưu, Bốn Thánh đế này là thực thể, là không biến hoại, không sai khác. Thế nào là Bốn? Này các Tỳ khưu, ‘Đây là Khổ,’ điều này là thực thể, điều này là không biến hoại, điều này là không sai khác”, đọc giả nên tự mình tìm hiểu chi tiết. Đức Thế Tôn giác ngộ hoàn toàn bộ Bốn Thánh Đế ấy, vì thế ngài được gọi là Như Lai do đã giác ngộ hoàn toàn các Pháp thực thể. Từ ‘gata’ trong từ ‘tathāgata’ này có nghĩa là ‘giác ngộ toàn bộ’.

Api ca jarāmaraṇassa jātipaccayasambhūtasamudāgataṭṭho tatho avitatho anaññatho ... pe

..., saṅkhārānaṃ avijjāpaccayasambhūtasamudāgataṭṭho tatho avitatho anaññatho ... pe ..., tathā avijjāya saṅkhārānaṃ paccayaṭṭho, saṅkhārānaṃ viññāṇassa paccayaṭṭho ... pe ..., jātiyā jarāmaraṇassa paccayaṭṭho tatho avitatho anaññatho. Taṃ sabbaṃ bhagavā abhisambuddho, tasmāpi tathānaṃ dhammānaṃ abhisambuddhattā tathāgatoti vuccati. Evaṃ tathadhamme yāthāvato abhisambuddhoti tathāgato.

Và hơn nữa, sự Già và sự Chết sanh khởi từ sự Sanh làm duyên, có ý nghĩa hiện hữu là thực thể, là không biến hoại, là không sai khác …nt… thực tính các Hành sanh khởi từ Vô Minh làm duyên có ý nghĩa hiện hữu là thực thể, là không biến hoại, là không sai khác …nt… Vô Minh có ý nghĩa làm duyên cho Hành, Hành có ý nghĩa làm duyên cho thức …nt… sự Sanh có ý nghĩa làm duyên cho sự Già và sự Chết (đây là) thực thể, là không biến hoại, là không sai khác. Đức Thế Tôn đã hoàn toàn giác ngộ tất cả thực tính đó, chính nhân đó Ngài được gọi là Tathāgata. Đức Thế Tôn có hồng danh Tathāgata bởi giác ngộ toàn bộ thực thể theo đúng thực tính pháp như đã giải thích. Đức Thế Tôn hoàn toàn giác ngộ các Pháp đó, chính vì thế ngài được gọi là Như Lai do đã hoàn toàn giác ngộ theo đúng thực tính các Pháp thực thể. Như vậy, ‘do đã hoàn toàn giác ngộ theo đúng thực tính các Pháp thực thể’ là Như Lai.

Kathaṃ tathadassitāya tathāgato? Bhagavā yaṃ sadevake loke ... pe ..., sadevamanussāya pajāya aparimāṇāsu lokadhātūsu aparimāṇānaṃ sattānaṃ cakkhudvāre āpāthamāgacchantaṃ rūpārammaṇaṃ nāma atthi, taṃ sabbākārato jānāti passati. Evaṃ jānatā passatā ca, tena taṃ iṭṭhāniṭṭhādivasena vā diṭṭhasutamutaviññātesu labbhamānakapadavasena vā. “Katamaṃ taṃ rūpaṃ rūpāyatanaṃ? Yaṃ rūpaṃ catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāya vaṇṇanibhā sanidassanaṃ sappaṭighaṃ nīlaṃ pītakan”tiādinā281[35] nayena anekehi nāmehi terasahi vārehi dvepaññāsāya nayehi vibhajjamānaṃ tathameva hoti, vitathaṃ natthi. esa nayo sotadvārādīsupi āpāthaṃ āgacchantesu saddādīsu. Vuttañcetaṃ282[36] bhagavatā — “Yaṃ bhikkhave, sadevakassa lokassa ... pe ... sadevamanussāya pajāya diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ viññātaṃ pattaṃ pariyesitaṃ anuvicaritaṃ manasā, tamahaṃ jānāmi. tamahaṃ abbhaññāsiṃ, taṃ tathāgatassa viditaṃ, taṃ tathāgato na upaṭṭhāsī”ti283[37]. Evaṃ tathadassitāya tathāgato. Tattha tathadassī atthe tathāgatoti padasambhavo veditabbo.

  1. Đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘vì ngài đã nhìn thấy đối tượng như thật’ (có ý nghĩa) như thế nào? đối tượng nào gọi là đối tượng sắc đang đi đến phạm vi trong tầm Nhãn Môn của tất cả chúng sanh không thể ước lường được có trong thế gian cùng với chư thiên …nt… trong nhóm chúng sanh cùng với chư thiên và loài người (và) trong thế giới [lokadhātu] không thể ước lường được đối tượng đó, đức Thế Tôn nhìn thấy, nhận biết được tất cả mọi khía cạnh. Đối tượng đó ngài nhận biết và nhìn thấy như vậy, được phân ra do tác động đối tượng tốt và đối tượng không tốt hoặc do tác động pada có thể đạt được trong sắc đã thấy, âm thanh đã nghe, mùi, vị, đối tượng xúc đã biết và đối tượng pháp đã được biết rõ, và nhận biết 13 phần, (hoặc) 52 cách thức có nhiều tên gọi với những phương cách sau: “Sắc là (có ý nghĩa) như thế nào? Sắc nào y cứ bốn Sắc Đại Hiển thuộc về màu sắc là Sắc nhìn thấy được, là Sắc xúc chạm được, là sắc màu xanh, sắc màu vàng, Sắc đó được gọi là Sắc Xứ”, đây chính là đối tượng được xem thực thể, không bị biến hoại. Luôn cả trong đối tượng có âm thanh v.v, đang đi đến phạm vi trong tầm Nhĩ Môn v.v, cũng theo phương cách này. Đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Này các Tỳ khưu, đối tượng nào trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, ta đều biết các đối tượng đó. Ta đã được biết rõ các đối tượng đó, các đối tượng đó đều được Như Lai biết đến. các đối tượng đó không xuất hiện trong Như Lai.” Như vậy, ‘do nhìn thấy đối tượng thực thể’ là Như Lai. Ở đó, nên biết rằng sự thành tựu nghĩa của từ ‘Như Lai’ có ý nghĩa ‘một người nhìn thấy đối tượng thực thể’.

Kathaṃ tathavāditāya tathāgato? Yaṃ rattiṃ bhagavā bodhimaṇḍe aparājitapallaṅke nisinno tiṇṇaṃ mārānaṃ matthakaṃ madditvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho, yañca rattiṃ yamakasālānamantare anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyi, etthantare pañcacattālīsavassaparimāṇe kāle paṭhamabodhiyāpi majjhimabodhiyāpi pacchimabodhiyāpi yaṃ bhagavatā bhāsitaṃ — Suttaṃ, Geyyaṃ ... pe

... Vedallaṃ, taṃ sabbaṃ atthato ca byañjanato ca anupavajjaṃ, anūnamanadhikaṃ, sabbākāraparipuṇṇaṃ, rāgamadanimmadanaṃ, dosamohamadanimmadanaṃ. Natthi tattha vālaggamattampi avakkhalitaṃ284[38], sabbaṃ taṃ ekamuddikāya lañchitaṃ viya, ekanāḷiyā mitaṃ viya, ekatulāya tulitaṃ viya ca, tathameva hoti avitathaṃ anaññathaṃ. Tenāha — “Yañca, Cunda, rattiṃ Tathāgato anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambujjhati, yañca rattiṃ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, yaṃ etasmiṃ antare bhāsati lapati niddisati, sabbaṃ taṃ tatheva hoti, no aññathā. tasmā ‘tathāgato’ti vuccatī”ti285[39]. Gadattho hettha gatasaddo. Evaṃ tathavāditāya Tathāgato.

  1. Đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘vì có lời nói như thật’ là (có ý nghĩa) thế nào? Đêm nào đức Thế Tôn đã ngồi trên bảo tọa Aparājita [bảo tọa mà Ma Vương không thể phá vỡ được, bảo tọa của người chiến thắng] ở tại cội cây Bồ-đề. Ngài tiêu diệt cả 3 loại dục vọng - māra rồi chứng đắc viên mãn vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, và đêm nào đức Thế Tôn tịch diệt Nibbāna trong cảnh giới Nibbāna không còn dư sót giữa hai cây sāla, trong suốt khoảng thời gian 45 năm (sau khi thành đạo và trước khi Viên Tịch Nibbāna) lời nói nào mà đức Thế Tôn thuyết trong khoảng thời gian paṭhamabodhiyā, thời gian majjhimabodhiyā và luôn cả thời gian pacchimabodhiyā Sutta, Geyya…Vedalla, toàn bộ những lời nói đó người trí thức không ai có thể chê bai về ý nghĩa và cả văn tự, không hơn không kém, trọn vẹn với mọi phương diện trừ diệt sự say mê bởi ái luyến, trừ diệt sự say mê bởi sân hận và trừ diệt sự say mê bởi si mê, sự lầm lẫn trong lời nói đó dù chỉ là đỉnh của ngọn tóc cũng không có, tất cả điều đó đều là thực thể, không bị biến đổi, không bị sai khác, giống như được đóng cùng một ấn triện hoàng gia, giống như đo lường với cùng một dụng cụ đo lường, và giống như được cân bằng một chiếc cân. Với lý do đó ngài đã nói rằng: “Này Cunda, vào đêm đức Như Lai giác ngộ quả vị vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, và vào đêm Như Lai viên tịch Niết-bàn ở cảnh giới Niết-bàn không còn dư sót, điều nào đức Như Lai thuyết giảng, nói ra, chỉ dạy trong suốt khoảng thời gian này, toàn bộ những lời ấy hoàn toàn đều là thật, không sai khác; vì thế, ‘được gọi là Như Lai’”. Từ ‘gata’ trong từ Như Lai đồng nghĩa với ‘gada’ là ‘lời nói’. Đức Thế Tôn có hồng danh Như Lai ‘do có lời nói như thật’ là như thế.

Api ca āgadanaṃ āgado, vacananti attho. Tayo aviparīto āgado assāti, da-kārassa ta-kāraṃ katvā Tathāgatoti evametasmiṃ atthe padasiddhi veditabbā.

Và hơn nữa, việc nói gọi là ‘āgadanaṃ’ dịch là lời nói, có nghĩa là lời nói. Việc thuyết giảng của đức Như Lai ấy đều là thật, không biến đổi, vì thế được gọi là Như Lai do đổi phụ âm ‘da’ thành phụ âm ‘ta’ và trong trường hợp này nên biết sự hình thành nghĩa của từ là như thế.

Kathaṃ tathākāritāya tathāgato? Bhagavato hi vācāya kāyo anulometi, kāyassapi vācā, tasmā yathāvādī tathākārī, yathākārī tathāvādī ca hoti. Evaṃbhūtassa cassa yathāvācā, kāyopi tathā gato pavattoti attho. Tathā ca kāyo, vācāpi tathā gatā pavattāti tathāgato. Tenevāha — “yathāvādī, bhikkhave, tathāgato tathākārī, yathākārī tathāvādī . Iti yathāvādī tathākārī yathākārī tathāvādī. Tasmā ‘tathāgato’ti vuccatī”ti286[40]. evaṃ tathākāritāya tathāgato.

  1. Đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘do thực hành thật’ (có ý nghĩa) như thế nào? Bởi vì thân nghiệp của đức Thế Tôn thuận theo khẩu nghiệp, cả khẩu nghiệp thuận theo thân nghiệp. Vì thế đức Thế Tôn nói như thế nào (sẽ) thực hành như thế đó, và làm như thế nào (sẽ) nói như thế đó. Có nghĩa là vị có bản thể như vậy lời nói như thế nào, thì cả thân nghiệp cũng được vận hành đi đến như thế đó; và thân nghiệp như thế nào thì luôn cả khẩu nghiệp cũng vận hành đi đến như thế đó. Do đó mới nói rằng: “Này chư Tỳ khưu, Như Lai nói như thế nào thì làm như thế đó, làm như thế nào thì nói như thế đó. Vị nói như thế nào thì làm như thế ấy, làm như thế nào thì nói như thế ấy là như thế. Cho nên ‘được gọi là Như Lai’”. Như vậy, đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘do làm thật’.

Kathaṃ abhibhavanaṭṭhena tathāgato? upari bhavaggaṃ heṭṭhā avīciṃ pariyantaṃ katvā tiriyaṃ aparimāṇāsu lokadhātūsu sabbasatte abhibhavati sīlenapi samādhināpi paññāyapi vimuttiyāpi, vimuttiñāṇadassanenapi na tassa tulā287[41] vā pamāṇaṃ vā atthi; atulo appameyyo anuttaro rājātirājā devadevo sakkānaṃ atisakko brahmānaṃ atibrahmā. 

Tenāha — “sadevake, bhikkhave, loke ... pe ... sadevamanussāya pajāya tathāgato abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccatī”ti.288[42]

  1. Đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘vì sự chinh phục’ (có ý nghĩa) như thế nào? Đức Thế Tôn chinh phục tất cả chúng sanh từ phía trên là cõi cao nhất289[43] cho đến tận cùng phía dưới là địa ngục Vô Gián, về bề ngang chinh phục toàn bộ chúng sanh trong thế giới vũ trụ không thể ước lượng được bằng Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát, Trí và sự nhận thức về giải thoát giới, việc đo lường và ước lượng [các ân đức có giới v.v,] của ngài là không thể, Ngài có đức hạnh không thể đo lường được, không thể ước lượng được, không ai có thể hơn Ngài, là vua của vua, là chư thiên của chư thiên, là Đế Thích của các Đế Thích, là Phạm thiên trên các Phạm thiên. Bởi thế đức Thế Tôn đã nói rằng: “này chư Tỳ khưu, ở thế gian tính luôn cõi chư thiên…chư thiên và loài người, đức Như Lai là đấng chiến thắng, bậc không bị thống trị, bậc nhìn thấy tất cả, bậc vận hành quyền lực; Vì thế, ‘được gọi là Như Lai’”.

Tatrevaṃ padasiddhi veditabbā. Agado viya agado. Ko panesa? Desanāvilāsamayo ceva290[44] puññussayo ca. Tena hesa mahānubhāvo bhisakko dibbāgadena sappe viya sabbaparappavādino sadevakañca lokaṃ abhibhavati. iti sabbālokābhibhavane tatho aviparīto desanāvilāsamayo ceva puññussayo ca agado assāti. da-kārassa ta-kāraṃ katvā tathāgatoti veditabbo. evaṃ abhibhavanaṭṭhena tathāgato.

Trong trường hợp đó nên biết sự hình thành nghĩa của từ như vầy ‘agada’ dịch là ‘thuốc men’, tương tự từ ‘agada’ dịch là ‘nói’. Thuốc men này là gì? Nét đẹp của bài giảng [desanāvilāsa] và phước báu đặc biệt [puññussayo]. Bởi vì đức Thế Tôn chinh phục tất cả những người học thuyết đối nghịch và thế gian cùng với chư Thiên giống như vị thầy thuốc có đại oai lực bắt rắn độc bằng thần dược. Đức Thế Tôn, bậc trí nên biết rằng: Hồng danh ‘Như Lai’ bởi vì có thuốc men là nét đẹp của bài giảng [desanāvilāsa] và phước báu đặc biệt [puññussayo] là thật, không bị biến đổi với việc chinh phục toàn bộ thế giới, do đã biến đổi phụ âm ‘da’ thành phụ âm ‘ta’. Đức Thế Tôn có hồng danh là Như Lai ‘vì sự chinh phục’ (có ý nghĩa) là như vậy.

Api ca tathāya gatotipi Tathāgato, tathaṃ gatotipi Tathāgato. Gatoti avagato, atīto patto paṭipannoti attho.

Tattha sakalalokaṃ tīraṇapariññāya tathāya gato avagatoti tathāgato. Lokasamudayaṃ pahānapariññāya tathāya gato atītoti tathāgato. Lokanirodhaṃ sacchikiriyāya tathāya gato pattoti tathāgato. Lokanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ tathaṃ gato paṭipannoti tathāgato. tena vuttaṃ bhagavatā —

Và hơn nữa, ‘đã đi đến với bản thể thật’ là Như Lai, ‘đạt đến bản thể thật’ là Như Lai. ‘Đã đi’ có ý nghĩa như sau - đoán biết, đã vượt khỏi, đã chứng đạt, đã thực hành.

Trong bốn ý nghĩa đó, gọi là Như Lai ‘do đã đi với cử chỉ thật’ (tức là) do xét đoán toàn bộ thế giới nhờ biết toàn diện về sự xét đoán. Là Như Lai ‘do ngài đã đi với cử chỉ thật’ (tức là) vận hành vượt khỏi tập khởi của thế gian nhờ biết toàn diện về sự dứt bỏ. Là Như Lai ‘do ngài đã đi với cử chỉ thật’, (tức là) đã chứng đạt sự diệt tận của thế gian nhờ tác chứng. Là Như Lai ‘do đã đi với cử chỉ thật’, (tức là) con đường thực hành đạt đến sự diệt tận của thế gian. Bởi thế lời nào được đức Thế Tôn thuyết rằng: –

Loko, bhikkhave, tathāgatena abhisambuddho, lokasmā tathāgato visaṃyutto. Lokasamudayo, bhikkhave, Tathāgatena abhisambuddho, lokasamudayo tathāgatassa pahīno. Lokanirodho, bhikkhave, tathāgatena abhisambuddho, lokanirodho tathāgatassa sacchikato. Lokanirodhagāminī paṭipadā, bhikkhave, tathāgatena abhisambuddhā, lokanirodhagāminī paṭipadā tathāgatassa bhāvitā. yaṃ bhikkhave, sadevakassa lokassa ... pe ... sabbaṃ taṃ tathāgatena abhisambuddhaṃ. Tasmā, tathāgatoti vuccatī”ti291[45].

“Này các Tỳ khưu, thế giới đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, Như Lai không bị ràng buộc với đời. Này các Tỳ khưu, tập khởi của thế giới đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tập khởi của thế giới đã được Như Lai đoạn tận; Này các Tỳ khưu, sự đoạn diệt của thế giới đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, sự đoạn diệt của thế giới đã được Như Lai tác chứng. Này các Tỳ khưu, con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới đã được Như Lai tu tập. Này chư tỳ khưu, điều nào [tồn tại] ở thế gian tính luôn cõi chư Thiên, tất cả điều đó đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ. Vì vậy, ‘được gọi là Như Lai’”.

Tassapi evaṃ attho veditabbo. Idampi ca tathāgatassa tathāgatabhāvadīpane mukhamattameva. Sabbākārena pana tathāgatova tathāgatassa tathāgatabhāvaṃ vaṇṇeyya.

Nên biết ý nghĩa của lời nói đó như vậy. Và luôn cả câu này cũng chỉ là chủ đề giải thích bản thể Như Lai của ‘Như Lai’ mà thôi. Hơn nữa, chỉ có Như Lai mới có thể giải thích về bản thể Như Lai của ‘Như Lai’ bằng tất cả mọi biểu hiện. 

Năm Cách Hỏi

Katamañca taṃ bhikkhaveti yena appamattakena oramattakena sīlamattakena puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṃ vadamāno vadeyya, taṃ katamanti pucchati? Tattha pucchā nāma adiṭṭhajotanā pucchā, diṭṭhasaṃsandanā pucchā, vimaticchedanā pucchā, anumatipucchā, kathetukamyatā pucchāti pañcavidhā hoti. 

Và này các Tỳ khưu điều mà phàm nhân trong lúc ca ngợi Như Lai là điều thuộc về giới, điều đó như thế nào?…, Đức Thế Tôn hỏi rằng: điều mà phàm nhân trong lúc ca ngợi Như Lai có thể nói đến chẳng qua với những điều nhỏ nhặt, điều thấp thỏi, điều thuộc về giới, câu hỏi đó là thế nào? Gọi là câu hỏi trong Pāḷī đó có 5 loại câu hỏi gồm (1) câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy, (2) câu hỏi để trao đổi điều đã thấy, (3) câu hỏi để cắt đứt sự nghi hoặc, (4) câu hỏi để xác nhận, (5) câu hỏi nhằm ý định tự trả lời.

Tattha katamā adiṭṭhajotanā pucchā? pakatiyā lakkhaṇaṃ aññātaṃ hoti, adiṭṭhaṃ atulitaṃ atīritaṃ avibhūtaṃ avibhāvitaṃ, tassa ñāṇāya dassanāya tulanāya tīraṇāya vibhāvanāya pañhaṃ pucchati, ayaṃ adiṭṭhajotanā pucchā.

Trong số những câu hỏi đó thì (1) câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy là thế nào? Thông thường, đối với tướng trạng chưa được biết, chưa được thấy, chưa được cân nhắc, chưa được xác định, chưa được rõ rệt, chưa được minh định, thì người ta hỏi câu hỏi để biết, để thấy, để cân nhắc, để xác định, để phân biệt về tướng trạng ấy. Đây là câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy.

Katamā diṭṭhasaṃsandanā pucchā? pakatiyā lakkhaṇaṃ ñātaṃ hoti, diṭṭhaṃ tulitaṃ tīritaṃ vibhūtaṃ vibhāvitaṃ, tassa aññehi paṇḍitehi saddhiṃ saṃsandanatthāya pañhaṃ pucchati, ayaṃ diṭṭhasaṃsandanā pucchā.

  1. Câu hỏi để trao đổi điều đã thấy là thế nào? Thông thường, đối với tướng trạng đã được biết, đã được thấy, đã được cân nhắc, đã được xác định, đã được rõ rệt, đã được minh định, thì người ta hỏi câu hỏi nhằm mục đích trao đổi cùng với các vị sáng suốt khác. Đây là câu hỏi để trao đổi điều đã thấy.

Katamā vimaticchedanā pucchā? pakatiyā saṃsayapakkhando hoti, vimatipakkhando, dveḷhakajāto, “evaṃ nu kho, na nu kho, kinnu kho, kathaṃ nu kho”ti. so vimaticchedanatthāya pañhaṃ pucchati. ayaṃ vimaticchedanā pucchā.

  1. Câu hỏi để cắt đứt sự nghi hoặc là thế nào? Thông thường, người bị rơi vào sự nghi hoặc, bị rơi vào sự nhầm lẫn, khởi lên sự lưỡng lự rằng: “Phải chăng như vầy là đúng, phải chăng là không đúng, là cái gì đây, là thế nào đây?” người ấy hỏi câu hỏi nhằm mục đích cắt đứt sự nhầm lẫn. Đây là câu hỏi để cắt đứt sự nghi hoặc.

Katamā anumatipucchā? bhagavā bhikkhūnaṃ anumatiyā pañhaṃ pucchati — “Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti. Aniccaṃ, bhante. Yaṃ panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vāti? dukkhaṃ bhanteti292[46] sabbaṃ vattabbaṃ, ayaṃ anumatipucchā.

  1. Câu hỏi để xác nhận là thế nào? Đức Thế Tôn hỏi câu hỏi để xác nhận để cho chư Tỳ khưu xác nhận rằng: – “Này chư Tỳ khưu, các ông nghĩ như thế nào về sắc ấy? là thường hay vô thường? - ‘là vô thường, bạch ngài’. - Vậy cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc? - ‘là khổ, bạch ngài’, có thể nói hết toàn bộ. Đây là câu hỏi để xác nhận.

Katamā kathetukamyatā pucchā? Bhagavā bhikkhūnaṃ kathetukamyatāya pañhaṃ pucchati. Cattārome, bhikkhave, satipaṭṭhānā. Katame cattāro? ... pe ... aṭṭhime bhikkhave maggaṅgā. Katame aṭṭhāti, ayaṃ kathetukamyatā pucchā.

  1. Câu hỏi nhằm ý định tự trả lời là thế nào? Đức Thế Tôn hỏi câu hỏi với ý định trả lời cho chư Tỳ khưu rằng: “Này chư Tỳ khưu, đây là bốn sự thiết lập niệm. Bốn là gì? …nt… này chư Tỳ khưu, đây là tám chi đạo, tám chi đạo là gì?” Đây là câu hỏi nhằm ý định tự trả lời.

Iti imāsu pañcasu pucchāsu adiṭṭhassa tāva kassaci dhammassa abhāvato tathāgatassa adiṭṭhajotanā pucchā natthi. “Idaṃ nāma aññehi paṇḍitehi samaṇabrāhmaṇehi saddhiṃ saṃsanditvā desessāmī”ti samannāhārasseva anuppajjanato diṭṭhasaṃsandanā pucchāpi natthi. Yasmā pana buddhānaṃ ekadhammepi āsappanā parisappanā natthi, bodhimaṇḍeyeva sabbā kaṅkhā chinnā; tasmā vimaticchedanā pucchāpi natthiyeva. Avasesā pana dve pucchā buddhānaṃ atthi, tāsu ayaṃ kathetukamyatā pucchā nāma.

Trong năm loại câu hỏi như đã giải thích này đầu tiên (1) câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy hẳn nhiên điều đó không có nơi đức Như Lai, bởi vì không có bất kỳ Pháp nào mà ngài không nhìn thấy. Ngay cả (2) câu hỏi để trao đổi điều đã thấy cũng không có, bởi vì không khởi lên việc tập hợp suy nghĩ rằng: “Ta sẽ trao đổi tướng trạng tên này, ta sẽ thuyết giảng trao đổi cùng với các Sa-môn, Bà-la-môn sáng suốt khác”. Hơn nữa, vì chư Phật không có sự nghi ngoặc, sự lẫn lộn, thậm chí một câu pháp thì ngài đã cắt đứt toàn bộ nghi hoặc ở tại cội Bồ-đề; Vì thế, luôn cả (3) câu hỏi để cắt đứt sự nghi hoặc chắc chắn cũng không có. Nhưng hai loại câu hỏi còn lại có cùng chư Phật, trong hai loại câu hỏi ấy thì đây gọi là (5) câu hỏi nhằm ý định tự trả lời. 

Giải Thích Tiểu Giới
  1. Idāni taṃ kathetukamyatāya pucchāya pucchitamatthaṃ kathetuṃ “pāṇātipātaṃ pahāyā”tiādimāha.
  2. Bây giờ, đức Thế Tôn có ý định giải đáp ý nghĩa câu hỏi đã được hỏi với ‘câu hỏi nhằm ý định tự trả lời’ đó mới nói rằng: “Sau khi dứt bỏ việc sát hại sinh mạng”.

Tattha pāṇassa atipāto pāṇātipāto, pāṇavadho, pāṇaghātoti vuttaṃ hoti. Pāṇoti cettha vohārato satto, paramatthato jīvitindriyaṃ, tasmiṃ pana pāṇe pāṇasaññino jīvitindriyupacchedakaupakkamasamuṭṭhāpikā kāyavacīdvārānaṃ aññataradvārappavattā vadhakacetanā pāṇātipāto. So guṇavirahitesu tiracchānagatādīsu pāṇesu khuddake pāṇe appasāvajjo, mahāsarīre mahāsāvajjo, kasmā? Payogamahantatāya. Payogasamattepi vatthumahantatāya. guṇavantesu manussādīsu appaguṇe pāṇe appasāvajjo, mahāguṇe mahāsāvajjo. sarīraguṇānaṃ pana samabhāve sati kilesānaṃ upakkamānañca mudutāya appasāvajjo, tibbatāya mahāsāvajjoti veditabbo.

Ở đây, việc sát hại sinh mạng: việc sát hại sinh mạng, việc làm cho chúng sanh có sự sống bị chết đi, giải thích rằng giết hại chúng sanh, tước đoạt mạng sống chúng sanh. Và ở đây, ‘sinh mạng’ nói theo Tục Đế bao gồm chúng sanh. Nói theo Pháp Chân Đế bao gồm Mạng Quyền, hơn nữa ý định sát hại làm nhân sản sinh sự cố gắng nhằm cắt đứt Mạng Quyền được vận hành thông qua bất kỳ Môn nào đó thuộc Thân Môn và Khẩu Môn của hạng người cho rằng sinh mạng ấy là chúng sanh có sự sống được gọi là ‘sát hại sinh mạng’. ‘Sát hại chúng sanh’ ấy được xem là có tội nhẹ đối với những sinh vật nhỏ. Trong số các loài không có phước báu như loài bàng sanh v.v, được xem là có tội nặng do có thân hình to lớn. Vì sao? Vì cố gắng nỗ lực nhiều. Kể cả khi có sự nỗ lực đồng đều cũng có tội nặng do có vật to lớn. Những loài chúng sanh có phước báu như loài người v.v, (việc sát hại) người có ít phước báu thì có tội nhẹ, (việc sát hại) người có nhiều phước báu thì có tội nặng. Kể cả khi có thân hình và đức hạnh ngang nhau thì việc sát hại nên biết rằng: có tội nhẹ bởi vì phiền não và sự cố gắng yếu ớt, tội nặng vì phiền não và sự cố gắng mạnh mẽ.

Tassa pañca sambhārā honti — pāṇo, pāṇasaññitā, vadhakacittaṃ, upakkamo, tena maraṇanti. - Cha payogā — sāhatthiko, āṇattiko, nissaggiyo, thāvaro, vijjāmayo, iddhimayoti. Imasmiṃ panatthe vitthāriyamāne ativiya papañco293[47] hoti, tasmā taṃ na vitthārayāma, aññañca evarūpaṃ. Atthikehi pana samantapāsādikaṃ vinayaṭṭhakathaṃ294[48] oloketvā gahetabbaṃ.

Sát sanh hợp đủ 5 chi pháp: 1- Chúng sanh có sanh mạng [pāṇo], 2- Biết rõ chúng sanh có sanh mạng [pāṇasaññitā], 3- Tâm nghĩ giết hại chúng sanh [vadhakacittaṃ], 4- Cố gắng giết hại chúng sanh [payogo], 5- Chúng sanh ấy chết do sự cố gắng [tena maraṇaṃ].

Cố gắng sát hại chúng sanh có 6 cách: 1- Tự tay mình giết [sāhatthiko]. 2- Sai khiến người khác giết [āṇattiko], 3- Giết bằng các loại vũ khí sắc bén như đao, kiếm, lao v.v. [nissaggiyo], 4- Giết bằng các loại vũ khí có tính cách lâu dài như đào hầm [thāvaro], 5- Cố gắng giết hại chúng sanh bằng cách sử dụng chú thuật [vijjāmayo], 6- Cố gắng giết hại chúng sanh bằng thần thông [iddhimayo].

Lại nữa, trong khi tôi giải thích ý nghĩa này rộng rãi chi tiết sẽ bị bị trì hoãn chậm trễ, do đó tôi sẽ không giải thích ý nghĩa đó nữa và những điều có liên quan, còn đối với những vị cần thiết thì có thể xem trong chú giải tạng Luật Samantapāsādika.

Pahāyāti imaṃ pāṇātipātacetanāsaṅkhātaṃ dussīlyaṃ pajahitvā. Paṭiviratoti pahīnakālato paṭṭhāya tato dussīlyato orato viratova. Natthi tassa vītikkamissāmīti cakkhusotaviññeyyā dhammā pageva kāyikāti imināva nayena aññesupi evarūpesu padesu attho veditabbo. 

Đã dứt bỏ: đã từ bỏ lỗi lầm làm nhân (dẫn đến) ác giới này được xem là ý định thực hiện việc sát hại sinh mạng. Tránh xa: tránh xa lỗi lầm làm nhân (đưa đến) ác giới đó, kể từ thời điểm từ bỏ việc sát hại sinh mạng, đức Thế Tôn ấy không có Pháp cần nhận biết bằng lộ nhãn và lộ nhĩ (rằng): Ta sẽ vi phạm thì còn nói gì nữa đến Pháp vận hạnh qua lộ thân. Luôn cả những câu khác cũng có hình thức như thế, cũng nên biết ý nghĩa theo phương cách này.

Samaṇoti bhagavā samitapāpatāya laddhavohāro. Gotamoti gottavasena. na kevalañca bhagavāyeva pāṇātipātā paṭivirato, bhikkhusaṅghopi paṭivirato, desanā pana ādito paṭṭhāya evaṃ āgatā, atthaṃ pana dīpentena bhikkhusaṅghavasenāpi dīpetuṃ vaṭṭati.

Đức Thế Tôn đã nhận được sự kêu gọi là ‘Sa-môn’ bởi các ác đã vắng lặng. Gotama: theo quyền họ tộc. Không những chỉ một mình đức Thế Tôn tránh xa việc sát hại sinh mạng, mà hội chúng tỳ khưu cũng tránh xa (điều đó). Tuy nhiên thời thuyết giảng đã đến như vậy ngay từ đầu, nhưng trình bày nội dung có thể trình bày luôn cả với năng lực của hội chúng tỳ khưu cũng thích hợp.

Nihitadaṇḍo nihitasatthoti parūpaghātatthāya daṇḍaṃ vā satthaṃ vā ādāya avattanato nikkhittadaṇḍo ceva nikkhittasattho cāti attho. ettha ca ṭhapetvā daṇḍaṃ sabbampi avasesaṃ upakaraṇaṃ sattānaṃ viheṭhanabhāvato295[49] satthanti veditabbaṃ. yaṃ pana bhikkhū kattaradaṇḍaṃ vā dantakaṭṭhaṃ296[50] vā vāsiṃ pipphalikaṃ vā gahetvā vicaranti, na taṃ parūpaghātatthāya. Tasmā nihitadaṇḍo nihitasattho tveva saṅkhyaṃ gacchati.

Có gậy gộc đã đặt xuống, có con dao đã đặt xuống: Có gậy gộc đã đặt xuống và có con dao đã đặt xuống do không cầm lấy gậy gộc, hoặc con dao đi nhằm mục đích sát hại người khác. Cũng trong Pāḷī này ngoài gậy gộc, toàn bộ những loại vũ khí còn lại đều gọi là vũ khí (sắc, nhọn) bởi vì khiến cho tất cả chúng sanh đều có thể bị tiêu diệt. Còn đối với cây trượng người già sử dụng, hay cây gậy, hoặc dao cạo mà chư tỳ khưu mang đi ấy không dùng vì mục đích sát hại người khác. Do đó, không được coi là đặt xuống gậy gộc, đặt xuống con dao

Lajjīti pāpajigucchanalakkhaṇāya lajjāya samannāgato. Dayāpannoti dayaṃ mettacittataṃ āpanno. Sabbapāṇabhūtahitānukampīti; sabbe pāṇabhūte hitena anukampako. Tāya dayāpannatāya sabbesaṃ pāṇabhūtānaṃ hitacittakoti attho. Viharatīti iriyati yapeti yāpeti pāleti . Iti vā hi, bhikkhaveti evaṃ vā bhikkhave. Vā saddo upari “adinnādānaṃ pahāyā”tiādīni apekkhitvā vikappattho vutto, evaṃ sabbattha purimaṃ vā pacchimaṃ vā apekkhitvā vikappabhāvo veditabbo.

Có sự hổ thẹn: Phối hợp với sự hổ thẹn có tướng trạng ghê tởm ác xấu. Đạt được lòng trắc ẩn: đạt đến lòng yêu thương, là bản thể vị có Từ tâm. Có lòng thương xót đến lợi ích đến mọi loài có sinh mạng: Có lòng thương xót đến mọi loài có sự sống bằng sự lợi ích. Giải thích rằng có tâm trợ giúp tất cả mọi loài có sinh mạng do có lòng trắc ẩn ấy. Sống: Thay đổi các oai nghi, là làm cho tự ngã được vận hành, bao gồm hộ trì tự ngã. Iti vā hi, bhikkhave đồng nghĩa với evaṃ vā bhikkhave [này các tỳ khưu…chỉ là như thế]. Từ ‘vā’ có ý nghĩa sự tách rời, nhắm đến lời nói “đã dứt bỏ việc lấy của không cho”. Nên biết ý sự tách rời, nhắm đến lời nói trước, lời nói sau ở mọi chỗ như vậy.

Ayaṃ panettha saṅkhepo — bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṃ vadamāno evaṃ vadeyya — “Samaṇo Gotamo pāṇaṃ na hanati, na ghāteti, na tattha samanuñño hoti, virato imasmā dussīlyā; aho, vata re buddhaguṇā mahantā”ti, iti mahantaṃ ussāhaṃ katvā vaṇṇaṃ vattukāmopi appamattakaṃ oramattakaṃ297[51] ācārasīlamattakameva vakkhati. Upari asādhāraṇabhāvaṃ nissāya vaṇṇaṃ298[52] vattuṃ na sakkhissati. Na kevalañca puthujjanova sotāpannasakadāgāmianāgāmiarahantopi paccekabuddhāpi na sakkontiyeva; tathāgatoyeva pana sakkoti, taṃ vo upari vakkhāmīti, ayamettha sādhippāyā atthavaṇṇanā. Ito paraṃ pana apubbapadameva vaṇṇayissāma.

Hơn nữa trong trường hợp này có ý nghĩa vắn tắt như sau – này chư Tỳ khưu, trong khi hạng phàm nhân nói lời ca ngợi Như Lai có thể nói như vầy – “Sa-môn Gotama không sát hại sinh mạng, không bảo giết hại, không ưa thích việc sát hại sinh mạng, vị tránh xa những lỗi làm nhân (dẫn đến) ác giới này; Ôi! Các ân đức Phật quả thật là vĩ đại!” Có ý định nói lời ca ngợi đã thực hiện sự gắng sức lớn lao như vậy, điều chỉ có thể nói đến chẳng qua là Phẩm Hạnh và Giới là điều nhỏ nhặt, là điều thấp thỏi. (Nhưng) sẽ không thể nào ca ngợi được đức hạnh y cứ vào thực tính riêng biệt (không phổ biến) vượt trội hơn được. Và không chỉ riêng phàm nhân đâu, ngay cả vị Thánh Nhập-lưu, vị Thánh Nhất-lai, vị Thánh Bất-lai, và bậc thánh A-ra-hán, luôn cả chư Phật Độc Giác cũng không thể, chỉ có Như Lai mới có khả năng, ta sẽ nói ý nghĩa ấy cho tất cả các ông ở phần sau. Đây là giải thích ý nghĩa cùng với lời giảng giải trong Pālī này. Kể từ đây, tôi sẽ giải thích hoàn toàn theo tuần tự thứ lớp.

Adinnādānaṃ pahāyāti ettha adinnassa ādānaṃ adinnādānaṃ, parasaṃharaṇaṃ299[53], theyyaṃ, corikāti vuttaṃ hoti. Tattha adinnanti parapariggahitaṃ, yattha paro yathākāmakāritaṃ āpajjanto adaṇḍāraho anupavajjo ca hoti. Tasmiṃ300[54] parapariggahite parapariggahitasaññino, tadādāyakaupakkamasamuṭṭhāpikā theyyacetanā adinnādānaṃ. Taṃ hīne parasantake appasāvajjaṃ, paṇīte mahāsāvajjaṃ, Kasmā? Vatthupaṇītatāya. Vatthusamatte sati guṇādhikānaṃ santake vatthusmiṃ mahāsāvajjaṃ . taṃ taṃ guṇādhikaṃ upādāya tato tato hīnaguṇassa santake vatthusmiṃ appasāvajjaṃ.

Ở đây sau khi dứt bỏ việc lấy vật không cho: Việc cầm lấy những vật (có chủ sở hữu) mà không được vị ấy cho phép gọi là lấy của không cho, giải thích rằng: việc lấy cắp tài sản của người khác gọi là trộm cắp, gọi là hành vi kẻ trộm cắp. Trong điều giới lấy vật không được cho ấy, vật không được cho, chưa được cho bao gồm tài sản có chủ gìn giữ, người sử dụng tài sản của người khác đã sử dụng tùy theo ý muốn [tài vật này người chủ không còn sử dụng hoặc không cần thiết nữa], trong khi vi phạm không đáng nhận hình phạt và không đáng bị khiển trách. Hạng người có suy nghĩ lấy tài sản được chủ sở hữu gìn giữ biết rõ tài sản đã có chủ gìn giữ, ý định trộm cắp làm nhân sản sinh sự cố gắng để lấy cắp tài sản được chủ sở hữu gìn giữ đó được gọi là lấy vật không cho. Sự trộm cắp có tội nhẹ với những tài sản không có giá trị, có tội nặng với những tài sản có giá trị. Vì sao? Vì vật có giá trị. Những đồ vật (có giá trị) tương đồng, sự trộm cắp có tội nặng vì những đồ vật đó thuộc sở hữu của người có giới hạnh, tội nhẹ vì những đồ vật đó thuộc sở hữu của người không có giới hạnh, vì so sánh với người có đức hạnh.

Tassa pañca sambhārā honti — parapariggahitaṃ, parapariggahitasaññitā, theyyacittaṃ, upakkamo, tena haraṇanti. Cha payogā — sāhatthikādayova. Te ca kho yathānurūpaṃ theyyāvahāro, pasayhāvahāro, paṭicchannāvahāro, parikappāvahāro, kusāvahāroti imesaṃ avahārānaṃ vasena pavattā, ayamettha saṅkhepo. Vitthāro pana samantapāsādikāyaṃ301[55] vutto.

Sự trộm cắp khi hợp đủ 5 chi-pháp: 1- Vật có chủ giữ gìn, 2- Biết rõ vật có chủ giữ gìn , 3-Có tâm suy tính trộm cắp, 4- Cố gắng trộm cắp 5- Lấy được của cải ấy do sự cố gắng [avahāro].

Cố gắng trộm cắp có 6 cách: Do chính mình cố gắng lấy cắp vật của người khác và những cố gắng này được diễn ra do tác động sự trộm cắp: 1- lấy đi theo cách trộm cắp, 3- lấy đi bằng vũ lực, 4- lấy đi bằng cách che giấu, 5- lấy đi có tính toán, 6- lấy đi theo cách đánh tráo, nội dung nói trên chỉ được nói vắn tắt. Còn nội dung chi tiết được nói trong chú giải Samantapāsādikāya.

Dinnameva ādiyatīti dinnādāyī. Cittenapi dinnameva paṭikaṅkhatīti dinnapāṭikaṅkhī. Thenetīti theno. Na thenena athenena. Athenattāyeva sucibhūtena. attanāti attabhāvena. Athenaṃ sucibhūtaṃ attānaṃ katvā viharatīti vuttaṃ hoti. Sesaṃ paṭhamasikkhāpade vuttanayeneva yojetabbaṃ. Yathā ca idha302[56], evaṃ sabbattha.

Sa-môn Gotama gọi là chỉ nhận vật được cho bởi vì chỉ nhận lấy vật được cho. Gọi là Chỉ mong vật được cho bởi vì chỉ mong vật được cho, kể cả với tâm. Người được gọi là trộm cắp bởi vì trộm cắp. Người không trộm cắp bởi không trộm cắp. Sa-môn Gotama thực hành bản thân trở thành người trong sạch do chính việc không trộm cắp. Bản thân: với bản thân. Có lời giải thích rằng: đã rèn luyện bản thân bằng việc không trộm cắp, là người sống có trạng thái trong sạch. Từ còn lại nên kết hợp theo chính phương cách đã nói ở trong điều học thứ nhất. Tất cả điều học đều tương tự y như điều học này. 

Abrahmacariyanti aseṭṭhacariyaṃ. Brahmaṃ seṭṭhaṃ ācāraṃ caratīti brahmacārī. Ārācārīti abrahmacariyato dūracārī. Methunāti rāgapariyuṭṭhānavasena sadisattā methunakāti laddhavohārehi paṭisevitabbato methunāti saṅkhyaṃ gatā asaddhammā. Gāmadhammāti gāmavāsīnaṃ dhammā.

Phi Phạm hành (hành động đối nghịch với Phạm hạnh): hành vi không cao quý. Phạm hạnh do hành vi thực hành Phạm hạnh tối thượng. Hành vi xa lìa: hành vi xa lìa từ những hành động đối nghịch với Phạm hạnh. Việc đôi lứa: Từ các Phi Diệu Pháp được xem là việc đôi lứa do hạng người đã được quy định thành cặp đôi, bởi vì như nhau do mãnh lực sự bộc phát ái luyến có thể thực hiện việc đôi lứa. Chuyện thế tục: tính chất của thế tục.

  1. Musāvādaṃ pahāyāti ettha musāti visaṃvādanapurekkhārassa atthabhañjanako vacīpayogo kāyapayogo, vā visaṃvādanādhippāyena panassa paravisaṃvādakakāyavacīpayogasamuṭṭhāpikā cetanā musāvādo.
  2. Ở đây, sau khi dứt bỏ việc nói lời nói dối từ ‘sự nói dối’ gồm Thân hành động hoặc Khẩu hành động của hạng người có ý định nói sai sự thật làm tổn giảm lợi ích người khác. Tác ý làm nhân sanh tạo ra Thân hành động và Khẩu hành động khiến cho người nghe hiểu sai sự thật của hạng người muốn nói sai sự thật ấy với ý định nói sai sự thật gọi là nói lời nói dối.

Aparo nayo, ‘musā’ ’ti abhūtaṃ atacchaṃ vatthu. ‘Vādo’ ’ti tassa bhūtato tacchato viññāpanaṃ. lakkhaṇato pana atathaṃ vatthuṃ tathato paraṃ viññāpetukāmassa tathāviññattisamuṭṭhāpikā cetanā musāvādo. So yamatthaṃ bhañjati, tassa appatāya appasāvajjo, mahantatāya mahāsāvajjo.

Một cách khác, vấn đề không đúng, không xác thực gọi là sự nói dối, khiến người khác hiểu sai vấn đề này là đúng, là xác thực thì gọi là lời nói. Hành động làm cho người khác hiểu sai vấn đề không đúng, không xác thực (cho rằng) là đúng, là xác thực. Nói theo trạng thái, tác ý làm cho khởi lên sự hiểu sai như thế của hạng người mong muốn người khác hiểu vấn đề không đúng thành vấn đề đúng gọi là nói lời nói dối. Nói lời nói dối ấy có tội nhẹ do lợi ích làm tổn giảm nhỏ, tội nặng do lợi ích làm tổn giảm lớn.

Api ca gahaṭṭhānaṃ attano santakaṃ adātukāmatāya natthītiādinayappavatto appasāvajjo, sakkhinā hutvā atthabhañjanatthaṃ vutto mahāsāvajjo, pabbajitānaṃ appakampi telaṃ vā sappiṃ vā labhitvā hasādhippāyena — “ajja gāme telaṃ nadī maññe sandatī”ti pūraṇakathānayena pavatto appasāvajjo, adiṭṭhaṃyeva pana diṭṭhantiādinā nayena vadantānaṃ mahāsāvajjo.

Hoặc là, đối với hạng người tại gia nói lời nói dối diễn biến theo cách sau ‘không có’ v.v, vì không muốn đem tài sản của mình [cho người khác] thì có tội nhẹ, đưa ra chứng cứ để làm mất quyền lợi [đối phương] thì có tội nặng. Còn đối với bậc xuất gia nói dối diễn ra theo cách purāṇakathā [nói thêm hoặc đùa cợt, nói mấp mé] rằng ‘hôm nay, dầu ăn ở trong làng tuôn chảy như sông’ nhằm mục đích làm cho [người khác] cười do nhận được dầu hoặc bơ thì có tội nhẹ, nhưng khi nói đến những điều mình không nhìn thấy mà nói rằng ‘tôi thấy’ v.v, theo cách như vậy thì tội nặng. 

Tassa cattāro sambhārā honti — Atathaṃ vatthu, visaṃvādanacittaṃ, tajjo vāyāmo, parassa tadatthavijānananti. Eko payogo sāhatthikova. So kāyena vā kāyapaṭibaddhena vā vācāya vā paravisaṃvādanakiriyākaraṇena daṭṭhabbo. Tāya ce kiriyāya paro tamatthaṃ jānāti, ayaṃ kiriyasamuṭṭhāpikacetanākkhaṇeyeva303[57] musāvādakammunā bajjhati.

Nói dối có 4 chi: 1- Chuyện không thật. 2- Có tâm suy nghĩ sẽ nói sai sự thật. 3- Cố gắng nói dối . 4- Người khác tin theo ý nghĩa không thật đó. Sự cố gắng chỉ có một là tự mình làm. Lời nói dối ấy có thể nhìn thấy bằng việc sử dụng thân hành động, (hoặc) sử dụng những vật dụng gắn liền với thân, hoặc bằng lời nói, thực hiện hành động để lừa gạt người khác. Nếu người ấy hiểu được ý nghĩa hành động đó thì hành động này trói buộc với nghiệp nói lời nói dối, ngay tại sát-na tác ý (suy nghĩ) khiến khởi lên hành động.

Yasmā pana yathā kāyakāyapaṭibaddhavācāhi paraṃ visaṃvādeti, tathā “idamassa bhaṇāhī”ti āṇāpentopi paṇṇaṃ likhitvā purato nissajjantopi, “ayamattho evaṃ daṭṭhabbo”ti304[58] kuḍḍādīsu305[59] likhitvā ṭhapentopi. tasmā ettha āṇattikanissaggiyathāvarāpi payogā yujjanti, aṭṭhakathāsu pana anāgatattā vīmaṃsitvā gahetabbā.

Hơn nữa, do được người khác ra lệnh “ông hãy nói chuyện này cùng người này”, thế này cũng có “sau khi viết vào từ giấy rồi ném về phía trước”, hoặc viết vào bức tường v.v, để biết rằng: “ý nghĩa này có thể nhận biết như vậy” với cách thức lừa gạt người khác bằng thân, vật gắn liền với thân và lời nói. Do đó, sự gắng sức sai biểu người khác [āṇattika-payoga], sự gắng sức do quăng phóng vũ khí [nissaggiya-payoga] và việc chế tạo các loại dụng cụ dùng để giết lâu dài như đào hầm, chôn cọc [thāvara-payoga] cũng phù hợp với nói lời nói dối này, tuy nhiên do 3 sự gắng sức ấy không đến với các lời giải thích cần phải suy xét trước rồi mới nắm giữ.

Saccaṃ vadatīti saccavādī. saccena saccaṃ sandahati ghaṭetīti saccasandho. Na antarantarā musā vadatīti attho. Yo hi puriso kadāci musā vadati, kadāci saccaṃ, tassa musāvādena antaritattā saccaṃ saccena na ghaṭīyati; tasmā so na saccasandho. ayaṃ pana na tādiso, jīvitahetupi musā avatvā saccena saccaṃ sandahati yevāti saccasandho.

Có lời nói chân thật bởi chỉ nói lời chân thật. Duy trì lời nói chân thật: do liên kết, tức là tiếp nối lời nói chân thật với những lời nói chân thật. Giải thích rằng bạn không được nói dối trong thời gian này. Giải thích rằng không nói lời nói dối ở giữa giai đoạn này. Thật vậy, người nào thỉnh thoảng nói lời nói dối, thỉnh thoảng nói lời nói chân thật, không lấy lời nói chân thật tiếp nối với lời nói chân thật, bởi người ấy lấy lời nói dối ngăn chặn lại; do đó, người ấy không gọi là duy trì lời nói chân thật. Nhưng Sa-môn Gotama này không phải như vậy, không nói lời nói dối kể cả vì nhân mạng sống, chỉ nói những lời nói thật tiếp nối những lời nói thật, vì lý do ấy gọi là người duy trì lời nói chân thật.

Thetoti thiro, thirakathoti306[60] attho. Eko hi puggalo haliddirāgo viya307[61], thusarāsimhi nikhātakhāṇu viya, assapiṭṭhe ṭhapitakumbhaṇḍamiva ca na thirakatho hoti, eko pāsāṇalekhā viya, indakhīlo viya ca thirakatho hoti, asinā sīsaṃ chindantepi dve kathā na katheti, ayaṃ vuccati theto.

Lời nói làm bằng chứng: người kiên định, có nghĩa là có lời nói làm bằng chứng. Thật vậy, một người nói lời nói không có bằng chứng cũng giống như (tấm vải) được nhuộm bằng bột nghệ, giống như cột gỗ được dựng vào đống trấu, và cũng giống như trái bí được đặt trên lưng ngựa, một người có lời nói làm bằng chứng giống như dấu vết được chạm khắc trên phiến đá, giống như cột trụ kiên cố, dù họ có lấy đao kiếm để chặt đầu cũng không nói hai lời, hạng người này gọi là có lời nói làm bằng chứng.

Paccayikoti pattiyāyitabbako308[62], saddhāyitabbakoti attho. Ekacco hi puggalo na paccayiko hoti, “idaṃ kena vuttaṃ, asukenā”ti vutte “mā tassa vacanaṃ saddahathā”ti vattabbataṃ āpajjati. Eko paccayiko hoti, “idaṃ kena vuttaṃ, asukenā”ti vutte “yadi tena vuttaṃ, idameva pamāṇaṃ, idāni upaparikkhitabbaṃ natthi, evameva idan”ti vattabbataṃ āpajjati, ayaṃ vuccati paccayiko. Avisaṃvādako lokassāti tāya saccavāditāya lokaṃ na visaṃvādetīti attho.

Đáng tin cậy: hạng người đáng tin cậy, có nghĩa là người nên đặt lòng tin vào. Thật vậy, một số hạng người không đáng tin, khi bị hỏi rằng: “Lời này ai nói? Người kia nói phải không?” cũng sẽ đáp rằng: “Này các ông chớ tin vào lời nói của người ấy”, một số người là người đáng tin cậy khi bị hỏi rằng: “Lời này ai nói? Người kia nói phải không?” - “nếu như vị ấy nói cũng sẽ đáp rằng: ‘Chỉ có lời nói này là chừng mực, bây giờ không cần phải quan sát, lời nói này chính là như vậy”, người này được gọi là đáng tin cậy. Không lường gạt thế gian: không nói lời lường gạt thế gian bởi vì bản chất là người nói lời nói chân thật.

Pisuṇaṃ vācaṃ pahāyātiādīsu yāya vācāya yassa taṃ vācaṃ bhāsati, tassa hadaye attano piyabhāvaṃ, parassa ca suññabhāvaṃ karoti, sā pisuṇā vācā. Yāya pana attānampi parampi pharusaṃ karoti, yā vācā sayampi pharusā, neva kaṇṇasukhā na hadayaṅgamā309[63], ayaṃ pharusā vācā. Yena samphaṃ palapati niratthakaṃ, so samphappalāpo.

Sau khi dứt bỏ lời nói đâm thọc: Lời nói nào làm nhân khiến tâm của người nghe thương mình và làm nhân chế nhạo người khác gọi là lời nói đâm thọc. Hơn nữa, lời nói làm nhân khiến cho bản thân, luôn cả người khác (cảm thấy) không nhã nhặn, thậm chí thô lỗ đối với chính bản thân, không êm tai, tâm không dễ chịu, đây gọi là lời nói thô lỗ. Lời nói nào phù phiếm, nhảm nhí, không lợi ích, gọi là lời nói nhảm nhí.

Tesaṃ mūlabhūtā cetanāpi pisuṇavācādināmeva labhati, sā eva ca idhādhippetāti. Attha saṃkiliṭṭhacittassa paresaṃ vā bhedāya attano piyakamyatāya vā kāyavacīpayogasamuṭṭhāpikā cetanā pisuṇavācā. Sā yassa bhedaṃ karoti, tassa appaguṇatāya appasāvajjā, mahāguṇatāya mahāsāvajjā.

Thậm chí ý định sản sinh ra nguyên nhân của những lời nói đó cũng được xem là lời nói đâm thọc. Trong trường hợp này mục đích lấy chính ý định ấy. Trong cả ba lời nói như thế ý định của hạng người có tâm uế nhiễm, làm nhân khởi sanh Thân hành động hoặc Khẩu hành động nhằm mục đích gây chia rẽ, vì ước muốn bản thân được yêu thương gọi là lời nói đâm thọc. Lời nói ấy được xem là có tội ít bởi vì người bị thực hiện sự chia rẽ kém giới đức, có tội nhiều bởi vì người bị thực hiện ấy là bậc có giới đức.

Tassā cattāro sambhārā — bhinditabbo paro, “iti ime nānā bhavissanti, vinā bhavissantī”ti bhedapurekkhāratā vā, “iti ahaṃ piyo bhavissāmi vissāsiko”ti piyakamyatā vā, tajjo vāyāmo, tassa tadatthavijānananti. Imesaṃ bhedāyāti, yesaṃ itoti vuttānaṃ santike sutaṃ tesaṃ bhedāya.

Lời nói đâm thọc có 4 chi là: 1- Người khác có thể bị chia rẽ. Hoặc 2- Muốn họ bị chia rẽ “những người này sẽ là những người bị tách biệt, và bị chia rẽ với đường lối như vậy”, hoặc vì mong muốn được thương “tôi sẽ được quý mến, tôi sẽ được tin cậy”, 3- Có sự cố gắng khởi lên từ ý định ấy. 4- Người nghe hiểu được ý nghĩa đó. Khiến cho nhóm người này bị chia rẽ: Nghe ở trú xứ nào nào đó rồi nói lại từ một phía để cho người nghe lời nói ấy bị chia rẽ.

Bhinnānaṃ vā sandhātāti dvinnaṃ mittānaṃ vā samānupajjhāyakādīnaṃ vā kenacideva kāraṇena bhinnānaṃ ekamekaṃ upasaṅkamitvā “tumhākaṃ īdise kule jātānaṃ evaṃ bahussutānaṃ idaṃ na yuttan”tiādīni vatvā sandhānaṃ310[64] kattā anukattā311[65]. Anuppadātāti sandhānānuppadātā. Dve jane samagge disvā — “tumhākaṃ evarūpe kule jātānaṃ evarūpehi guṇehi samannāgatānaṃ anucchavikametan”tiādīni vatvā daḷhīkammaṃ kattāti attho. Samaggo ārāmo assāti samaggārāmo. Yattha samaggā natthi, tattha vasitumpi na icchatīti attho. samaggarāmotipi pāḷi, ayamevettha attho. Samaggaratoti samaggesu rato, te pahāya aññattha gantumpi na icchatīti attho. samagge disvāpi sutvāpi nandatīti samagganandī, samaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitāti yā vācā satte samaggeyeva karoti, taṃ sāmaggiguṇaparidīpikameva vācaṃ bhāsati, na itaranti.

Nhằm hàn gắn những người đã bị chia rẽ: hai người bạn, hoặc hai vị Tỳ khưu có chung thầy tế độ, chia rẽ bởi bất kỳ nguyên nhân nào đi chăng nữa, sau khi đến gặp từng người rồi nói lời như sau: “Việc chia rẽ này thật không thích hợp cho ông, một người sanh ra trong dòng dõi như vậy, là bậc đa văn như vậy” thực hiện, thực hiện thường xuyên bằng việc hàn gắn. Khuyến khích những kẻ hòa hợp: khuyến khích việc hàn gắn. Sau khi nhìn thấy hai người hòa hợp đã nói lời như sau: “Sự hòa hợp này phù hợp đối với các ông, người sanh ra trong dòng dõi như thế, người gắn liền với những đức hạnh như thế” (nên) hành động một cách vững vàng. Có sự vui thích việc hợp nhất: có sự hợp nhất làm chỗ vui mừng. Giải thích rằng - ở nơi nào không có sự hợp nhất, ở nơi đó không ước muốn đến an trú. Pāḷī ‘samaggarāmo = hoan hỷ trong sự hòa hợp’ cũng có, Từ này cũng có ý nghĩa tương tự. Có sự hoan hỷ việc hợp nhất: có sự hoan hỷ đối với những người hòa hợp, có nghĩa là không ước muốn từ bỏ những người hòa hợp này. Thích thú trong việc hợp nhất: Do đã nhìn thấy, hoặc đã nghe đến những người hòa hợp rồi thích thú. Người nói lời tạo ra sự hợp nhất: Chỉ nói ra những lời làm cho chúng sanh hòa hợp với nhau, chỉ nói những lời nói trình bày về ân đức của sự hòa hợp, ngoài ra không nói đến những lời nói khác.

Parassa mammacchedakakāyavacīpayogasamuṭṭhāpikā ekantapharusacetanā pharusāvācā. Tassā āvibhāvatthamidaṃ vatthu –

Với tác ý thô ác làm nhân sanh cho Thân hành động và Khẩu hành động khiến cắt đứt sự yêu thượng của người khác gọi là lời nói thô lỗ. Để làm sáng tỏ ý nghĩa của lời nói này, xin lấy câu chuyện sau đây – (Lời nói thô lỗ, những tâm độc ác)

Eko kira dārako mātuvacanaṃ anādiyitvā araññaṃ gacchati, taṃ mātā nivattetum’asakkontī — “caṇḍā taṃ mahiṃsī312[66] anubandhatū”ti akkosi. Athassa tatheva araññe mahiṃsī uṭṭhāsi. dārako “yaṃ mama mātā mukhena kathesi, taṃ mā hotu, yaṃ cittena cintesi taṃ hotū”ti, saccakiriyamakāsi. mahiṃsī tattheva baddhā viya aṭṭhāsi. evaṃ mammacchedakopi payogo cittasaṇhatāya na pharusā vācā hoti. mātāpitaro hi kadāci puttake evaṃ vadanti — “corā vo313[67] khaṇḍākhaṇḍaṃ karontū”ti, uppalapattampi ca nesaṃ upari patantaṃ na icchanti. ācariyupajjhāyā ca kadāci nissitake evaṃ vadanti — “kiṃ ime ahirīkā anottappino caranti, niddhamatha314[68] ne”ti, atha ca nesaṃ āgamādhigamasampattiṃ icchanti.

Được biết có một đứa bé thường hay cãi lời mẹ trốn vào rừng chơi, người mẹ những lúc tìm không được mới rủa rằng: ‘cầu cho trâu rừng hút mày’. Một hôm, trâu rừng xuất hiện như lời mẹ cậu nói, cậu bé mới phát nguyện bằng lời nói chân thật rằng: ‘mẹ của tôi đã nói bất cứ lời nào xin chớ thành hiện thực, mà hãy thành tựu những gì mà tâm ý của bà đã nghĩ’. Con trâu rừng tự dưng dừng lại ngay lập tức giống như bị cột vậy. Khẩu hành động dẫu làm nhân cắt đứt những lời ái ngữ [đề cập đến những thứ yêu quý], như câu chuyện đã nêu, lời nói ấy cũng không gọi là lời nói thô ác bởi vì người nói có tâm từ ái. Thật vậy, đôi khi cha mẹ nói chuyện với con cái như thế này: “Cầu cho những tên trộm chặt tụi bay ra từng mảnh”. 

Dẫu như thế, ngay cả một cánh hoa cũng không hy vọng rơi trên người của chúng. Và đôi lúc các thầy dạy học và thầy tế độ đã nói như vầy với đệ tử và người hộ độ rằng: ‘Những người này nói gì với nhau mà không biết xấu hổ, không biết hổ thẹn hãy đuổi họ đi’, mặc dù vậy nhưng các thầy vẫn luôn mong muốn đệ tử và người hộ độ của mình thành tựu pháp học [agama, pariyatti] và thành tựu pháp thành [paṭivedha, adhigama] đối với các đệ tử và người hộ độ ấy.

Yathā ca cittasaṇhatāya pharusā vācā na hoti, evaṃ vacanasaṇhatāya apharusā vācā na hoti. na hi mārāpetukāmassa — “imaṃ sukhaṃ sayāpethā”ti vacanaṃ apharusā vācā hoti, cittapharusatāya panesā pharusā vācāva. sā yaṃ sandhāya pavattitā, tassa appaguṇatāya appasāvajjā, mahāguṇatāya mahāsāvajjā. Tassā tayo sambhārā — akkositabbo paro, kupitacittaṃ, akkosanāti.

Người nói có tâm từ ái thì khẩu hành động không phải là lời nói thô lỗ như thế nào, tương tự y như thế ấy người nói lời ngọt ngào, êm dịu thì khẩu hành động cũng không phải là ác ngữ. Lời nói mong muốn kẻ khác bị sát hại như: ‘ngươi hãy khiến cho kẻ này nằm yên giấc [chết]”, như vậy không gọi là lời nói thô lỗ không được. Vì người nói có tâm thô lỗ, ác ý. Lời nói thô lỗ này được xem là có tội nhẹ do đối tượng là người kém giới đức, sẽ có tội nặng vì đối tượng là bậc có giới đức. Lời nói thô lỗ có ba chi là: 1- Đối tượng bị mắng chửi. 2-Tâm nóng giận bực tức. 3- Lời trách mắng, quở trách.

Nelāti elaṃ vuccati doso, nāssā elanti nelā, niddosāti attho. “nelaṅgo setapacchādo”ti315[69], ettha vuttanelaṃ viya. Kaṇṇasukhāti byañjanamadhuratāya kaṇṇānaṃ sukhā, sūcivijjhanaṃ viya kaṇṇasūlaṃ na janeti. Atthamadhuratāya sakalasarīre kopaṃ ajanetvā pemaṃ janetīti pemanīyā. hadayaṃ gacchati, appaṭihaññamānā sukhena cittaṃ pavisatīti hadayaṅgamā. guṇaparipuṇṇatāya pure bhavāti porī pure saṃvaḍḍhanārī viya sukumārātipi porī. purassa esātipi porī. nagaravāsīnaṃ kathāti attho. nagaravāsino hi yuttakathā honti. pitimattaṃ pitāti vadanti, bhātimattaṃ bhātāti vadanti, mātimattaṃ mātāti vadanti. evarūpī kathā bahuno janassa kantā hotīti bahujanakantā. kantabhāveneva bahuno janassa manāpā cittavuḍḍhikarāti bahujanamanāpā.

Lời nói không có lỗi lầm: lỗi lầm gọi là ‘ela’, lỗi lầm không có cùng lời nói ấy, vì thế lời nói ấy gọi là lời nói không có lỗi lầm, có nghĩa là lìa xa lỗi lầm. Cũng giống như ‘Không có lỗi lầm’ được ngài nói ở chỗ này “chiếc xe có một căm lăn bánh (Thánh Đạo có tám chi phần) không chút lỗi lầm, có mái che màu trắng”. Êm tai: êm tai bởi vì có văn tự ngọt ngào, tức là không gây đau nhức tai, giống như bị đâm xuyên bằng kim. Lời nói gây thương mến: bởi vì không tạo ra sự giận dữ mà chỉ tạo ra sự quý mến trong toàn bộ thân thể bởi vì có ý nghĩa ngọt ngào. Lời nói lấy lòng: bởi vì chạm đến tim, tức là đi vào trong tim một cách thuận tiện, không gây va chạm. Lời nói nhã nhặn: bởi vì trong thành thị do thành tựu đức hạnh. Lời nói nhã nhặn: bởi vì lời nói trang nhã tương tợ y như thiếu nữ đang phát triển ở thành thị. Lời nói nhã nhặn: bởi vì lời nói này là lời nói của những người thành thị, có nghĩa là lời nói của người thành thị. Thật vậy, người thành thị có lời nói phù hợp, gọi những người trạc tuổi cha là ‘cha’, gọi những người trạc tuổi anh chị là ‘anh chị’. Lời nói nhiều người ưa thích: bởi lời nói như vầy là lời nói mà nhiều người ưa thích. Lời nói nhiều người hài lòng: bởi là chỗ hài lòng, làm tăng trưởng tâm của nhiều người theo chính cách nhiều người ưa thích.

Anatthaviññāpikā kāyavacīpayogasamuṭṭhāpikā akusalacetanā samphappalāpo. so āsevanamandatāya appasāvajjo, āsevanamahantatāya mahāsāvajjo.

Với tác ý bất thiện làm nhân sanh cho Thân hành động và Khẩu hành động khiến người khác hiểu được lời nói vô ích thì gọi là nói lời nhảm nhí. Nói lời nhảm nhí này được xem là có tội nhẹ do ít thân cận, sẽ có tội nặng do thân cận nhiều.

Tassa dve sambhārā — bhāratayuddhasītāharaṇādi-niratthakakathāpurekkhāratā, tathārūpī kathā kathanañca.

Nói lời nhảm nhí có hai chi là: 1- Hướng tâm nói những lời vô ích như bàn luận về cuộc chiến đấu của vua trời Bhārata, hay chuyện nàng Sīta v.v. 2- Đã nói ra lời nói vô ích như thế.

Kālena vadatīti kālavādī vattabbayuttakālaṃ sallakkhetvā vadatīti attho. Bhūtaṃ tathaṃ tacchaṃ sabhāvameva vadatīti bhūtavādī. diṭṭhadhammikasamparāyikatthasannissitameva katvā vadatīti atthavādī. navalokuttaradhammasannissitaṃ katvā vadatīti dhammavādī saṃvaravinayapahānavinayasannissitaṃ katvā vadatīti vinayavādī.

Nói hợp thời: bởi vì nói đúng thời điểm. Có nghĩa là sau khi suy xét đến thời điểm thích hợp cho câu chuyện được nói rồi mới nói. Chỉ nói lời chân thật: bởi vì nói lời nói chân thật, đúng đắn, chắn chắn, theo đúng thực tính. Nói liên hệ đến lợi ích: bởi nói lời nói được thực hiện liên hệ đến lợi ích hiện tại và lợi ích đời sau. Nói liên hệ đến Pháp: bởi nói lời nói được thực hiện dựa vào chín Pháp Siêu Thế. Nói liên hệ đến Luật: bởi nói lời nói được thực hiện dựa vào sự thu thúc bằng giới luật [saṃvaravinaya] và sự đoạn trừ do nhổ bỏ [pahānavinaya].

Nidhānaṃ vuccati ṭhapanokāso, nidhānamassā atthīti nidhānavatī. hadaye nidhātabbayuttakaṃ vācaṃ bhāsitāti attho. Kālenāti evarūpiṃ bhāsamānopi ca — “ahaṃ nidhānavatiṃ vācaṃ bhāsissāmī”ti na akālena bhāsati, yuttakālaṃ pana apekkhitvāva bhāsatīti attho. Sāpadesanti saupamaṃ, sakāraṇanti attho. Pariyantavatinti paricchedaṃ dassetvā yathāssā paricchedo paññāyati, evaṃ bhāsatīti attho. Atthasaṃhitanti anekehipi nayehi vibhajantena pariyādātuṃ asakkuṇeyyatāya atthasampannaṃ bhāsati. Yaṃ vā so atthavādī atthaṃ vadati, tena atthena sahitattā atthasaṃhitaṃ vācaṃ bhāsati, na aññaṃ nikkhipitvā aññaṃ bhāsatīti vuttaṃ hoti.

Khoảng trống thiết lập được gọi là chứng cứ. Lời nói có chứng cứ: bởi vì cơ sở của lời nói ấy có tồn tại, có nghĩa là lời nói đáng được lưu giữ trong tâm. Hợp thời: và ngay cả khi nói lời nói bằng hình thức như vậy cũng không nói vào thời điểm không thích hợp với suy nghĩ rằng: – “Tôi sẽ nói lời nói có cơ sở”, có nghĩa là chỉ nói sau khi suy xét hợp thời. Có dẫn chứng: có so sánh, có ví dụ, có nguyên nhân. Có quy định: sau khi đã chỉ về quy định, nói theo cách được quy định của lời ấy, được nhận biết, có nghĩa là nói như vậy. Liên hệ đến lợi ích: Nới lời nói liên hệ đến lợi ích bởi vì người nói chia chẻ theo nhiều cách thức, cũng không thể đưa đến chấm dứt được, hơn nữa, nói lời nói liên hệ với lợi ích bởi vì gắn liền với lợi ích mà người nói đến lợi ích ấy đã nói đến, có lời giải thích rằng: không phải thiết lập một vấn đề rồi đi nói vấn đề khác.

  1. Bījagāmabhūtagāmasamārambhāti mūlabījaṃ khandhabījaṃ phaḷubījaṃ aggabījaṃ bījabījanti pañcavidhassa bījagāmassa ceva, yassa kassaci nīlatiṇarukkhādikassa bhūtagāmassa ca samārambhā, chedanabhedanapacanādibhāvena316[70] vikopanā paṭiviratoti attho.
  2. Tránh xa việc làm hại các hạt giống và các loài thảo mộc: tránh xa việc làm hại, là từ việc chặt đốn với tính chất của hành động như việc cắt bỏ, việc làm hại, và việc thiêu đốt v.v, đến năm loại hạt giống là mầm giống từ rễ, mầm giống từ thân, mầm giống từ mắt chồi, mầm giống từ phần ngọn, mầm giống từ hạt và các loại thảo mộc như cỏ, và cây xanh v.v, bất cứ một loại nào.

Ekabhattikoti pātarāsabhattaṃ sāyamāsabhattanti dve bhattāni, tesu pātarāsabhattaṃ antomajjhanhikena317[71] paricchinnaṃ, itaraṃ majjhanhikato uddhaṃ anto aruṇena. Tasmā antomajjhanhike dasakkhattuṃ bhuñjamānopi ekabhattikova hoti. taṃ sandhāya vuttaṃ “ekabhattiko”ti.

Ăn một bữa: có hai bữa ăn là bữa ăn nên thọ dụng vào buổi sáng, bữa ăn nên thọ dụng vào buổi chiều. Trong hai bữa ăn ấy bữa ăn nên thọ dụng vào bữa sáng được quy định vào thời gian buổi trưa (trước giờ ngọ), ngoài ra bữa ăn vào buổi chiều được quy định sau buổi trưa đến lúc mặt trời lặn. Vì thế, dù thọ dụng mười lần vào thời gian trước buổi trưa cũng được xem là vị thọ dụng một bữa. Nói rằng ‘ăn một bữa’ ám chỉ đến bữa ăn nên thọ dụng vào buổi sáng ấy.

Rattiyā bhojanaṃ ratti, tato uparatoti rattūparato. atikkante majjhanhike yāva sūriyatthaṅgamanā bhojanaṃ vikālabhojanaṃ nāma. Tato viratattā virato vikālabhojanā. Kadā virato? Anomānadītīre pabbajitadivasato paṭṭhāya.

Không ăn ban đêm: do từ bỏ việc thọ dụng vào ban đêm. Việc thọ dụng khi quá thời vào buổi trưa cho đến lúc mặt trời lặn gọi là thọ dụng phi thời. Tránh xa việc thọ dụng phi thời do kiêng tránh việc thọ dụng kiểu ấy. Kiêng tránh thế nào? Kiêng tránh kể từ ngày xuất gia tại bờ sông Anomā.

Sāsanassa ananulomattā visūkaṃ318[72] paṭāṇībhūtaṃ dassananti visūkadassanaṃ. Attanā naccananaccāpanādivasena naccā ca gītā ca vāditā ca antamaso mayūranaccādivasenapi pavattānaṃ naccādīnaṃ visūkabhūtā dassanā cāti naccagītavāditavisūkadassanā.

Naccādīni hi attanā payojetuṃ vā parehi payojāpetuṃ vā payuttāni passituṃ vā neva bhikkhūnaṃ na bhikkhunīnañca vaṭṭanti.

Việc xem trình diễn là kẻ địch của thiện: Bởi vì việc xem là kẻ thù, là kẻ địch do không đúng theo Giáo Pháp. Từ bỏ việc nhảy múa, ca hát, tấu nhạc và xem trình diễn: việc nhảy múa, ca hát, tấu nhạc và xem trình diễn bởi chính mình, với tác động tự mình nhảy múa và cho người khác nhảy múa v.v, và việc xem nhảy múa v.v, tận cùng diễn biến do tác động việc nhảy múa của chim công v.v, là kẻ thù nghịch. Thật vậy, việc tự mình bắt tay vào việc như nhảy múa v.v, hoặc cho người khác bắt tay vào việc, và việc nhìn họ thể hiện thật không thích hợp đối với chư tỳ khưu và đối với chư tỳ khưu ni.

Mālādīsu mālāti yaṃ kiñci pupphaṃ. Gandhanti yaṃ kiñci gandhajātaṃ. Vilepananti chavirāgakaraṇaṃ. tattha piḷandhanto dhāreti nāma, ūnaṭṭhānaṃ pūrento maṇḍeti nāma, gandhavasena chavirāgavasena ca sādiyanto vibhūseti nāma. Ṭhānaṃ vuccati kāraṇaṃ, tasmā yāya dussīlyacetanāya tāni mālādhāraṇādīni mahājano karoti, tato paṭiviratoti attho.

Trong các đồ trang sức có vòng hoa v.v, gọi là vòng hoa bao gồm bất cứ loài hoa nào. Hương thơm: bất cứ loại có hương thơm nào. Vật thoa: vật thoa lên da. Trong số các loại đồ trang sức ấy, trong khi trang điểm gọi là mang, đeo. Trong khi làm đây những phần thiếu hụt trên cơ thể gọi là chưng dọn. Trong khi vui sướng do tác động của vật thơm và do tác động của vật thoa lên da gọi là trang điểm. Lý do được gọi là ‘vị trí’, do đó, mới có ý nghĩa rằng phần đông mọi người thực hiện việc đeo vòng hoa v.v, ấy do ý định làm nhân đưa đến giới tồi nào thì Sa-môn Gotama đã dứt trừ ý định làm nhân dẫn đến giới tồi ấy.

Uccāsayanaṃ vuccati pamāṇātikkantaṃ. Mahāsayananti akappiyapaccattharaṇaṃ. tato

viratoti attho.

Chỗ nằm vượt quá kích thước gọi là chỗ nằm cao. Tấm trải không đúng phép gọi là chỗ nằm rộng lớn. Có nghĩa là tránh xa chỗ nằm (ngồi) cao, và chỗ nằm (ngồi) rộng lớn ấy.

Jātarūpanti suvaṇṇaṃ. Rajatanti kahāpaṇo, lohamāsako, jatumāsako, dārumāsakoti ye vohāraṃ gacchanti. tassa ubhayassāpi paṭiggahaṇā paṭivirato, neva naṃ uggaṇhāti, na uggaṇhāpeti, na upanikkhittaṃ sādiyatīti attho.

Jātarūpaṃ đồng nghĩa với suvaṇṇaṃ có nghĩa là vàng. Bạc: là đồng kahāpaṇa, đồng māsaka bằng đồng, đồng māsaka bằng gỗ, đồng māsaka bằng nhựa cánh kiến, bất cứ vật gì được sử dụng trong mua bán. Sa-môn Gotama tránh xe việc thọ nhận cả 2 là vàng và bạc, có nghĩa là Sa-môn Gotama không nhận lấy vàng và bạc, không để cho người khác nhận (giùm), (và) cũng không chấp nhận việc cất giữ vàng và bạc vì mình.

Āmakadhaññapaṭiggahaṇāti, sāli vīhi yava godhūma kaṅgu varaka kudrūsaka saṅkhātassa sattavidhassāpi āmakadhaññassa paṭiggahaṇā. na kevalañca etesaṃ paṭiggahaṇameva, āmasanampi bhikkhūnaṃ na vaṭṭatiyeva. Āmakamaṃsapaṭiggahaṇāti ettha aññatra odissa anuññātā āmakamaṃsamacchānaṃ paṭiggahaṇameva bhikkhūnaṃ na vaṭṭati, no āmasanaṃ. 

Tránh xa việc thọ nhận hạt sống nghĩa là tránh xa việc thọ nhận bảy loại hạt sống được đề cập là lúa sāli, lúa mùa, lúa mạch, lúa mì, kê, đậu varaka, hạt kudrūsaka. Không những việc thọ nhận những hạt sống ấy ngay cả việc cầm lấy cũng không thích hợp đối với chư tỳ khưu. Tránh xa việc thọ nhận thịt sống: ở đây, việc thọ nhận thịt và cá sống, trừ phi nơi được cho phép đặc biệt cũng không được đối với chư tỳ khưu, việc cầm lấy cũng không được.

Itthikumārikapaṭiggahaṇāti ettha itthīti purisantaragatā, itarā kumārikā nāma, tāsaṃ paṭiggahaṇampi āmasanampi akappiyameva.

Tránh xa việc thọ nhận đàn bà con gái này nghĩa là phụ nữ đã có người nam sở hữu gọi là đàn bà. Những người nữ còn lại gọi là con gái, cả việc thọ nhận và luôn cả việc nắm giữ đều không đúng phép.

Dāsidāsapaṭiggahaṇāti ettha dāsidāsavaseneva tesaṃ paṭiggahaṇaṃ319[73] na vaṭṭati. “kappiyakārakaṃ dammi, ārāmikaṃ dammī”ti evaṃ vutte pana vaṭṭati.

Tránh xa việc thọ nhận tớ trai và tớ gái này nghĩa là việc thọ nhận tớ trai và tớ ấy (ở vị trí) chỉ để làm người hầu nam và hầu nữ thì không được. Nhưng khi họ nói như vầy: “Xin cúng dường người cung cấp vật dụng thích hợp, xin cúng dường người giúp việc tu viện” thì được.

Ajeḷakādīsu khettavatthupariyosānesu kappiyākappiyanayo vinayavasena320[74] upaparikkhitabbo. Tattha khettaṃ nāma yasmiṃ pubbaṇṇaṃ ruhati. Vatthu nāma yasmiṃ aparaṇṇaṃ ruhati. Yattha vā ubhayampi ruhati, taṃ khettaṃ. Tadatthāya akatabhūmibhāgo vatthu. Khettavatthusīsena cettha vāpitaḷākādīnipi saṅgahitāneva.

Với cách thức đúng phép và không đúng phép trong việc thọ nhận tài sản như dê và cừu v.v, có ruộng vườn và đất đai là sau cùng nên cân nhắc theo Luật. Ở đây, ruộng nương nghĩa là nơi gieo trồng các loại thóc lúa. Đất đai nghĩa là nơi gieo trồng các loại rau xanh, đậu. Hơn nữa, cả hai khu vực (hạt giống) phát triển thì đều là ruộng, còn phần khu vực không sử dụng vì cả hai lợi ích ấy thì gọi là đất đại. Hoặc, ngay cả ao và hồ v.v, cũng được gom lại trong trường hợp này tương tự bằng việc đưa từ ruộng vườn và khu đất vào làm chủ đề.

Dūteyyaṃ vuccati dūtakammaṃ, gihīnaṃ pahitaṃ paṇṇaṃ vā sāsanaṃ vā gahetvā tattha tattha gamanaṃ. Pahiṇagamanaṃ vuccati gharā gharaṃ pesitassa khuddakagamanaṃ. Anuyogo nāma tadubhayakaraṇaṃ. Tasmā dūteyyapahiṇagamanānaṃ anuyogāti. Evamettha attho veditabbo.

Việc của sứ thần được gọi là việc đưa tin tức, việc nhận lấy thư từ hoặc tin tức của người tại gia sai đi từ nơi này đến nơi khác. Việc đi phục vụ từ nhà này đến nhà kia (làm) những việc lặt vặt được gọi là việc phục vụ. Việc thực hiện cả 2 ấy gọi là thường xuyên gắn liền, nên hiểu ý nghĩa ở trường hợp này như vầy: từ việc thường xuyên gắn liền với việc đưa tin tức và việc phục vụ.

Kayavikkayāti kayā ca vikkayā ca. Tulākūṭādīsu kūṭanti vañcanaṃ. Tattha tulākūṭaṃ nāma rūpakūṭaṃ aṅgakūṭaṃ, gahaṇakūṭaṃ, paṭicchannakūṭanti catubbidhaṃ hoti. Tattha rūpakūṭaṃ nāma dve tulā samarūpā katvā gaṇhanto mahatiyā gaṇhāti, dadanto khuddikāya deti. aṅgakūṭaṃ nāma gaṇhanto pacchābhāge hatthena tulaṃ akkamati, dadanto pubbabhāge. gahaṇakūṭaṃ nāma gaṇhanto mūle rajjuṃ gaṇhāti, dadanto agge. paṭicchannakūṭaṃ nāma tulaṃ susiraṃ katvā anto ayacuṇṇaṃ pakkhipitvā gaṇhanto taṃ pacchābhāge karoti, dadanto aggabhāge.

Kayavikkayā nghĩa là từ việc mua và việc bán. Trong tất cả việc gian lận có việc gian lận bằng việc cân đo v.v. việc gian lận gồm việc lừa gạt. Trong việc gian lận ấy được gọi là việc gian lận do cân đo có bốn là: (1) rūpakūṭaṃ - gian lận bằng hình thức, (2) aṅgakūṭaṃ - gian lận theo bằng các chi, (3) gahaṇakūṭaṃ - gian lận do cầm lấy và (4) paṭicchannakūṭaṃ - gian lận nhờ che giấu. Ở đó, việc sử dụng 2 cái cân có chung hình thức như nhau khi nhận thì mua bằng cái cân lớn, nhưng khi bán thì cho bằng cái cân nhỏ gọi là rūpakūṭa - gian lận bằng hình thức. Khi mua dùng tay nhấn vào phía sau cân, khi bán thì dùng tay nhấn vào phía trước cân gọi là aṅgakūṭaṃ - gian lận theo bằng các chi. Khi mua nắm giữ ở đầu dây, khi bán nắm giữ ở cuối dây gọi là gahaṇakūṭaṃ - gian lận do cầm lấy. Khoan lỗ ngay cán cân rồi đặt bột chì vào bên trong, khi mua di chuyển bột chì đến cuối cán cân, khi bán di chuyển bột chì đó đến đầu cán cân gọi là paṭicchannakūṭaṃ - gian lận nhờ che giấu.

Kaṃso vuccati suvaṇṇapāti, tāya vañcanaṃ kaṃsakūṭaṃ. Kathaṃ? ekaṃ suvaṇṇapātiṃ katvā aññā dve tisso lohapātiyo suvaṇṇavaṇṇe karoti, tato janapadaṃ gantvā kiñcideva aḍḍhaṃ kulaṃ pavisitvā — “suvaṇṇabhājanāni kiṇathā”ti vatvā agghe pucchite samagghataraṃ321[75] dātukāmā honti. Tato tehi — “kathaṃ imesaṃ suvaṇṇabhāvo jānitabbo”ti vutte, “vīmaṃsitvā gaṇhathā”ti suvaṇṇapātiṃ pāsāṇe ghaṃsitvā sabbā pātiyo datvā gacchati.

Khay vàng gọi là đồ đồng thiếc, việc gian lận bằng khay vàng ấy gọi là kaṃsakūṭa - gian lần bằng đồng thiếc. Gian lận như thế nào? Làm một cái khay vàng, rồi làm thêm 2-3 khay đồng thiếc sơn cho có màu tựa như vàng, sau đó đi đến vùng nông thôn tìm kiếm gặp một trong những gia đình giàu có và nói: – “Hãy mua một cái khay bằng vàng”. Khi bị người khác hỏi về giá cả, mong muốn bán (các khay) đồng giá. Sau đó khi họ hỏi rằng: “Làm thế nào có thể biết được những cái khay này được làm bằng vàng?” Mới nói rằng: “Hãy xem xét trước khi lấy” rồi lấy cái khay bằng vàng chà lên đá, đã bán hết các khay, rồi bỏ đi.

Mānakūṭaṃ nāma hadayabhedasikhābhedarajjubhedavasena tividhaṃ hoti. Tattha hadayabhedo sappitelādiminanakāle labbhati. Tāni hi gaṇhanto heṭṭhāchiddena mānena — “saṇikaṃ āsiñcā”ti vatvā antobhājane bahuṃ paggharāpetvā gaṇhāti, dadanto chiddaṃ pidhāya sīghaṃ pūretvā deti. 

Gian lận bằng dụng cụ đong đếm có ba loại là hadayabheda và sikhābheda rajjubheda. Trong ba loại ấy, việc gian lận bằng hadayabheda được sử dụng trong lúc đong dầu và bơ lỏng v.v. Bởi vì trong lúc nhận lấy bơ lỏng và dầu v.v, sử dụng dụng cụ để đong có một lỗ nhỏ phía dưới, nói (rằng) hãy từ từ rót để cho chúng chảy xuống thùng của tôi một cách nhanh chóng rồi lấy mang đi; khi bán thì đóng cái lỗ đó lại để đong cho nhanh đầy, rồi cho đi.

Sikhābhedo tilataṇḍulādiminanakāle labbhati. tāni hi gaṇhanto saṇikaṃ sikhaṃ ussāpetvā gaṇhāti, dadanto vegena pūretvā sikhaṃ chindanto deti. Rajjubhedo khettavatthuminanakāle labbhati. lañjaṃ alabhantā hi khettaṃ amahantampi mahantaṃ katvā minanti.

Việc gian lận bằng Sikhābheda được sử dụng trong lúc đong gạo và đong mè v.v, khi đong đo mè và gạo v.v, đó thì cũng đổ từ từ làm cho cao lên tạo thành đỉnh rồi lấy mang đi, khi đong đo để bán thì làm cho đầy nhanh chóng, cắt phần đỉnh rồi để cho đi. Việc gian lận bằng Rajjubheda được sử dụng trong lúc đo đạc ruộng vườn và đất đai v.v, bởi vì khi chưa nhận tiền thù lao, thì ruộng vườn kể cả không rộng lớn cũng làm cho rộng lớn.

Ukkoṭanādīsu ukkoṭananti assāmike sāmike kātuṃ lañjaggahaṇaṃ. Vañcananti tehi tehi upāyehi paresaṃ vañcanaṃ. Tatridamekaṃ vatthu — Eko kira luddako migañca migapotakañca gahetvā āgacchati, tameko dhutto — “Kiṃ bho, migo agghati, kiṃ migapotako”ti āha. “Migo dve kahāpaṇe, migapotako ekan”ti ca vutte ekaṃ kahāpaṇaṃ datvā migapotakaṃ gahetvā thokaṃ gantvā nivatto — “Na me bho, migapotakena attho, migaṃ me dehī”ti āha. Tena hi — dve kahāpaṇe dehīti. so āha — “nanu te bho, mayā paṭhamaṃ eko kahāpaṇo dinno”ti? “āma, dinno”ti. “idaṃ migapotakaṃ gaṇha, evaṃ so ca kahāpaṇo, ayañca kahāpaṇagghanako migapotakoti dve kahāpaṇā bhavissantī”ti. so “kāraṇaṃ vadatī”ti sallakkhetvā migapotakaṃ gahetvā migaṃ adāsīti.

Việc nhận hối lộ v.v, từ ‘hối lộ’ muốn nói đến việc nhận hối lộ nhằm mục đích làm cho người chủ không trở thành người chủ. Gian trá nghĩa là việc lừa dối người khác bằng cách này hay cách khác. Trong câu đó có câu chuyện minh họa như sau – Chuyện kể rằng, có một người thợ săn đã săn được thịt nai mẹ và cả thịt nai tơ. Một tên cướp đã nói với anh ta rằng: – “này ông bạn thịt nai này giá bao nhiêu? Còn giá của con nai tơ này bao nhiêu?” – Và người thợ săn trả lời: “Thịt nai mẹ 2 kahāpana, thị nai tơ 1 kahāpana” - tên cướp đã đưa cho người thợ săn 1 kahāpana rồi lấy một ít thịt nai tơ đi, đi được một lúc rồi quay trở lại nói với người thợ săn rằng: “Tôi không lấy thịt nai tơ này, ông hãy đưa cho tôi thịt nai mẹ”. Nếu vậy – ông hãy đưa tôi 2 kahāpana. Tên cướp nói rằng: “này ông bạn, tôi đã đưa cho ông 1 kahāpana rồi không phải sao? (người thợ săn) chấp nhận rằng “đủng, đưa rồi”, mới nói rằng ngài hãy lấy cục thịt này đi, nếu vậy kapāpana và cục thịt này giá 1 kahāpana thành 2 kahāpana.” Người thợ săn nghĩ rằng tên cướp nói có lý nhận lấy thịt nai tơ rồi đưa thịt nai mẹ cho tên cướp mang đi.

Nikatīti yogavasena vā māyāvasena vā apāmaṅgaṃ pāmaṅganti, amaṇiṃ maṇinti, asuvaṇṇaṃ suvaṇṇanti katvā patirūpakena vañcanaṃ. Sāciyogoti kuṭilayogo, etesaṃyeva ukkoṭanādīnametaṃ nāmaṃ. Tasmā — Ukkoṭanasāciyogo, vañcanasāciyogo, nikatisāciyogoti, evamettha attho daṭṭhabbo. Keci aññaṃ dassetvā aññassa parivattanaṃ sāciyogoti vadanti. Taṃ pana vañcaneneva saṅgahitaṃ.

Lừa đảo: sự lường gạt với những món đồ giả đã làm những món đồ vật không phải dây chuyền đeo cổ (nói là) dây chuyền đeo cổ, không phải ngọc mānī (nói là) ngọc mānī, không phải vàng (nói là) vàng do tác động của sự dính líu đến hoặc do tác động của sự gạt gẫm. Tráo trở: phương pháp gian lận, lời này cũng chính là cách gọi của việc nhận hối lộ v.v, Vì thế, nên hiểu ý nghĩa trong trường hợp này như vầy (rằng) - tráo trở là việc nhân hối lộ, tráo trở là gian trá, tráo trở là lừa đảo. Một số vị thầy nói rằng: việc miêu tả một thứ rồi đổi thành một thứ khác gọi là tráo trở. Tuy nhiên trong trường hợp này ngài kết hợp chung lại để chỉ sự gian trá.

Chedanādīsu chedananti hatthacchedanādi. Vadhoti māraṇaṃ. Bandhoti rajjubandhanādīhi bandhanaṃ. Viparāmosoti himaviparāmoso, gumbaviparāmosoti duvidho. Yaṃ himapātasamaye himena paṭicchannā hutvā maggappaṭipannaṃ janaṃ musanti, ayaṃ himaviparāmoso. Yaṃ gumbādīhi paṭicchannā musanti, ayaṃ gumbaviparāmoso. Ālopo vuccati gāmanigamādīnaṃ vilopakaraṇaṃ. Sahasākāroti 322[76]sāhasikakiriyā, gehaṃ pavisitvā manussānaṃ ure satthaṃ ṭhapetvā icchitabhaṇḍānaṃ gahaṇaṃ. Evametasmā chedana ... pe ... sahasākārā paṭivirato Samaṇo Gotamoti. Iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṃ vadamāno vadeyyāti.

Chém v.v, ‘chém’ gồm cả việc cắt đứt tay v.v. Giết: làm cho chết. Ràng buộc: ràng buộc với sự buộc chặt bằng sợi dây thừng v.v, Cướp bóc: việc cướp bóc có 2 cách là (1) cướp bóc nhờ tuyết che phủ, và (2) cướp bóc nhờ lùm cây che phủ. Khi tuyết rơi ẩn mình sau đóng tuyết để cướp giật những người đi đường, đây gọi là cướp bóc nhờ tuyết che phủ. Ẩn mình sau lùm cây để cướp giật, đây gọi là cướp bóc nơi lùm cây che phủ. Việc cướp đoạt (tài sản) của người dân trong làng và người dân ở thị trấn, v.v được gọi là cưỡng đoạt. Việc chấn lột: hành động bạo lực, sau khi xông thẳng vào nhà đã sử dụng vũ khí đâm vào ngực những người trong nhà rồi lấy đi những thứ họ muốn. Sa-môn Gotama tránh xa các hành động chém, giết, ràng buộc, cướp bóc, cưỡng đoạt, và chấn lột này như vậy. Này chư Tỳ khưu, phàm nhân trong lúc ca ngợi Như Lai có thể nói đến chỉ là như thế.

Phần Tiểu Giới Được Kết Thúc Chỉ Bấy Nhiêu
 

Giải Thích Trung Giới
  1. Idāni majjhimasīlaṃ vitthārento323[77] “yathā vā paneke bhonto”tiādimāha. tatrāyaṃ anuttānapadavaṇṇanā. Saddhādeyyānīti kammañca phalañca idhalokañca paralokañca saddahitvā dinnāni. ‘ayaṃ me ñātī’ti vā, ‘mitto’ti vā, idaṃ paṭikarissati, idaṃ vā tena katapubbanti vā, evaṃ na dinnānīti attho. Evaṃ dinnāni hi na saddhādeyyāni nāma honti. Bhojanānīti desanāsīsamattametaṃ, atthato pana saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā cīvarāni pārupitvā senāsanāni sevamānā gilānabhesajjaṃ paribhuñjamānāti sabbametaṃ vuttameva hoti.
  2. Bây giờ, đức Thế Tôn bắt đầu thuyết giảng phần Trung Giới đã nói rằng: “Hơn nữa, có một số tôn đức v.v.” Trong lời ấy có lời giải thích nghĩa của từ khó như sau – Bố thí với đức tin: người tin nghiệp và quả của nghiệp, đời này và đời sau, đã bố thí. Có nghĩa là họ không bố thí với mong muốn như vầy “người này là quyến thuộc của tôi” hoặc “người này là bạn của tôi”, hoặc “họ sẽ đền đáp điều này”, hoặc “Điều này họ đã từng làm”. Bởi vì các món ăn được bố thí như thế không gọi là bố thí với đức tin. Các món ăn: đây chỉ là tiêu đề của thời pháp, nhưng xét về nội dung thì điều này được nói toàn bộ: sau khi thọ dụng các món ăn, mặc y, sử dụng sàng tọa, thọ dụng thực phẩm trị bệnh được họ bố thí với đức tin.

Seyyathidanti nipāto. Tassattho katamo so bījagāmabhūtagāmo, yassa samārambhaṃ anuyuttā viharantīti. Tato taṃ dassento mūlabījantiādimāha. Tattha mūlabījaṃ nāma haliddi, siṅgiveraṃ324[78], vacā, vacattaṃ325[79], ativisā, kaṭukarohiṇī, usīraṃ, bhaddamuttakanti326[80] evamādi. Khandhabījaṃ nāma assattho, nigrodho, pilakkho, udumbaro, kacchako, kapitthanoti evamādi. Phaḷubījaṃ nāma ucchu, naḷo, veḷūti evamādi. Aggabījaṃ nāma ajjakaṃ327[81], phaṇijjakaṃ, hiriveranti evamādi. Bījabījaṃ nāma pubbaṇṇaṃ aparaṇṇanti evamādi. sabbañhetaṃ rukkhato viyojitaṃ viruhanasamatthameva “bījagāmo”ti vuccati. rukkhato pana aviyojitaṃ asukkhaṃ “bhūtagāmo”ti vuccati. Tattha bhūtagāmasamārambho pācittiyavatthu, bījagāmasamārambho dukkaṭavatthūti veditabbo.

Seyyathidaṃ (như là) là một phân từ. Có ý nghĩa như thế nào? Có ý nghĩa rằng: Có các mầm giống và các loài thảo mộc, mà một số các Sa-môn Bà-la-môn sống thường xuyên thực hành làm hại. Kể từ đó đức Thế Tôn trong khi thuyết giảng về các mầm giống và các loại thảo mộc mới nói rằng ‘mầm giống từ rễ v.v.’ Ở đó, mầm giống bắt đầu như vầy là củ nghệ, củ gừng, cây vacā, cây vacattaṃ, cây ngải cứu, cây kaṭukarohiṇī, cây usīraṃ, cỏ bhaddamuttakaṃ được gọi là mầm giống từ rễ. Mầm giống bắt đầu như vầy là cây đa, cây si, cây sung, cây cần thăng, cây vả, cây quách được gọi là mầm giống từ thân. Mầm giống bắt đầu như vầy là cây mía, cây sậy, cây tre được gọi là mầm giống từ mắt chồi. Mầm giống bắt đầu như vầy là cây húng quế, cây sả, củ hành tím được gọi là mầm giống từ phần ngọn. Mầm giống bắt đầu như vầy là hạt lúa, hạt bắp, hạt rau cải, được gọi là mầm giống từ hạt. Tất cả những loại mầm giống này sau khi được tách ra khỏi thân cây vẫn có khả năng nảy mầm được gọi là thảo mộc. Trong hai loại mầm giống ấy việc làm hại thảo mộc nên biết rằng là đối tượng phạm Pācittīya, việc làm hại mầm giống từ hạt là đối tượng phạm Dukkaṭa

  1. Sannidhikāraparibhoganti sannidhikatassa paribhogaṃ328[82]. Tattha duvidhā kathā, vinayavasena ca sallekhavasena ca. Vinayavasena tāva yaṃ kiñci annaṃ ajja paṭiggahitaṃ aparajju sannidhikārakaṃ hoti, tassa paribhoge pācittiyaṃ. Attanā laddhaṃ pana sāmaṇerānaṃ datvā, tehi laddhaṃ ṭhapāpetvā dutiyadivase bhuñjituṃ vaṭṭati, sallekho pana na hoti.
  2. Việc thọ dụng vật thực đã được tích trữ: Việc thọ dụng vật thực đã được tích trữ. Ở đó, có 2 điều nên nói, nói liên quan đến Luật và nói liên quan đến việc thực hành đoạn giảm. Nói liên quan đến Luật trước, bất kể loại vật thực nào đã được thọ nhận vào ngày hôm nay mà cất giữ cho ngày hôm sau, đây là việc tích trữ, khi thọ dụng vật thực ấy phạm Pācittīya. Nhưng đưa vật thực mà mình đã nhận được đến vị Sa-di, để cho những vị Sa-di ấy cất giữ, rồi sẽ thọ dụng vào ngày hôm sau, là được phép, tuy nhiên đó không phải là việc thực hành đoạn giảm.

Pānasannidhimhipi eseva nayo. Tattha pānaṃ nāma ambapānādīni aṭṭha pānāni, yāni ca tesaṃ anulomāni. Tesaṃ vinicchayo Samantapāsādikāyaṃ329[83] vutto.

Luôn cả việc tích trữ thức uống cũng có phương cách tương tự. Trong câu đó gọi là thức uống bao gồm tám loại thức uống có nước ép xoài v.v, và nước có thể hòa trộn với tám loại thức uống ấy. Việc phân biệt về các loại thức uống ấy tôi đã nói ở Samantapāsādikā thuộc chú giải Tạng Luật.

Vatthasannidhimhi anadhiṭṭhitaṃ avikappitaṃ sannidhi ca hoti, sallekhañca kopeti, ayaṃ pariyāyakathā. Nippariyāyato pana ticīvarasantuṭṭhena bhavitabbaṃ, catutthaṃ labhitvā aññassa dātabbaṃ. Sace yassa kassaci dātuṃ na sakkoti, yassa pana dātukāmo hoti, so uddesatthāya vā paripucchatthāya vā gato, āgatamatte dātabbaṃ, adātuṃ na vaṭṭati. Cīvare pana appahonte satiyā paccāsāya anuññātakālaṃ330[84] ṭhapetuṃ vaṭṭati. Sūcisuttacīvarakārakānaṃ alābhena tato parampi vinayakammaṃ katvā ṭhapetuṃ vaṭṭati. “Imasmiṃ jiṇṇe puna īdisaṃ kuto labhissāmī”ti pana ṭhapetuṃ na vaṭṭati, sannidhi ca hoti, sallekhañca kopeti.

Việc tích trữ vải vóc: y phục chưa được chú nguyện để dùng riêng và vẫn chưa được chú nguyện để dùng chung, đây là việc tích trữ, và gây cản trở cho việc thực hành đoạn giảm, đây là cách nói gián tiếp. Còn theo cách trực tiếp - Vị tỳ khưu nên thực hành lối sống tri túc với tam y, khi đã nhận được tấm y thứ tư nên cho (tấm y ấy) đến một vị khác, nếu như không thể cho đến bất cứ vị nào, nhưng nếu mong muốn cho đến một vị nào, vị đã đi vì lợi ích cho sự minh họa hoặc vì lợi ích cho việc vấn hỏi, khi trở về ông nên cho đi, không cho không đúng phép. Tuy nhiên khi y phục không đủ, nhưng có lòng mong muốn đạt được có thể cất giữ trong khoảng thời gian cho phép cũng được phép. Khi vẫn chưa có được kim chỉ và dụng cụ may y có thể cất giữ quá thời gian quy định cần phải thực hành theo vinayakamma mới đúng phép. Nhưng khi tấm y ấy đã cũ cất giữ để chờ đợi (với suy nghĩ) rằng: “Tôi sẽ nhận được tấm y như thế này ở đâu nữa” như thế không đúng phép, gọi là việc tích trữ và gây cản trở cho việc thực hành đoạn giảm.

Yānasannidhimhi yānaṃ nāma vayhaṃ, ratho, sakaṭaṃ, sandamānikā, sivikā, pāṭaṅkīti; Netaṃ pabbajitassa yānaṃ. Upāhanā pana pabbajitassa yānaṃyeva. ekabhikkhussa hi eko araññatthāya, eko dhotapādakatthāyāti, ukkaṃsato dve upāhanasaṅghāṭā vaṭṭanti. tatiyaṃ labhitvā aññassa dātabbo. “imasmiṃ jiṇṇe aññaṃ kuto labhissāmī”ti hi ṭhapetuṃ na vaṭṭati, sannidhi ca hoti, sallekhañca kopeti.

Việc tích trữ phương tiện đi lại, được gọi là xe bao gồm xe bò, xe kéo, xe hàng, xe ngựa, kiệu khiêng, ghế khiêng; Đây không phải là phương tiện của bậc xuất gia. Bậc xuất gia chỉ có một loại phương tiện mà thôi đó là đôi dép. Bởi vì một vị tỳ khưu nên sử dụng tối đa 2 đôi dép. Nhưng nếu cất giữ với suy nghĩ rằng: “Khi đôi này cũ, ta sẽ nhận được đôi khác ở đâu?” như thế không đúng phép. Được gọi là việc tích trữ và gây cản trở cho việc thực hành đoạn giảm.

Sayanasannidhimhi sayananti mañco. Ekassa bhikkhuno eko gabbhe, eko divāṭhāneti ukkaṃsato dve mañcā vaṭṭanti. tato uttari labhitvā aññassa bhikkhuno vā gaṇassa vā dātabbo; adātuṃ na vaṭṭati. Sannidhi ca hoti, sallekhañca kopeti.

Việc tích trữ sàng tọa, sàng tọa bao gồm giường nằm. Một vị tỳ khưu có giường nằm tối đa 2 cái, là một cái giường đặt ở trong phòng, (và) một cái giường đặt ở chỗ nghĩ ban ngày. (nếu) có được hơn thế nên cho đến vị tỳ khưu khác, hoặc đến hội chúng; không cho không đúng phép. Được gọi là việc tích trữ và gây cản trở cho việc thực hành đoạn giảm.

Gandhasannidhimhi bhikkhuno kaṇḍukacchuchavidosādi-ābādhe331[85] sati gandhā vaṭṭanti. te gandhe āharāpetvā tasmiṃ roge vūpasante aññesaṃ vā ābādhikānaṃ dātabbā, dvāre pañcaṅguligharadhūpanādīsu vā upanetabbā. “puna roge sati bhavissantī”ti pana ṭhapetuṃ na vaṭṭati, sannidhi332[86] ca hoti, sallekhañca kopeti.

Việc tích trữ hương liệu, khi vị tỳ khưu bệnh ung nhọt, ghẻ lở, và các bệnh về da v.v, sử dụng hương liệu, được phép. Khi hết bệnh nên cho những hương liệu ấy đến cho vị tỳ khưu bệnh khác hoặc nên đem đi sử dụng trong việc xông nhà bằng năm ngón tay v.v, ở cửa. Nhưng cất giữ với ý muốn rằng: “Khi bệnh lại sẽ có sử dụng” như thế không đúng phép, Được gọi là việc tích trữ và gây cản trở cho việc thực hành đoạn giảm.

Āmisanti vuttāvasesaṃ daṭṭhabbaṃ. Seyyathidaṃ, idhekacco bhikkhu — “tathārūpe kāle upakārāya bhavissatī”ti tila taṇḍula mugga māsa nāḷikera loṇa maccha maṃsa vallūra sappi tela guḷa bhājanādīni āharāpetvā ṭhapeti. So vassakāle kālasseva sāmaṇerehi yāguṃ pacāpetvā paribhuñjitvā “Sāmaṇera, udakakaddame dukkhaṃ gāmaṃ pavisituṃ, gaccha asukaṃ kulaṃ gantvā mayhaṃ vihāre nisinnabhāvaṃ ārocehi; Asukakulato dadhiādīni āharā”ti peseti. Bhikkhūhi — “kiṃ, bhante, gāmaṃ pavisissathā”ti vuttepi, “duppaveso, āvuso, idāni gāmo”ti vadati. te — “hotu, bhante, acchatha tumhe, mayaṃ bhikkhaṃ pariyesitvā āharissāmā”ti gacchanti. Atha sāmaṇeropi333[87] dadhiādīni āharitvā bhattañca byañjanañca sampādetvā upaneti, taṃ bhuñjantasseva upaṭṭhākā bhattaṃ pahiṇanti, tatopi manāpaṃ manāpaṃ bhuñjati. atha bhikkhū piṇḍapātaṃ gahetvā āgacchanti, tatopi manāpaṃ manāpaṃ gīvāyāmakaṃ bhuñjatiyeva. evaṃ catumāsampi vītināmeti. ayaṃ vuccati — “bhikkhu muṇḍakuṭumbikajīvikaṃ jīvati, na samaṇajīvikan”ti. evarūpo āmisasannidhi nāma hoti.

Ngoài những thứ đã nói nên biết rằng được gọi là tài vật. Như là, một vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này – sau khi cho mang bình đựng mè, gạo, đậu xanh, đậu nành, nước dừa, muối, cá, thịt, thịt phơi khô, bơ lỏng, dầu ăn và đường mía v.v, đến để cất giữ với suy nghĩ rằng: “Sẽ có để hỗ trợ trong thời gian như thế”. Khi vào mùa mưa, vào lúc sáng sớm vị ấy cho đến các vị Sa-di nấu cháo, sau khi ăn, sai biểu các vị Sa-di đi bằng mệnh lệnh như sau: “Này Sa-di, các con hãy đi vào làng nơi khó khăn do bùn lầy, sau khi đi đến gia đình ấy nói rằng: ‘ta ở tu viện hãy đem nước cam v.v, từ gia đình ấy đến.” Thậm chí khi chư tỳ khưu hỏi rằng: “Thưa đại đức, đại đức sẽ đi vào làng chứ?” - Vi ấy đáp rằng: “Này các sư đệ lúc này vào làng thật khó khăn”. - Các vị tỳ khưu nói rằng: “Thôi kệ đi, mời đại đức ở lại, chúng tôi sẽ tìm kiếm vật thực mang về cúng dường cho đại đức” rồi ra đi. Lúc đó, vị Sa-di đã mang nước cam v.v, đến, chuẩn bị cơm và thức ăn rồi đem đến cúng dường, khi đang thọ dụng vật thực thì nhóm người tùy tùng gửi các món ăn đến cúng dường. Ngài chỉ ăn những món ăn mình thích. Sau đó, các vị tỳ khưu đi bát khất thực trở về, ngài cũng chỉ ăn những món mình ưa thích đến nỗi ngập cổ họng. Vị ấy sống như thế suốt bốn tháng. Vị tỳ khưu này được gọi là – “có mạng sống sống kiểu triệu phú đầu trọc, không phải có mạng sống kiểu Sa-môn”. Vị tỳ khưu như vậy gọi là tích trữ tài vật.

Bhikkhuno pana vasanaṭṭhāne ekā taṇḍulanāḷi, eko guḷapiṇḍo, catubhāgamattaṃ sappīti ettakaṃ nidhetuṃ vaṭṭati, akāle sampattacorānaṃ atthāya. Te hi ettakampi āmisapaṭisanthāraṃ334[88] alabhantā jīvitāpi voropeyyuṃ, tasmā sace ettakaṃ natthi, āharāpetvāpi ṭhapetuṃ vaṭṭati. Aphāsukakāle ca yadettha kappiyaṃ, taṃ attanāpi paribhuñjituṃ vaṭṭati. Kappiyakuṭiyaṃ pana bahuṃ ṭhapentassāpi sannidhi nāma natthi. Tathāgatassa pana taṇḍulanāḷiādīsu vā yaṃ kiñci caturatanamattaṃ vā335[89] pilotikakhaṇḍaṃ “idaṃ me ajja vā sve vā bhavissatī”ti ṭhapitaṃ nāma natthi.

Hơn nữa, ở trú xứ của vị tỳ khưu chỉ có thể cất giữ được chừng này là một đấu gạo, một phên đường mía, bơ lỏng khoảng 4 phần vì lợi ích dành cho những tên cướp đến phi thời. Bởi vì bọn khi không nhận được sự tiếp đãi bằng vật chất chừng ấy có thể tước đoạt mạng sống, vì thế nếu như lương thực đi đường chỉ chừng ấy cũng không có, dù tự mình cho mang đến cất giữ cũng được phép. Hơn nữa, vào lúc không thoải mái, trong trú xứ có thứ nào làm thành được phép sẽ thọ dụng thứ ấy thậm chí một mình, cũng được phép. Nhà làm thành được phép dù cất giữ nhiều cũng không gọi là tích trữ. Tuy nhiên đối với Như Lai việc cất giữ bất kỳ một thứ nào dù một đấu gạo v.v, hoặc một tấm y cũ chừng một lóng tay với ý nghĩ rằng: “Thứ này sẽ có cùng ta vào ngày hôm nay hoặc ngày mai” là không có.

  1. Visūkadassanesu naccaṃ nāma yaṃ kiñci naccaṃ, taṃ maggaṃ gacchantenāpi gīvaṃ pasāretvā daṭṭhuṃ na vaṭṭati. Vitthāravinicchayo panettha Samantapāsādikāyaṃ vuttanayeneva veditabbo. Yathā cettha, evaṃ sabbesu sikkhāpadapaṭisaṃyuttesu suttapadesu. Ito parañhi ettakampi avatvā tattha tattha payojanamattameva vaṇṇayissāmāti.

Trong việc xem biểu diễn, khiêu vũ nghĩa là bất kỳ việc khiêu vũ nào, vị tỳ khưu kể cả đi qua con đường ấy liếc mắt nhìn cũng không đúng phép. Hơn nữa, việc xét xử chi tiết trong trường hợp này nên biết theo cùng một phương cách đã được nói trong Samantapāsādikā Chú giải Tạng Kinh và trong các câu kinh liên quan đến tất cả các điều học giới cũng nên hiểu cách xét xử đồng nhất với trường hợp này, về sau bắt đầu từ đây trở đi sẽ không nói nhiều (các từ nhỏ nhặt) mà sẽ giải thích cho đủ lợi ích chính ngay trong câu đó.

Pekkhanti naṭasamajjaṃ336[90]. Akkhānanti bhāratayujjhanādikaṃ337[91]. Yasmiṃ ṭhāne kathīyati, tattha gantumpi na vaṭṭati. Pāṇissaranti kaṃsatāḷaṃ, pāṇitāḷantipi vadanti. Vetāḷanti ghanatāḷaṃ, mantena matasarīruṭṭhāpanantipi eke. Kumbhathūṇanti caturassāmbaṇakatāḷaṃ, kumbhasaddantipi eke. Sobhanakanti naṭānaṃ abbhokkiraṇaṃ, sobhanakaraṃ338[92] vā, paṭibhānacittanti vuttaṃ hoti. Caṇḍālanti ayoguḷakīḷā, caṇḍālānaṃ sāṇadhovanakīḷātipi vadanti. Vaṃsanti veḷuṃ ussāpetvā kīḷanaṃ.

Kịch: những trò tiêu khiển như nhảy múa v.v. Kể chuyện: việc đánh giặc của vua Mahābhārada và nói về chuyện Rāma cướp nàng Sitā v.v. Vị tỳ khưu dù đi đến nơi mà họ đang kể chuyện cũng không đúng phép. Pāṇissara: lắc khánh, một số vị thầy nói là việc vỗ tay. Vetāḷa: đánh cồng chiêng, một số vị thầy nói là việc đánh thức xác chết cho đứng dậy bằng chú thuật. Đánh trống: đánh trống lớn bốn mặt, một số vị thầy nói là âm thanh cái nồi. Vở kịch: vở kịch hoặc hình ảnh đất nước xinh đẹp, được nói đến là những hình ảnh gợi cảm. Trò chơi với banh sắt: trò chơi ném banh sắt, một số vị thầy nói là việc giặt giũ áo vỏ cây của nhóm người hạ tiện. Trò tung hứng tre: trò chơi tung hứng tre.

Dhovananti aṭṭhidhovanaṃ, ekaccesu kira janapadesu kālaṅkate339[93] ñātake na jhāpenti, nikhaṇitvā ṭhapenti. Atha nesaṃ pūtibhūtaṃ kāyaṃ ñatvā nīharitvā aṭṭhīni dhovitvā gandhehi makkhetvā ṭhapenti. Te nakkhattakāle ekasmiṃ ṭhāne aṭṭhīni ṭhapetvā ekasmiṃ ṭhāne surādīni ṭhapetvā rodantā paridevantā suraṃ pivanti. Vuttampi cetaṃ — “Atthi, bhikkhave, dakkhiṇesu janapadesu aṭṭhidhovanaṃ nāma, tattha hoti annampi pānampi khajjampi bhojjampi leyyampi340[94] peyyampi naccampi gītampi vāditampi. Atthetaṃ, bhikkhave, dhovanaṃ, netaṃ natthīti vadāmī”ti341[95]. Ekacce pana indajālena aṭṭhidhovanaṃ dhovanantipi342[96] vadanti.

Trò chơi trước xác chết: bốc cốt rửa xương. Tương truyền ở một số vùng nông thôn khi thân quyến chết, họ không đem thiêu mà mang đi chôn cất, sau khi biết được xác chết ấy đã bị phân hủy, họ đem cái xác đó ra để rửa phần xương cốt, thoa vật thơm, rồi cất giữ. Vào ngày làm lễ Nakkhatta họ đặt phần xương cốt ở một chỗ, đặt rượu một chỗ, rồi cùng nhau khóc than, bi lụy (và) uống rượu. Và điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến – “Này các tỳ khưu, tại các quốc độ miền Nam, có trò chơi trước xác chết. Tại đấy có các món ăn, có các thức uống, các đồ ăn loại cứng, các đồ ăn loại mềm, đồ nếm, đồ uống, nhảy múa, ca hát, đờn nhạc. Này các tỳ khưu, đây là trò chơi trước xác chết, Ta không tuyên bố lễ bốc cốt rửa xương ấy không có.” Tuy nhiên một số vị thầy nói rằng: lễ bốc cốt rửa xương với trò chơi quỷ thuật được gọi là trò chơi trước xác chết.

Hatthiyuddhādīsu bhikkhuno neva hatthiādīhi saddhiṃ yujjhituṃ, na te yujjhāpetuṃ, na yujjhante daṭṭhuṃ vaṭṭati. Nibbuddhanti mallayuddhaṃ. Uyyodhikanti yattha sampahāro dissati. Balagganti balagaṇanaṭṭhānaṃ. Senābyūhanti senāniveso, sakaṭabyūhādivasena senāya nivesanaṃ. Anīkadassananti — “tayo hatthī pacchimaṃ hatthānīkan”tiādinā343[97] nayena vuttassa anīkassa dassanaṃ.

Đấu voi v.v, việc chiến đấu bằng voi, hay việc sử dụng voi đấu nhau, (hoặc) việc nhìn voi đấu với nhau, đều không đúng phép đối với chư tỳ khưu. Đấu vật: việc đấu nhau của các đô vật. Nơi tập trận: nơi nào chiến chiến đấu được nhìn thấy. Nơi đóng quân: nơi có binh lính chiến đấu. Nơi dàn binh: việc sắp xếp đội quan, là việc thành lập một đội quân có khả năng sắp xếp một đội quân như xa binh, v.v. Xem sự điều quân : Việc xem điều quân được ngài nói theo phương cách sau: “Ít nhất là ba con voi được gọi là tượng binh”.

  1. Pamādo ettha tiṭṭhatīti pamādaṭṭhānaṃ. Jūtañca taṃ pamādaṭṭhānañcāti jūtappamādaṭṭhānaṃ. Ekekāya pantiyā aṭṭha aṭṭha padāni assāti aṭṭhapadaṃ dasapadepi eseva nayo. Ākāsanti aṭṭhapadadasapadesu viya ākāseyeva kīḷanaṃ. parihārapathanti bhūmiyaṃ nānāpathamaṇḍalaṃ katvā tattha tattha pariharitabbaṃ, pathaṃ pariharantānaṃ kīḷanaṃ. Santikanti santikakīḷanaṃ344[98]. ekajjhaṃ ṭhapitā sāriyo vā sakkharāyo vā acālentā nakheneva apanenti ca upanenti ca, sace tattha kāci calati, parājayo hoti, evarūpāya kīḷāyetaṃ adhivacanaṃ. Khalikanti jūtaphalake pāsakakīḷanaṃ. Ghaṭikā vuccati dīghadaṇḍakena rassadaṇḍakaṃ paharaṇakīḷanaṃ. Salākahatthanti lākhāya vā mañjiṭṭhikāya345[99] vā piṭṭhodakena vā salākahatthaṃ temetvā — “kiṃ hotū”ti bhūmiyaṃ vā bhittiyaṃ vā taṃ paharitvā hatthiassādirūpadassanakīḷanaṃ. Akkhanti guḷakīḷā. Paṅgacīraṃ vuccati paṇṇanāḷikaṃ, taṃ dhamantā kīḷanti. Vaṅkakanti gāmadārakānaṃ kīḷanakaṃ khuddakanaṅgalaṃ. Mokkhacikā vuccati samparivattanakīḷā, ākāse vā daṇḍakaṃ gahetvā bhūmiyaṃ vā sīsaṃ ṭhapetvā heṭṭhupariyabhāvena parivattanakīḷāti vuttaṃ hoti. Ciṅgulikaṃ vuccati tālapaṇṇādīhi kataṃ vātappahārena paribbhamanacakkaṃ. Pattāḷhakaṃ vuccati paṇṇanāḷikā. Tāya vālukādīni minantā kīḷanti. Rathakanti khuddakarathaṃ. Dhanukanti khuddakadhanumeva. Akkharikā vuccati ākāse vā piṭṭhiyaṃ vā akkharajānanakīḷā. Manesikā nāma manasā cintitajānanakīḷā. Yathāvajjaṃ nāma kāṇakuṇikhujjādīnaṃ yaṃ yaṃ vajjaṃ, taṃ taṃ payojetvā dassanakīḷā.

Là nơi thiết lập sự xao lãng: bởi vì làm nơi để thiết lập sự xao lãng. Việc chơi cờ bạc làm nơi thiết lập của sự xao lãng, vì thế gọi là việc chơi cờ bạc làm chỗ thiết lập của sự xao lãng. Chơi cờ gọi là việc chơi cờ mỗi hàng có tám ô bởi tám ô ở mỗi hàng, ngay cả việc chơi cờ mỗi hàng có mười ô cũng có cách thức tương tự. Đánh chắt: trò chơi đánh chắt tương tự như việc chơi cờ mỗi hàng tám ô, mỗi hàng mười ô. Chơi nhảy lò cò: Trò chơi người ta vẽ ra nhiều vòng thành nhiều hàng với nhau ở trên mặt đất, nhảy lò cò trong những vòng tròn đó. Khều sỏi thăng bằng: chơi gần gần nhau bằng cách lấy những vỏ ốc hoặc những hòn sỏi chồng lại với nhau, không cho nhúc nhích, dùng móng tay khều ra và khều vào, nếu làm một số hạt trong số đó nhúc nhích là thua, đây là tên gọi của trò chơi kiểu đó. Gieo súc sắc: Trò chơi gieo súc sắc trên miếng sứ tròn. Chơi đánh khăng: Chơi bằng cách dùng khúc cây dài đánh vào khúc cây ngắn gọi là chơi đánh khăng. Rải màu nước đoán hình: Một trò chơi được chơi bằng cách lấy nhựa cánh kiến hoặc màu sơn, hoặc bột ướt nhúng tay vào chỗ nắm giữ thẻ gỗ đoán rằng – “là hình ảnh gì?” đập xuống đất hoặc vào tường phơi bày ra hình ảnh con voi, con ngựa v.v. Chơi bóng tròn: Chơi bóng tròn. Trò chơi thổi kèn được làm bằng lá cây ấy được gọi là chơi thổi kèn bằng lá. Kéo cày: Một chiếc cày nhỏ làm đồ chơi của những đứa trẻ trong làng. Nhào lộn: nhào lộn qua nhào lộn lại, được mô tả rằng nắm giữ thanh gỗ đặt trên không trung hoặc đặt đầu trên mặt đất, chơi nhào lộn bằng cách lấy phần dưới đặt lên trên, lấy phần trên để xuống dưới. Chơi chong chóng: trò chơi vòng quay được xoay tròn nhờ vào sức gió thổi được làm bằng lá cọ v.v. Lấy một cái ống được làm bằng lá cây, chơi trò đong cát v.v, được gọi là trò đong cát. Chơi xe con: chơi những chiếc xe nhỏ. Chơi bắn cung: chính là chơi trò bắn cung nhỏ. Chơi để đoán biết những chữ cái trên hư không hoặc trên lưng được gọi là trò chơi đoán chữ. Trò chơi để đoán biết vấn đề được suy nghĩ bởi tâm được gọi là trò chơi đoán ý. Trò chơi được chơi bằng cách bắt chước lại điệu bộ của những người dị tật chẳng hạn như người mù v.v, được gọi là trò chơi bắt chước điệu bộ

  1. Āsandinti pamāṇātikkantāsanaṃ. Anuyuttā viharantīti idaṃ apekkhitvā pana sabbapadesu upayogavacanaṃ kataṃ. Pallaṅkoti pādesu vāḷarūpāni ṭhapetvā kato. Gonakoti dīghalomako mahākojavo, caturaṅgulādhikāni kira tassa lomāni. Cittakanti vānavicittaṃ uṇṇāmayattharaṇaṃ. Paṭikāti uṇṇāmayo setattharaṇo346[100]. Paṭalikāti ghanapupphako uṇṇāmayattharaṇo. Yo āmalakapattotipi347[101] vuccati. Tūlikāti tiṇṇaṃ tūlānaṃ aññatarapuṇṇā tūlikā. Vikatikāti sīhabyagghādirūpavicitro uṇṇāmayattharaṇo. Uddalomīti ubhayatodasaṃ uṇṇāmayattharaṇaṃ, keci “ekato-uggatapupphan”ti348[102] vadanti. Ekantalomīti ekatodasaṃ uṇṇāmayattharaṇaṃ. keci “ubhatouggatapupphan”ti vadanti. Kaṭṭissanti ratanaparisibbitaṃ koseyyakaṭṭissamayaṃ349[103] paccattharaṇaṃ. Koseyyanti ratanaparisibbitameva kosiyasuttamayapaccattharaṇaṃ. suddhakoseyyaṃ pana vaṭṭatīti vinaye vuttaṃ. Dīghanikāyaṭṭhakathāyaṃ pana “ṭhapetvā tūlikaṃ sabbāneva gonakādīni ratanaparisibbitāni na vaṭṭantī”ti vuttaṃ.
  2. Giường có chân vượt quá kích cỡ: sàng tọa quá kích thước. Hơn nữa, được chuyển thành Đối Cách trong tất cả câu nhắm đến cụm từ “sống thường xuyên sử dụng v.v.” Giường có chân được làm hình thù thú dữ: giường được làm hình thú dữ ở chân. Tấm thảm bằng lông thú: tấm thảm lớn có lông dài. Được biết rằng tấm thảm lớn ấy có lông dài hơn 4 lóng tay. Tấm thảm được làm bằng lông cừu xinh đẹp: Tấm thảm được làm bằng lông cừu trang trí với hàng trăm loại sợi chỉ. Tấm thảm được làm bằng lông cừu màu trắng: Tấm thảm màu trắng được làm bằng lông cừu. Tấm thảm được làm bằng lông cừu thêu bông hoa: Tấm thảm được làm bằng lông cừu thêu bông hoa dày đặc, một số người gọi là hình ảnh lá me rừng như thế cũng có. Tấm thảm bông gòn: Tấm thảm được nhồi đầy với bất kỳ 1 trong 3 loại bông gòn. Tấm thảm được làm bằng lông cừu thêu hình các con thú: Tấm thảm được làm bằng lông cừu, thêu hình con sư tử và con cọp v.v. Tấm thảm được làm bằng lông cừu có lông dựng đứng: Tấm thảm được làm bằng lông cừu ở hai góc hai bên, một số vị nói rằng ‘là hình ảnh bông hoa giương lên ở cùng một phía’. Tấm thảm được làm bằng lông cừu có lông ở một bên: Tấm thảm được làm bằng lông cừu ở một góc, một số vị nói rằng ‘là hình ảnh bông hoa giương lên ở hai bên’. Tấm thảm có đính ngọc: Tấm thảm được làm bằng tơ lụa, viền mép đính ngọc. Thảm lụa: Tấm thảm được làm bằng sợi tơ lụa, viền mép đính ngọc tương tự, còn tấm vải hoàn toàn bằng tơ lụa được thuyết ở Tạng Luật thì không được phép. Còn trong Chú giải Trường Bộ nói rằng: ngoại trừ những tấm thảm nhồi bông thì tấm thảm được dệt bằng châu báu có tấm thảm được làm bằng lông thú v.v, tất cả đều không được phép”.

Kuttakanti soḷasannaṃ nāṭakitthīnaṃ ṭhatvā naccanayoggaṃ uṇṇāmayattharaṇaṃ. Hatthattharaṃ assattharanti hatthiassapiṭṭhīsu attharaṇa attharakāyeva350[104]. Rathattharepi eseva nayo. Ajinappaveṇīti ajinacammehi mañcappamāṇena sibbitvā katā paveṇī. Kadalīmigapavarapaccattharaṇanti kadalīmigacammaṃ nāma atthi, tena kataṃ pavarapaccattharaṇaṃ; uttamapaccattharaṇanti attho. Taṃ kira setavatthassa upari kadalīmigacammaṃ pattharitvā sibbetvā karonti. Sauttaracchadanti saha uttaracchadena, uparibaddhena rattavitānena saddhinti attho. Setavitānampi heṭṭhā akappiyapaccattharaṇe sati na vaṭṭati, asati pana vaṭṭati. Ubhatolohitakūpadhānanti sīsūpadhānañca pādūpadhānañcāti mañcassa ubhatolohitakaṃ upadhānaṃ, etaṃ na kappati. Yaṃ pana ekameva upadhānaṃ ubhosu passesu rattaṃ vā hoti padumavaṇṇaṃ vā vicitraṃ vā, sace pamāṇayuttaṃ, vaṭṭati. mahāupadhānaṃ pana paṭikkhittaṃ. Alohitakāni dvepi vaṭṭantiyeva. Tato uttari labhitvā aññesaṃ dātabbāni. Dātuṃ asakkonto mañce tiriyaṃ attharitvā upari paccattharaṇaṃ datvā nipajjitumpi labhati. āsandīādīsu pana vuttanayeneva paṭipajjitabbaṃ. Vuttañhetaṃ — “Anujānāmi, bhikkhave, āsandiyā pāde chinditvā paribhuñjituṃ, pallaṅkassa vāḷe bhinditvā paribhuñjituṃ, tūlikaṃ vijaṭetvā bimbohanaṃ kātuṃ, avasesaṃ bhummattharaṇaṃ kātun”ti351[105].

Tấm thảm lớn có thể chứa mười sáu người nhảy múa: Tấm thảm được làm bằng lông cừu đủ để mười sáu vũ công đứng nhảy múa. Thảm lót lưng voi, thảm lót lưng ngựa: Tấm thảm được sử dụng để lót trên lưng voi, lưng ngựa. Luôn cả tấm thảm lót trên xe cũng có phương cách tương tự. Tấm thảm được làm bằng da cọp: Tấm thảm được may bằng da cọp vừa đủ kích thước chiếc giường. Tấm thảm được làm bằng da nai giống quý: Tấm thảm được làm bằng da nai giống quý, có nghĩa là tấm thảm loại quý giá nhất. Được biết rằng tấm thảm ấy được họ trải ra rồi may tấm da nai trên tấm vải trắng. Tấm thảm có mái che ở trên: Tấm thảm cùng với mái che ở bên trên, tức là với mái che màu đỏ được gắn ở bên trên, kể cả mái che màu trắng, khi có tấm thảm không thích hợp ở bên dưới cũng không được phép, nhưng nến không có thì được phép. Tấm thảm có gối hai bên: Tấm thảm có gối ở hai bên giường, là gối bông kê đầu và gối bông kê chân, điều đó không được phép. Còn cái gối chỉ có một ở hai bên có màu đỏ, hoặc màu hoa sen, hoặc có hoa văn, nếu có kích cỡ thích hợp, được phép. Còn cái gối lớn ngài không cho phép. Thậm chí cả hai cái gối không có màu đỏ cũng được phép. Có được hơn hai cái nên cho đến vị tỳ khưu khác. Khi không thể cho, dù trải chắn ngang ở trên giường, trải tấm thảm phía trên rồi nằm cũng được. Và nên thực hiện theo cách thức được nói về vấn đề cái giường có chân hơn kích cỡ ấy. Bởi điều này đã được nói như sau: – “Này các tỳ khưu, ta cho phép sử dụng sau khi cắt ngắn các chân giường vượt quá kích cỡ, cho phép sử dụng sau khi đã phá hủy hình ảnh thú dữ của giường, cho phép tháo gỡ nệm bông gòn để làm gối, cho phép dùng làm thảm lót trên nền đất các vật còn lại.”

  1. Ucchādanādīsu mātukucchito nikkhantadārakānaṃ sarīragandho dvādasavassapattakāle352[106] nassati353[107], tesaṃ sarīraduggandhaharaṇatthāya gandhacuṇṇādīhi ucchādenti, evarūpaṃ ucchādanaṃ na vaṭṭati. Puññavante pana dārake ūrūsu nipajjāpetvā telena makkhetvā hatthapādaūrunābhiādīnaṃ saṇṭhānasampādanatthaṃ parimaddanti, evarūpaṃ parimaddanaṃ na vaṭṭati.
  2. Thoa mình v.v, mùi cơ thể của đứa bé mới lọt lòng mẹ sẽ biến mất sau khoảng 12 năm, vì vậy mọi người mới thoa lên mình bột thơm v.v, để khử mùi hôi trên cơ thể của những đứa trẻ sơ sinh, việc thoa mình bằng hình thức như vậy không đúng phép. Hơn nữa, nếu như đứa bé có phước báu, họ cho nằm ở giữa hai chân dùng dầu xoa bóp các chi phần để cho tay, chân, bắp vế, bụng v.v, được cân xứng, việc xoa bóp bằng hình thức như thế không phù hợp.

Nhāpananti tesaṃyeva dārakānaṃ gandhādīhi nhāpanaṃ354[108]. Sambāhananti mahāmallānaṃ viya hatthapāde muggarādīhi paharitvā bāhuvaḍḍhanaṃ. Ādāsanti yaṃ kiñci ādāsaṃ pariharituṃ na vaṭṭati. Añjananti alaṅkārañjanameva. Mālāti baddhamālā vā abaddhamālā vā. Vilepananti yaṃ kiñci chavirāgakaraṇaṃ. Mukhacuṇṇaṃ mukhalepananti mukhe kāḷapīḷakādīnaṃ haraṇatthāya mattikakakkaṃ denti, tena lohite calite sāsapakakkaṃ denti, tena dose khādite tilakakkaṃ denti, tena lohite sannisinne haliddikakkaṃ denti, tena chavivaṇṇe ārūḷhe mukhacuṇṇakena mukhaṃ cuṇṇenti, taṃ sabbaṃ na vaṭṭati.

Tắm rửa: việc tắm rửa giống như tắm bằng nước thơm v.v, cho chính đứa trẻ ấy. Đấm bóp: đấm bóp giống như những võ sĩ hạng nặng dùng búa v.v, đánh vào chân, làm cho cánh tay to lên. Soi gương: không nên sử dụng bất kỳ loại gương nào. Chấm con mắt: Chính là chấm mắt làm cho xinh đẹp. Vòng hoa: những bông hoa được bó lại, những bông hoa không được bó lại. Vật thoa: bất kỳ loại nào làm tôn lên vẻ đẹp của làng da. Thoa phấn vào mặt, xoa dầu vào mặt: mọi người bôi một loại bùn mịn để che nốt ruồi và mụn v.v, ở trên gương mặt, khi máu huyết đã được lưu thông bởi lớp bùn mịn ấy họ sẽ bôi một loại bột hạt rau cải, khi toàn bộ phần bột hạt rau cải đã hư họ sẽ bôi một lớp bột mè, khi máu huyết được điều hòa bởi lớp một mè ấy, họ sẽ bôi một lớp bột nghệ, khi màu da trở nên tươi đẹp bởi lớp bột nghệ họ sẽ thoa lên mặt bằng một loại bột thoa mặt, tất cả việc làm ấy đều không đúng phép.

Hatthabandhādīsu hatthe vicitrasaṅkhakapālādīni bandhitvā vicaranti, taṃ vā aññaṃ vā sabbampi hatthābharaṇaṃ na vaṭṭati, apare sikhaṃ bandhitvā vicaranti. Suvaṇṇacīrakamuttalatādīhi ca taṃ parikkhipanti; taṃ sabbaṃ na vaṭṭati. Apare catuhatthadaṇḍaṃ vā aññaṃ vā pana alaṅkatadaṇḍakaṃ gahetvā vicaranti, tathā itthipurisarūpādivicittaṃ bhesajjanāḷikaṃ suparikkhittaṃ vāmapasse olaggitaṃ; apare kaṇṇikaratanaparikkhittakosaṃ atitikhiṇaṃ asiṃ, pañcavaṇṇasuttasibbitaṃ makaradantakādivicittaṃ chattaṃ, suvaṇṇarajatādivicitrā morapiñchādiparikkhittā upāhanā, keci ratanamattāyāmaṃ caturaṅgulavitthataṃ kesantaparicchedaṃ dassetvā meghamukhe vijjulataṃ viya nalāṭe uṇhīsapaṭṭaṃ bandhanti, cūḷāmaṇiṃ dhārenti, cāmaravālabījaniṃ dhārenti, taṃ sabbaṃ na vaṭṭati.

Vòng đeo tay v.v, một số người đã đeo vòng tay được làm từ vỏ sò và sành sứ v.v, rồi đi du hành, những đồ trang sức đeo tay ấy, hoặc loại khác đều không đúng phép, còn một số người khác lại buộc ngọn tóc để đi du hành. Và lấy sợi dây màu vàng kim, dây leo mutta v.v, buộc xung quanh ngọn tóc; toàn bộ điều đó không đúng phép. Một số người cầm gậy dài bốn cánh tay hoặc các loại cây gậy khác, có thân được trang trí xinh đẹp rồi đi du hành, ống đựng thuốc ở xung quanh được trang trí đẹp mắt với các hình ảnh nam nữ v.v, đeo ở bên hông trái; Luôn cả thanh gươm vô cùng sắc bén có vỏ bao bọc bằng châu báu được làm thành hình ảnh chùm bông Kaṇṇikā, cây dù được may với năm loại chỉ màu với một bức họa giống hình răng loài rồng v.v. Đôi dép bằng vàng và bạc được bao xung quanh bởi màu sắc óng ánh của đuôi công v.v. Một số buông xõa tóc xuống dài khoảng một gang tay rộng bốn lóng tay đội một chiếc khăn xếp trên trán tương tự như tia chớp trong áng mây, cài trâm, mang lấy cây quạt lông đuôi con sơn dương và cây phất trần. Tất cả những điều đó là không đúng phép.

  1. Aniyyānikattā saggamokkhamaggānaṃ tiracchānabhūtā kathāti tiracchānakathā. Tattha rājānaṃ ārabbha Mahāsammato Mandhātā Dhammāsoko evaṃ mahānubhāvotiādinā nayena pavattā kathā rājakathā. esa nayo corakathādīsu. Tesu asuko rājā abhirūpo dassanīyotiādinā nayena gehassitakathāva tiracchānakathā hoti. sopi nāma evaṃ mahānubhāvo khayaṃ gatoti evaṃ pavattā pana kammaṭṭhānabhāve tiṭṭhati. Coresu Mūladevo evaṃ Mahānubhāvo, Meghamālo evaṃ mahānubhāvoti tesaṃ kammaṃ paṭicca aho sūrāti gehassitakathāva tiracchānakathā. Yuddhepi bhāratayuddhādīsu asukena asuko evaṃ mārito, evaṃ viddhoti kāmassādavaseneva kathā tiracchānakathā. Tepi nāma khayaṃ gatāti evaṃ pavattā pana sabbattha kammaṭṭhānameva hoti. Api ca annādīsu evaṃ vaṇṇavantaṃ gandhavantaṃ rasavantaṃ phassasampannaṃ khādimha bhuñjimhāti kāmassādavasena kathetuṃ na vaṭṭati. Sātthakaṃ pana katvā pubbe evaṃ vaṇṇādisampannaṃ annaṃ pānaṃ vatthaṃ sayanaṃ mālaṃ gandhaṃ sīlavantānaṃ adamha, cetiye pūjaṃ karimhāti kathetuṃ vaṭṭati. Ñātikathādīsu pana “amhākaṃ ñātakā sūrā samatthā”ti vā “pubbe mayaṃ evaṃ vicitrehi yānehi vicarimhā”ti vā assādavasena vattuṃ na vaṭṭati. Sātthakaṃ pana katvā “tepi no ñātakā khayaṃ gatā”ti vā “pubbe mayaṃ evarūpā upāhanā saṅghassa adamhā”ti vā kathetuṃ vaṭṭati355[109]. Gāmakathāpi suniviṭṭha dunniviṭṭha subhikkha dubbhikkhādivasena vā “asukagāmavāsino sūrā samatthā”ti vā evaṃ assādavasena na vaṭṭati. sātthakaṃ pana katvā “saddhā pasannā”ti vā “khayavayaṃ gatā”ti vā vattuṃ vaṭṭati. Nigama-nagara-janapada-kathādīsupi eseva nayo.
  2. Nói chuyện thế tục bởi là những lời nói cản trở con đường đến thiên giới và con đường đến Nibbāna vì không phải pháp làm nhân thoát khỏi khổ. Trong những câu chuyện về thế tục ấy thì chuyện liên quan đến đức vua theo phương thức được bắt đầu như sau: “Đức vua Mahāsammata, đức vua Mandhātā, đức vua Dhammāsoka có đại oai lực”. Trong câu chuyện về tên cướp cũng có phương thức tương tự như thế. Lời nói liên quan đến đời sống tại gia có phương cách được bắt đầu như sau: “Trong các vị vua ấy thì vị vua kia có kim thân xinh đẹp đáng chiêm ngưỡng”, đây được gọi là nói chuyện thế tục. Tuy nhiên câu chuyện được nói như vầy rằng: “đức vua có hồng danh ấy, có đại oai lực như thế đã băng hà” như vậy (được xếp vào) việc thiết lập tính chất nghiệp xứ. Ngay cả câu chuyện về kẻ trộm thì lời nói liên quan đến đời sống tại gia rằng: “Ồ! thật gan dạ, dựa vào hành động của những tên cướp cho rằng: ‘tên cướp tên là Mūladeva có đại oai lực như vậy, tên trộm tên là Meghamāla có đại oai lực như vậy’” đây được gọi là nói chuyện thế tục. Thậm chí câu chuyện về chiến tranh có câu chuyện đánh giặc của vua Mahābhārada v.v, lời nói liên quan đến sự ưa thích trong câu chuyện đoán rằng: “người này bị người kia giết như vầy, đâm như vầy”, đây được gọi là nói chuyện thế tục. Tuy nhiên câu chuyện được nói như vầy: “Mặc dù người tên này đi đến sự chấm dứt (mạng sống)” được xếp vào nghiệp xứ, tất cả câu chuyện đều như thế. Hoặc là câu chuyện về thức ăn v.v, việc nói liên quan đến sự hài lòng trong những món ưa thích: “Tôi nhai, tôi thọ dụng thức ăn có màu sắc đẹp, có hương thơm lừng, có vị ngon đậm đà, có sự xúc chạm như vậy ” là không phù hợp. Tuy nhiên việc nói đưa đến lợi ích rằng: “Trong quá khứ tôi đã cúng dường thức ăn, nước uống, vải vóc, chỗ nằm, vòng hoa, vật thơm đầy đủ màu sắc v.v, đến vị có giới đức, tôi đã lễ bái bảo tháp như vầy, như thế là phù hợp. Hơn nữa, câu chuyện về thân quyến v.v, việc nói liên quan đến sự hài lòng rằng “Thân quyến của chúng tôi can đảm, có khả năng” hoặc “trước đây tôi đã đi du hành bằng cỗ xe xinh đẹp như vậy” là không thích hợp. Tuy nhiên nên nói đưa đến lợi ích rằng: “Thân quyến của chúng tôi mặc dù đã chết” hoặc “trước đây tôi đã cúng dường đôi dép như vậy đến chư Tăng”. Ngay cả câu chuyện về làng xóm v.v, nói chuyện về làng xóm liên quan đến chuyện sau: “sống an trú thoải mái, sống an trú không thoải mái, vật thực kiếm được dễ dàng, và vật thực rất khó kiếm v.v.” hoặc “Người dân làng kia dũng cảm, có khả năng” là không phù hợp. Nhưng nói đưa đến lợi ích rằng: “Người dân làng kia có đức tin, có lòng tịnh tín” hoặc “đã đi đến sự chấm dứt, sự hoại diệt” là phù hợp. Thậm chí nói đến câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về phố phường, câu chuyện về quốc độ cũng có phương thức tương tự như vậy.

Itthikathāpi vaṇṇasaṇṭhānādīni paṭicca assādavasena na vaṭṭati, saddhā pasannā khayavayaṃ gatāti evameva vaṭṭati. Sūrakathāpi ‘Nandimitto nāma yodho sūro ahosī’ti assādavasena na vaṭṭati. Saddho ahosi khayaṃ gatoti evameva vaṭṭati. Visikhākathāpi “asukā visikhā suniviṭṭhā dunniviṭṭhā sūrā samatthā”ti assādavasena na vaṭṭati. Saddhā pasannā khayavayaṃ gatāti evameva vaṭṭati.

Kể cả câu chuyện về đàn bà liên quan đến sự thỏa thích do dựa vào màu da và hình dáng v.v, không phù hợp. Nhưng nói như vầy: “người phụ nữ kia có đức tin, có lòng tịnh tín cũng đi đến sự chấm dứt, sự hoại diệt” là phù hợp. Ngay cả câu chuyện về vị anh liên quan đến sự ưa thích rằng: “Người chiến sĩ tên là Nandimitta là người dũng mãnh” là không phù hợp. Nhưng nói như vầy: “người chiến sĩ dũng mãnh có đức tin, có lòng tịnh tín cũng đi đến sự chấm dứt, sự hoại diệt” là phù hợp. Luôn cả câu chuyện về đường xá liên quan đến sự thỏa thích rằng: “Đường xá kia được xây dựng tốt, xây dựng không tốt, có người dũng cảm, có người có năng lực” là không phù hợp. Nhưng nói rằng: “Người dũng cảm, người có khả năng ở con đường ấy có đức tin, có lòng tịnh tín cũng phải đi đến sự chấm dứt, sự hoại diệt” là phù hợp.

Kumbhaṭṭhānakathāti udakaṭṭhānakathā, udakatitthakathātipi vuccati, kumbhadāsikathā vā, sāpi “pāsādikā naccituṃ gāyituṃ chekā”ti assādavasena na vaṭṭati; Saddhā pasannātiādinā nayeneva vaṭṭati. Pubbapetakathāti atītañātikathā. Tattha vattamānañātikathāsadiso vinicchayo.

Nói đến chuyện đặt ghè nước, nói đến chuyện bến nước được gọi là Câu chuyện tại chỗ lấy nước, hoặc nói đến câu chuyện về nàng Kumbhadāsī, thậm chí câu chuyện về nàng Kumbhadāsī nói liên quan đến sự thỏa thích rằng: “Nàng Kumbhadāsī dễ thương, tài giỏi trong việc nhảy múa, ca hát” là không phù hợp, mà nói theo cách sau: “Nàng Kumbhadāsī có đức tin, có lòng tịnh tín…” là phù hợp. Câu chuyện về người đã chết là nói đến chuyện thân quyến đã mất, lý giải câu chuyện về người đã chết cũng tương tự với câu chuyện nói đến người còn tại tiền.

Nānattakathāti purimapacchimakathāhi vimuttā avasesā nānāsabhāvā niratthakakathā. Lokakkhāyikāti ayaṃ loko kena nimmito, asukena nāma nimmito. Kāko seto, aṭṭhīnaṃ setattā; Balākā356[110] rattā. Lohitassa rattattāti evamādikā lokāyatavitaṇḍasallāpakathā.

Câu chuyện linh tinh là nói đến câu chuyện vô ích có các trạng thái khác nhau, còn lại nằm ngoài lời nói của câu chuyện trước và câu chuyện sau. Bàn luận về sự tạo lập thế gian là đàm luận về thế giới khoa học và những vấn đề nằm ngoài kinh điển được bắt đầu như sau: “Thế giới này do ai kiến tạo, thế giới này người kia kiến tạo, con quạ màu trắng do xương trắng, con cò nhuộm đỏ do máu đỏ.”

Samuddakkhāyikā nāma kasmā samuddo sāgaro? sāgaradevena khato, tasmā sāgaro. Khato meti hatthamuddāya sayaṃ niveditattā “samuddo”ti evamādikā niratthakā samuddakkhāyanakathā. Bhavoti vuḍḍhi. Abhavoti hāni. Iti bhavo, iti abhavoti yaṃ vā taṃ vā niratthakakāraṇaṃ vatvā pavattitakathā itibhavābhavakathā.

Bàn luận về sự hình thành của biển cả là vô ích được bắt đầu như sau: Tại sao gọi là đại dương? vì sao gọi là biển cả? do vua Sāgaradeva đã đào vì thế gọi là biển cả, được gọi là đại dương bởi vì đã tuyên bố bằng đầu ngón tay rằng: ‘tôi đã đào,’ được gọi là bàn luận về sự hình thành của biển cả. Sự phát triển gọi là bhava, sự suy thoái gọi là abhava. Lời nói nói đến chuyện nguyên nhân dẫn đến mất lợi ích rằng Sự phát triển do nguyên nhân này, sự suy thoái do nguyên nhân này, như vậy gọi là câu chuyện về sự phát triển và sự suy thoái như vầy hay là như vầy.

  1. Viggāhikakathāti viggahakathā357[111], sārambhakathā. Tattha sahitaṃ meti mayhaṃ vacanaṃ sahitaṃ siliṭṭhaṃ atthayuttaṃ kāraṇayuttanti attho. Asahitaṃ teti tuyhaṃ vacanaṃ asahitaṃ asiliṭṭhaṃ. Adhiciṇṇaṃ te viparāvattanti yaṃ tuyhaṃ dīgharattāciṇṇavasena suppaguṇaṃ, taṃ mayhaṃ ekavacaneneva viparāvattaṃ parivattitvā ṭhitaṃ, na kiñci jānāsīti attho.
  2. Thực hành việc tranh cãi: nói lời phân tranh, nói lời tranh đua. Lời nói của tôi hữu ích: có nghĩa là lời nói của tôi có lợi ích, trơn tru chải chuốt, liên hệ với kết quả, liên hệ với nguyên nhân. Lời nói của ông vô ích: lời nói của ông không có lợi ích, không trơn tru chải chuốt. Tập quán thực hành của ông bị đảo ngược: Những điều mà ông rất thông thạo do mãnh lực đã từng tích lũy bấy lâu đã bị đảo ngược, đã bị bóp méo, chỉ với một lời duy nhất của tôi, ông vẫn chưa biết gì cả.

Āropito te vādoti mayā tava doso358[112] āropito. Cara vādappamokkhāyāti dosamocanatthaṃ cara, vicara; tattha tattha gantvā sikkhāti attho. Nibbeṭhehi vā sace pahosīti atha sayaṃ pahosi, idānimeva nibbeṭhehīti.

Học thuyết của ông bị lên án: học thuyết sai lầm của ông đã tôi bị lên án. Ông hãy hành xử cho việc thoát ra khỏi luận thuyết (của ông): để thoát khỏi lỗi lầm ông hãy hành xử, hãy cư xử; hãy tìm đến học tập điều đó. Hoặc ngươi hãy gỡ rối nếu ngươi có khả năng: Nếu bản thân ông có khả năng hãy giải thích ngay lúc này.

  1. Dūteyyakathāyaṃ idha gacchāti ito asukaṃ nāma ṭhānaṃ gaccha. Amutrāgacchāti tato asukaṃ nāma ṭhānaṃ āgaccha. Idaṃ harāti ito idaṃ nāma hara. Amutra idaṃ āharāti asukaṭṭhānato idaṃ nāma idha āhara. Saṅkhepato pana idaṃ dūteyyaṃ nāma ṭhapetvā pañca sahadhammike ratanattayassa upakārapaṭisaṃyuttañca gihīsāsanaṃ aññesaṃ na vaṭṭati.
  2. Việc đi hoặc phái người khác đi đưa tin, ‘hãy đi đến nơi này’: hãy đi từ chỗ này đến chỗ có tên như thế kia. ‘hãy đi từ nơi kia’: hãy đi từ chỗ ấy đến chỗ có tên như thế kia. Hãy mang đi cái này: hãy mang chuyện này đi từ chỗ này. Hãy mang lại cái này từ nơi kia: hãy mang chuyện này từ ở chỗ kia lại nơi này. Hơn nữa nói vắn tắt gọi là việc làm bản thân trở thành sứ giả này, trừ ra năm hạng người đồng đạo và thông điệp của người cư sĩ liên hệ đến sự trợ giúp Tam Bảo là thích hợp, đối với nhóm người khác là không thích hợp.
  3. Kuhakātiādīsu tividhena kuhanavatthunā lokaṃ kuhayanti, vimhāpayantīti kuhakā. Lābhasakkāratthikā hutvā lapantīti lapakā. Nimittaṃ sīlametesanti nemittikā. nippeso sīlametesanti nippesikā. Lābhena lābhaṃ nijigīsanti magganti pariyesanttīti lābhena lābhaṃ nijigīsitāro. Kuhanā, lapanā, nemittikatā, nippesikatā, lābhena lābhaṃ nijigīsanatāti etāhi samannāgatānaṃ puggalānaṃ etaṃ adhivacanaṃ. Ayamettha saṅkhepo. Vitthārena panetā kuhanādikā visuddhimagge sīlaniddeseyeva pāḷiñca aṭṭhakathañca āharitvā pakāsitāti.
  4. Gạt gẫm v.v, được gọi là nói lời gạt gẫm bởi vì lừa gạt người đời, khiến họ cảm thấy kinh ngạc bằng ba cách dối trá. Người nói có ý muốn được lợi lộc và sự cung kính là siểm nịnh. Những gợi ý một cách tự nhiên, tính chất của người ra hiệu là gợi ý. Làm ra những đường lối lừa gạt bằng những hành động gạt gẫm một cách tự nhiên, tính chất đó gọi là lừa bịp. Lấy lợi câu lợi do trao đổi, tìm kiếm, lục tìm bao gồm sự tầm cầu lợi lộc bằng lợi lộc, tính chất của việc đó gọi là việc thèm muốn lợi lộc bằng lợi lộc. Đây là cách gọi của hạng người gắn liền với việc gạt gẫm, siểm nịnh, gợi ý, lừa bịp, việc thèm muốn lợi lộc bằng lợi lộc. Ở đây, điều này có ý nghĩa vắn tắt, hơn nữa những điều này có sự lừa đảo đã được đem lại cả Pāḷī và Chú đã được giải thích chi tiết ở phần Diễn Giải về Giới trong bộ Thanh Tịnh Đạo.

Phần Trung Giới Được Kết Thúc Chỉ Bấy Nhiêu
 

Giải Thích Phần Đại Giới
  1. Ito paraṃ mahāsīlaṃ hoti. Aṅganti hatthapādādīsu yena kenaci evarūpena aṅgena samannāgato dīghāyu yasavā hotītiādinayappavattaṃ aṅgasatthaṃ. Nimittanti nimittasatthaṃ. Paṇḍurājā kira tisso muttāyo muṭṭhiyaṃ katvā nemittikaṃ pucchi — “kiṃ me hatthe”ti? So ito cito ca vilokesi, tasmiñca samaye gharagolikāya makkhikā gayhantī359[113] muttā, so “muttā”ti āha. Puna “katī”ti puṭṭho kukkuṭassa tikkhattuṃ ravantassa saddaṃ sutvā “tisso”ti āha. Evaṃ taṃ taṃ ādisitvā nimittamanuyuttā viharanti.
  2. Về sau kể từ đây là Đại Giới. Xem tướng tay chân: Cẩm nang xem tướng được diễn biến theo phương cách bắt đầu như sau: “Người gắn bó với các chi phần có tay và chân bằng bất cứ hình thức nào để đoán biết sự trường thọ, sự vinh hiển. Điềm báo hiệu: Cẩm nang dự đoán về điềm báo. Tương truyền rằng đức vua Paṇḍu cầm 3 viên ngọc trai rồi hỏi thầy bói rằng: – “Cái gì nằm trong bàn tay của trẫm?” Thầy bói xem tướng ấy ngoáy nhìn chỗ này chỗ nọ và trong lúc ấy một con ruồi bị một con thằn lằn tha đi, kẻ ấy đã đáp rằng: “viên ngọc trai”. - Đức vua hỏi tiếp “có bao nhiêu viên?” - sau khi nghe tiếng gà gáy 3 lần đã đáp rằng “3 viên”. Một số Sa-môn Bà-la-môn sống thường xuyên thực hành đoán tướng dẫn chứng cẩm nang đoán tướng thế này thế kia như vậy.

Uppātanti asanipātādīnaṃ mahantānaṃ uppatitaṃ360[114], tañhi disvā “idaṃ bhavissati, evaṃ bhavissatī”ti ādisanti. Supinanti yo pubbaṇhasamaye supinaṃ passati, evaṃ vipāko hoti; yo idaṃ nāma passati, tassa idaṃ nāma hotītiādinā nayena supinakaṃ anuyuttā viharanti. Lakkhaṇanti iminā lakkhaṇena samannāgato rājā hoti, iminā uparājātiādikaṃ. Mūsikacchinnanti undūrakhāyitaṃ. Tenāpi hi ahate vā vatthe anahate vā vatthe ito paṭṭhāya evaṃ chinne idaṃ nāma hotīti ādisanti. Aggihomanti evarūpena dārunā evaṃ hute idaṃ nāma hotīti aggijuhanaṃ361[115]. Dabbihomādīnipi aggihomāneva, evarūpāya dabbiyā īdisehi kaṇādīhi hute idaṃ nāma hotīti evaṃ pavattivasena pana visuṃ vuttāni.

Dự đoán về tiếng sấm sét: dự đoán hiện tượng lớn chẳng hạn như sấm chớp đánh xuống. Một số Sa-môn Bà-la-môn nhìn thấy như thế rồi dự đoán rằng: “Sẽ có chuyện này, sẽ trở thành như vầy”. Dự đoán về điềm mộng: Một số Sa-môn Bà-la-môn sống thường xuyên thực hành dự đoán về giấc mơ theo phương cách như sau: “Người mơ vào buổi sáng sẽ có kết quả như vậy, người mơ như thế sẽ gặp vấn đề này”. Dự đoán về tướng mạo: Cẩm nang dự đoán về tướng mạo bắt đầu rằng: “Vị hội đủ tướng mạo này sẽ trở thành vua, với tướng mạo này sẽ trở thành phó vương.” Dự đoán về dấu chuột cắn: Cẩm nang dự đoán về dấu chuột cắn vải vóc. Bởi vì khi vải vóc dù bị những con chuột tha mang đi hoặc không tha mang thì vết cắn như thế kể từ đây trở đi sẽ gặp vấn đề thế này. Thực hiện nghi thức tế thần lửa: Nghi thức tế thần lửa - “sử dụng củi như vầy, tế thần lửa như vầy, sẽ có kết quả như này”. Nghi thức đốt nến làm lễ gọi hồn: đây cũng chính là nghi thức tế thần lửa, Một  bộ phận cho biết Với khả năng được như vậy, Khi sử dụng kính dưới ánh nến, bạn có thể thấy thứ gì đó như thế này. Dùng những đồ vật như thế này để thờ lửa. Sẽ có hiệu ứng tên này, nói đến một bộ phận do tác động của sự vận hành như vầy: khi sử dụng đế nến có hình thức như vậy, sử dụng đồ cúng có cám v.v, như thế để tế thần lửa sẽ có kết quả thế này.

Tattha kaṇoti kuṇḍako. Taṇḍulāti sāliādīnañceva tiṇajātīnañca taṇḍulā. Sappīti gosappiādikaṃ. Telanti tilatelādikaṃ. Sāsapādīni pana mukhena gahetvā aggimhi pakkhipanaṃ, vijjaṃ parijappitvā juhanaṃ vā mukhahomaṃ. Dakkhiṇakkhakajaṇṇulohitādīhi juhanaṃ lohitahomaṃ. Aṅgavijjāti pubbe aṅgameva disvā byākaraṇavasena aṅgaṃ vuttaṃ, idha aṅgulaṭṭhiṃ362[116] disvā vijjaṃ parijappitvā ayaṃ kulaputto vā no vā, sirīsampanno vā no vātiādibyākaraṇavasena aṅgavijjā vuttā. Vatthuvijjāti gharavatthuārāmavatthādīnaṃ guṇadosasallakkhaṇavijjā. mattikādivisesaṃ disvāpi hi vijjaṃ parijappitvā heṭṭhā pathaviyaṃ tiṃsaratanamatte, ākāse ca asītiratanamatte padese guṇadosaṃ passanti. Khattavijjāti abbheyya-māsurakkha-rājasatthādisatthaṃ363[117]. Sivavijjāti susāne pavisitvā santikaraṇavijjā, siṅgālarutavijjātipi364[118] vadanti. Bhūtavijjāti bhūtavejjamanto. Bhūrivijjāti bhūrighare vasantena uggahetabbamanto. Ahivijjāti sappadaṭṭhatikicchanavijjā ceva sappāvhāyanavijjā ca. Visavijjāti yāya, purāṇavisaṃ vā rakkhanti, navavisaṃ vā karonti visavantameva365[119] vā. Vicchikavijjāti vicchikadaṭṭhatikicchanavijjā. Mūsikavijjāyapi eseva nayo. Sakuṇavijjāti sapakkhakāpakkhakadvipadacatuppadānaṃ rutagatādivasena sakuṇañāṇaṃ. Vāyasavijjāti kākarutañāṇaṃ, taṃ visuññeva satthaṃ, tasmā visuṃ vuttaṃ.

Ở đó, cám trong nghi thức ấy gồm cám gạo. Gạo: gạo của gạo sālī v.v, và các loại cỏ. Bơ lỏng: bơ lỏng từ sữa bò v.v. Dầu: dầu mè v.v. Hơn nữa, việc ngậm hạt cải v.v, phun vào đống lửa, hoặc đọc chú thuật thổi vào đống lửa được gọi là thực hiện nghi thức đọc thần chú để tế thần lửa. Việc cúng tế máu của xương đòn và đầu gối bên phải v.v, gọi là cúng tế máu. Khoa bói tướng chi tiết: Điều đầu tiên nói đến các chi đã được nhìn thấy trước rồi mới tiên đoán, ở đây đề cập đến kiến thức bói tướng bằng cách nhìn xương, ngón tay, rội đọc thần chú tuyên bố rằng: “thiện nam tử này có tài sản hay không? hoặc có thành tựu quyền quý hay không?” Khoa xem địa lý: Kiến thức xem bói xác định ưu điểm và nhược điểm của việc xây dựng nhà cửa và vị trí đất vườn v.v. Thậm chí sau khi nhìn thấy sự khác biệt của loại đất

v.v. cũng đọc thần chú để nhìn ưu điểm và nhược điểm ở dưới bề mặt quả địa cầu, trong hư không khoảng 30 hắc tay và bề mặt đất khoảng 80 hắc tay. Xem đặc điểm ở ruộng: Kiến thức về luật học có khoa học abbheyya, khoa học māsurakkha, và khoa học rājasattha v.v. Khoa cầu thần ban phước: kiến thức với việc đi vào thực hành sự yên tĩnh ở nghĩa địa, một số vị nói là kiến thức nhận biết tiếng tru của chó sói. Khoa cầu ma quỷ: chú thuật của các thầy phù thủy. Khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất: Những bùa chú dùng ở trong nhà cần phải học. Kiến thức về rắn: kiến thức chữa trị người bị rắn cắn và kiến thức gọi rắn. Kiến thức về thuốc độc: Kiến thức dùng để chữa trị các loại độc dược cũ và điều trị các loại độc dược mới hoặc để chế tạo các loại độc dược khác. Kiến thức về bọ cạp: Kiến thức để chữa trị loài bọ cạp cắn. Ngay cả kiến thức về loài chuột cũng có phương thức tương tự. Kiến thức về chim chóc: nhận biết về tiếng các loài chim chóc do nhận biết được tiếng hót và việc di chuyển v.v, của loài có cánh và không có cánh, loài 2 chân cũng như loài bốn chân. Kiến thức về loài quạ: Nhận biết được tiếng loài quạ, sự hiểu biết ấy là một phần của cẩm nang, vì thế được nói riêng biệt.

Pakkajjhānanti paripākagatacintā. idāni “ayaṃ ettakaṃ jīvissati, ayaṃ ettakan”ti evaṃ pavattaṃ ādiṭṭhañāṇanti366[120] attho. Saraparittāṇanti sararakkhaṇaṃ, yathā attano upari na āgacchati, evaṃ karaṇavijjā. Migacakkanti idaṃ sabbasaṅgāhikaṃ sabbasakuṇacatuppadānaṃ rutañāṇavasena vuttaṃ.

Dự đoán về tuổi thọ: Kiến thức cùng sự suy nghĩ, có nghĩa là sự hiểu biết về điều mà bản thân không nhìn thấy lúc bấy giờ diễn ra như vầy “Người này sẽ sống được chừng này, còn người này thì chừng này”. Chú thuật bảo vệ khỏi bị trúng tên: Kiến thức để tránh khỏi, tức là kiến thức làm cho mũi tên không bắn trúng người được. Dự đoán tiếng loài thú: điều này nói gộp chung tất cả loài thú bằng cách nhận biết được tiếng hót của tất cả loài chim và tiếng của tất cả loài thú bốn chân.

  1. Maṇilakkhaṇādīsu evarūpo maṇi pasattho, evarūpo apasattho, sāmino ārogyaissariyādīnaṃ hetu hoti, na hotīti, evaṃ vaṇṇasaṇṭhānādivasena maṇiādīnaṃ lakkhaṇaṃ anuyuttā viharantīti attho. Tattha āvudhanti ṭhapetvā asiādīni avasesaṃ āvudhaṃ. Itthilakkhaṇādīnipi yamhi kule te itthipurisādayo vasanti, tassa vuḍḍhihānivaseneva veditabbāni. Ajalakkhaṇādīsu pana evarūpānaṃ ajādīnaṃ maṃsaṃ khāditabbaṃ, evarūpānaṃ na khāditabbanti ayaṃ viseso veditabbo.
  2. Bói tướng ngọc ma-ni: Một số Sa-môn Bà-la-môn duy trì sự sống bằng việc nuôi mạng sai trái bằng việc bói tướng ngọc ma-ni v.v, nhờ tác động màu sắc và hình dáng v.v, như vầy: ‘loại ngọc ma-ni có hình thức như vầy tốt, có hình thức như vầy không tốt, đây là nguyên nhân, đây không phải là nguyên làm nhân, để chủ nhân hết khỏi tật bệnh và đạt được sự thịnh vượng.’ Ở đó, vũ khí loại trừ các vật sắc bén như đao kiếm v.v, các loại còn lại gọi là vũ khí. Ngay cả việc bói tướng nữ nhân v.v, cũng nên biết do tác động sự hưng thịnh và sự suy thoái của các gia đình mà người nam và người nữ ấy chung sống ấy. Còn việc bói tướng dê nên biết có sự khác biệt này: “Thịt của loài vật như dê v.v, như vầy có thể ăn, như vầy không nên ăn.”

Api cettha godhāya lakkhaṇe cittakammapiḷandhanādīsupi evarūpāya godhāya sati idaṃ nāma hotīti ayaṃ viseso veditabbo. Idañcettha vatthu — ekasmiṃ kira vihāre cittakamme367[121] godhaṃ aggiṃ dhamamānaṃ akaṃsu. tato paṭṭhāya bhikkhūnaṃ mahāvivādo jāto. Eko āgantukabhikkhu taṃ disvā makkhesi. Tato paṭṭhāya vivādo mandībhūto hoti. Kaṇṇikalakkhaṇaṃ piḷandhanakaṇṇikāyapi gehakaṇṇikāyapi vasena veditabbaṃ. Kacchapalakkhaṇaṃ godhālakkhaṇasadisameva. Migalakkhaṇaṃ sabbasaṅgāhikaṃ sabbacatuppadānaṃ lakkhaṇavasena vuttaṃ.

Hoặc là, ở đây trong việc bói tướng kỳ nhông nên biết có sự khác biệt này ngay cả hình ảnh hội họa và đồ dùng trang trí v.v, khi con kỳ nhông có hình thức như thế sẽ có kết quả như này. Và điều này, ở đây có câu chuyện như sau – Kể rằng ở một tự viện họ họa một bức ảnh là ảnh một con kỳ nhông đang phun lửa kể từ đó trở đi các vị tỳ khưu đã khởi lên cuộc tranh cãi dữ dội. Một vị tỳ khưu khách sau khi nhìn thấy bức họa đó đã xóa đi. Từ đó thì việc tranh cãi cũng được dịu đi. Việc bói tướng trục chống (đặt trên nóc nhà) nên biết do thuận theo trục chống để trang trí, (hoặc) trục chống (hình đầu rồng được đặt) trên mái nhà. Việc bói tướng rùa: cũng giống như việc bói tướng kỳ nhông. Việc bói tướng thú vật: nói gộp chung các loài theo tướng trạng của tất cả loài thú bốn chân.

  1. Raññaṃ niyyānaṃ bhavissatīti asukadivase asukanakkhattena asukassa nāma rañño niggamanaṃ bhavissatīti evaṃ rājūnaṃ pavāsagamanaṃ368[122] byākaroti. Esa nayo sabbattha. Kevalaṃ panettha aniyyānanti vippavutthānaṃ puna āgamanaṃ. Abbhantarānaṃ raññaṃ upayānaṃ bhavissati, bāhirānaṃ raññaṃ apayānanti antonagare amhākaṃ rājā paṭiviruddhaṃ bahirājānaṃ upasaṅkamissati, tato tassa paṭikkamanaṃ bhavissatīti evaṃ raññaṃ upayānāpayānaṃ byākaroti. Dutiyapadepi eseva nayo. Jayaparājayā pākaṭāyeva.
  2. Tiên đoán sẽ có sự xuất hành của đức vua: Tiên đoán việc du hành của các vị vua như vầy - Vị vua kia sẽ xuất hành vào ngày đó, vào mùa đó. Các câu còn lại có cách thức tương tự. Còn câu ‘đức vua sẽ không xuất hành’ trong trường hợp này tương tự, gồm cả việc đức vua đi dã ngoại rồi quay trở về. Sẽ có sự tấn công của vua bản xứ, sẽ có sự tấn công của vua ngoại bang: Tiên đoán việc tấn công và việc rút lui của các vị vua như vầy - “Vị vua của chúng ta bên trong thành sẽ tấn công vua ngoại bang là kẻ địch chống đối, sau đó vua ngoại bang ấy sẽ rút lui. Cả hai câu đều có cùng phương cách. Sự chiến thắng và sự thất bại đều xuất hiện rõ ràng.
  3. Candaggāhādayo asukadivase rāhu candaṃ gahessatīti byākaraṇavaseneva veditabbā. Api ca Nakkhattassa Aṅgārakādigāhasamāyogopi Nakkhattagāhoyeva. Ukkāpātoti ākāsato ukkānaṃ patanaṃ. Disāḍāhoti disākālusiyaṃ aggisikhadhūmasikhādīhi ākulabhāvo viya. Devadudrabhīti sukkhavalāhakagajjanaṃ. Uggamananti udayanaṃ. Okkamananti atthaṅgamanaṃ. Saṃkilesanti avisuddhatā. Vodānanti visuddhatā. Evaṃ vipākoti lokassa evaṃ vividhasukhadukkhāvaho.
     
  4. (Tiên đoán) hiện tượng nguyệt thực: nên biết do tác động việc tiên đoán rằng - thần Rāhu sẽ che khuất mặt trăng vào ngày hôm kia. Hoặc là, chính là các vì tinh tú bị che khuất luôn cả sự nối tiếp che khuất vì sao Aṅgāra của các vì tinh tú. Sao băng: vệt sáng rơi xuống từ hư không. Sao chổi: phương trời tối tăm như thể đang bị mắc vào ngọn lửa, và ngọn khói v.v, Sấm chớp: mây mưa ầm ầm vào mùa khô. Uggamanaṃ: mọc lên. Okkamanaṃ: lặn xuống. Saṃkilesaṃ: không thanh tịnh. Vodānaṃ: thanh tịnh. có kết quả như vầy: sẽ mang lại sự an lạc và sự khổ đau đa dạng như thế đến cho thế gian.
  5. Suvuṭṭhikāti devassa sammādhārānuppavecchanaṃ. Dubbuṭṭhikāti avaggāho, vassavibandhoti369[123] vuttaṃ hoti. Muddāti hatthamuddā. Gaṇanā vuccati acchiddakagaṇanā370[124]. Saṅkhānanti saṅkalanasaṭuppādanādivasena371[125] piṇḍagaṇanā. Yassa sā paguṇā hoti, so rukkhampi disvā ettakāni ettha paṇṇānīti jānāti. Kāveyyanti “Cattārome, bhikkhave, kavī. Katame cattāro? Cintākavi, sutakavi, atthakavi, paṭibhānakavī”ti372[126]. Imesaṃ catunnaṃ kavīnaṃ attano cintāvasena vā; “Vessantaro nāma rājā ahosī”tiādīni sutvā sutavasena vā; Imassa ayaṃ attho, evaṃ taṃ yojessāmīti evaṃ atthavasena vā; kiñcideva disvā tappaṭibhāgaṃ kattabbaṃ373[127] karissāmīti evaṃ ṭhānuppattikapaṭibhānavasena vā; jīvikatthāya kabyakaraṇaṃ374[128]. Lokāyataṃ vuttameva.
  6. Dự đoán sẽ có mưa đều: Những cơn mưa rơi xuống thuận theo mùa màng. Hạn hán: thỉnh thoảng mới có mưa, giải thích rằng rất ít mưa. Việc tính đếm bằng ngón tay: việc tính đếm bằng ngón tay. Việc tính toán: việc tính đếm liên tục. Tính đếm gộp chung: việc tính đếm chung theo phương pháp cộng và nhân v.v. người thiện xảo việc tính đếm gộp chung ấy vừa nhìn thấy cây cối cũng biết được rằng: ‘trên cây đó có số lá cây chừng này’. Làm thơ văn: “Này các tỳ khưu, có bốn hạng thi sĩ này. Thế nào là bốn? Thi nhân có tưởng tượng, thi nhân theo truyền thống, thi nhân có lý luận, thi nhân có sự sáng suốt.” Bốn nhóm thi sĩ này làm thơ văn nhằm mục đích nuôi mạng với tác động suy nghĩ của chính mình, hoặc đã được nghe do nghe câu chuyện bắt đầu rằng: “Đã có đức vua hồng danh Vessantara v.v.” hoặc có ý nghĩa thế này, câu chuyện này có ý nghĩa như vầy, ta sẽ viết câu chuyện này như vầy, hoặc do mãnh lực sự sáng suốt sanh khởi thuận theo trường hợp như vầy - ‘Ta đã nhìn thấy trường hợp như vậy, ta sẽ làm một bài thơ gắn kết với lại với vấn đề ấy’. Luận về vũ trụ: tôi đã nói rồi.
  7. Āvāhanaṃ nāma imassa dārakassa asukakulato asukanakkhattena dārikaṃ ānethāti āvāhakaraṇaṃ. Vivāhananti imaṃ dārikaṃ asukassa nāma dārakassa asukanakkhattena detha, evamassā vuḍḍhi bhavissatīti vivāhakaraṇaṃ. Saṃvaraṇanti saṃvaraṇaṃ nāma375[129] ‘ajja nakkhattaṃ sundaraṃ, ajjeva samaggā hotha, iti vo viyogo na bhavissatī’ti evaṃ samaggakaraṇaṃ. Vivaraṇa376[130] nāma ‘sace viyujjitukāmattha, ajjeva viyujjatha, iti vo puna saṃyogo na bhavissatī’ti evaṃ visaṃyogakaraṇaṃ. Saṅkiraṇanti ‘uṭṭhānaṃ vā iṇaṃ vā dinnaṃ dhanaṃ ajja saṅkaḍḍhatha, ajja saṅkaḍḍhitañhi taṃ thāvaraṃ hotī’ti evaṃ dhanapiṇḍāpanaṃ. Vikiraṇanti ‘sace payogauddhārādivasena dhanaṃ payojitukāmattha, ajja payojitaṃ diguṇacatugguṇaṃ hotī’ti evaṃ dhanapayojāpanaṃ. Subhagakaraṇanti piyamanāpakaraṇaṃ vā sassirīkakaraṇaṃ vā. Dubbhagakaraṇanti tabbiparītaṃ. Viruddhagabbhakaraṇanti viruddhassa vilīnassa aṭṭhitassa matassa gabbhassa karaṇaṃ, puna avināsāya bhesajjadānanti attho. Gabbho hi vātena, pāṇakehi, kammunā cāti tīhi kāraṇehi vinassati. Tattha vātena vinassante nibbāpanīyaṃ sītalaṃ bhesajjaṃ deti, pāṇakehi vinassante pāṇakānaṃ paṭikammaṃ karoti, kammunā vinassante pana buddhāpi paṭibāhituṃ na sakkonti.
  8. (Định ngày giờ cho) việc rước dâu: Định ngày lành tháng tốt làm lễ thành hôn rằng -ông bà hãy đưa cô dâu từ gia đình kia đến cho chú rể vào thời khắc đó. Việc đưa dâu: Định ngày lành tháng tốt để làm lễ thành hôn rằng - ông bà hãy đưa cô dâu này đi cho chú rể kia vào thời khắc ấy thì họ sẽ có được sự thịnh vượng. Định ngày giờ cho việc trải giường chiếu cho đôi tân hôn: Định giờ lành tháng tốt đối với việc đưa dâu gồm nghi thức cho cô dâu và chú rể được hòa hợp với nhau như vầy - ‘hôm nay là ngày lành tháng tốt hai con hãy hòa hợp với nhau vào ngày hôm nay, cả hai con sẽ bị chia cách bởi bất cứ lý do gì.’ Việc ly hôn: Nếu như vợ chồng muốn ly hôn với nhau cũng xem ngày lành tháng tốt để làm nghi thức hủy bỏ hôn ước như vầy - ‘Chớ nên bỏ nhau vào ngày hôm nay, hai con sẽ không thể hòa hợp lại được nữa’. Giờ lành tháng tốt để đòi nợ: Xem giờ lành tháng tốt để gom góp tài sản như vầy - ‘Tài sản cho vay, hay nợ, ngươi hãy đòi lại vào ngày hôm nay bởi vì số tài sản đòi lại được vào ngày hôm nay sẽ tồn tại vĩnh viễn. Giờ lành tháng tốt để mượn hay tiêu tiền: Xem giờ lành tháng tốt để kiếm lợi cho mình hoặc cho người khác kiếm lợi như vầy - ‘nếu ngươi muốn kiếm lời bằng việc đầu tư và cho vay v.v, số tiền lời kiếm được vào ngày hôm nay sẽ tăng thêm gấp 2, (hoặc) gấp 4 lần. Xem cầu may: Xem giờ lành tháng tốt để được yêu thương, được quý mến hoặc có được danh vọng. Việc trù yểm: đối nghịch lại với từ ‘xem cầu may’ ấy. Cho thuốc dưỡng thai: Bảo vệ thai nhi (tránh khỏi) những điều bất thường, hư thai, sảy thai, sắp chết, có nghĩa là cho thuốc dưỡng thai để không bị hư thai nữa. Bởi vì thai bào bị hư bởi 3 nguyên nhân là gió, mầm bệnh và nghiệp. Ở đó, trong khi bị hư do gió thì cần phải cho thuốc mát để xoa dịu, trong khi bị hư do mầm bệnh thì cần phải chống lại mầm bệnh, nhưng khi bị hư do nghiệp dầu cho chư Phật cũng không thể ngăn chặn được. 

Jivhānibandhananti mantena jivhāya bandhakaraṇaṃ377[131]. Hanusaṃhanananti mukhabandhamantena yathā hanukaṃ cāletuṃ na sakkonti, evaṃ bandhakaraṇaṃ. Hatthābhijappananti hatthānaṃ parivattanatthaṃ mantajappanaṃ. Tasmiṃ kira mante sattapadantare ṭhatvā jappite itaro hatthe parivattetvā khipati. Kaṇṇajappananti kaṇṇehi saddaṃ assavanatthāya vijjāya jappanaṃ. Taṃ kira jappitvā vinicchayaṭṭhāne yaṃ icchati, taṃ bhaṇati, paccatthiko taṃ na suṇāti, tato paṭivacanaṃ sampādetuṃ na sakkoti. Ādāsapañhanti ādāse devataṃ otāretvā pañhapucchanaṃ378[132]. Kumārikapañhanti kumārikāya sarīre devataṃ otāretvā pañhapucchanaṃ. Devapañhanti dāsiyā sarīre devataṃ otāretvā pañhapucchanaṃ. Ādiccupaṭṭhānanti jīvikatthāya ādiccapāricariyā. Mahatupaṭṭhānanti tatheva mahābrahmapāricariyā. Abbhujjalananti mantena mukhato aggijālānīharaṇaṃ. Sirivhāyananti “ehi siri, mayhaṃ sire379[133] patiṭṭhāhī”ti evaṃ sirena siriyā avhāyanaṃ.

Niệm chú làm cứng lưỡi: Niệm chú buộc chặt lưỡi lại. Niệm chú làm cứng quai hàm: Tụng chú buộc chặt miệng một cách buộc chặt đến mức quai hàm không thể cử động được. Niệm chú cho cánh tay run lên: Niệm chú làm cho cả hai cánh tay run lên. Được biết rằng khi đứng trong bảy bước niệm chú ấy thì tay một người khác sẽ run rẩy quay qua quay lại. Niệm chú không cho tai nghe được âm thanh: Niệm chú làm cho cả 2 hai tai không thể nghe được âm thanh. Được biết rằng niệm chú ấy rồi nói theo ước muốn trong pháp đình thì phía đối phương không thể nghe được âm thanh ấy, do đó không thể đối đáp lại hết mức. Việc hỏi gương soi: cung thỉnh chư thiên xuống trong gương để hỏi vấn đề. Việc hỏi cô đồng: cung thỉnh chư thiên nhập vào thân của một đồng tử rồi hỏi vấn đề. Việc hỏi chư Thiên: cung thỉnh chư nhập vào thân của người hầu gái rồi hỏi vấn đề. Việc thờ mặt trời: Thờ thần mặt trời vì lợi ích trong việc duy trì kế sinh nhai. Việc thờ Đại Phạm Thiên: Thờ Đại Phạm thiên vì lợi ích chúng. Việc phun ra lửa: Niệm chú phun ra ngọn lửa từ miệng. Làm nghi thức mời hồn: Mời hồn nhập vào thân - ‘Xin mời hồn nhập vào thân tôi’.

  1. Santikammanti devaṭṭhānaṃ gantvā sace me idaṃ nāma samijjhissati, tumhākaṃ iminā ca iminā ca upahāraṃ karissāmīti samiddhikāle kattabbaṃ santipaṭissavakammaṃ. Tasmiṃ pana samiddhe tassa karaṇaṃ paṇidhikammaṃ nāma. Bhūrikammanti bhūrighare vasitvā gahitamantassa payogakaraṇaṃ. Vassakammaṃ vossakammanti ettha vassoti puriso, vossoti paṇḍako . Iti vossassa vassakaraṇaṃ vassakammaṃ, vassassa vossakaraṇaṃ vossakammaṃ. Taṃ pana karonto acchandikabhāvamattaṃ pāpeti, na liṅgaṃ antaradhāpetuṃ sakkoti. vatthukammanti akatavatthusmiṃ gehapatiṭṭhāpanaṃ. Vatthuparikammanti “idañcidañcāharathā”ti vatvā vatthubalikammakaraṇaṃ. Ācamananti udakena mukhasuddhikaraṇaṃ. Nhāpananti aññesaṃ nhāpanaṃ. Jhananti tesaṃ atthāya aggijuhanaṃ. Vamananti yogaṃ datvā380[134] vamanakaraṇaṃ. Virecanepi eseva nayo. Uddhaṃvirecananti uddhaṃ dosānaṃ nīharaṇaṃ. Adhovirecananti adho dosānaṃ nīharaṇaṃ. Sīsavirecananti sirovirecanaṃ. Kaṇṇatelanti kaṇṇānaṃ bandhanatthaṃ vā vaṇaharaṇatthaṃ vā bhesajjatelapacanaṃ. Nettatappananti akkhitappanatelaṃ. Natthukammanti telena yojetvā natthukaraṇaṃ. Añjananti dve vā tīṇi vā paṭalāni nīharaṇasamatthaṃ khārañjanaṃ. Paccañjananti nibbāpanīyaṃ sītalabhesajjañjanaṃ381[135]. Sālākiyanti salākavejjakammaṃ. Sallakattiyanti sallakattavejjakammaṃ. Dārakatikicchā vuccati komārabhaccavejjakammaṃ. Mūlabhesajjānaṃ anuppādananti iminā kāyatikicchanaṃ382[136] dasseti. Osadhīnaṃ paṭimokkhoti khārādīni datvā tadanurūpe vaṇe gate tesaṃ apanayanaṃ.
  2. Làm lễ cầu khấn: Đi đến nơi của chư Thiên làm nghi thức cầu khẩn để công việc được làm vào thời gian này được hoàn thành (rằng): Nếu như chuyện này sẽ thành tựu cho tôi, tôi sẽ đáp lễ đến ngài với những lễ phẩm này. Và khi chuyện ấy được thành tựu sẽ thực hiện theo lời hứa ấy (đây) gọi là làm lễ tạ ơn. Dạy chú thuật phòng vệ ở trong nhà: Hướng dẫn sử dụng chú thuật cho người ở trong nhà cần học. Làm cho người ái nam ái nữ trở lại thành đàn ông, làm cho đàn ông trở thành người ái nam ái nữ này thì vasso gồm người đàn ông, vosso gồm người ái nam ái nữ. Việc làm để cho người ái nam ái nữ trở thành đàn ông gọi là làm cho người ái nam ái nữ trở lại thành đàn ông, việc làm để cho người đàn ông trở thành ái nam ái nữ gọi là làm cho đàn ông trở thành người ái nam ái nữ, là như thế; Hơn nữa, khi làm như thế chỉ có thể thay đổi được tính chất (bên ngoài) mà thôi, chớ không thể thay đổi được giới tính. Làm lễ xây nhà: Làm lễ xây nhà ở khu vực chưa được sửa sang. Làm lễ động thổ: Mọi người mang những thứ này và thứ này đến rồi làm lễ cúng tế thổ thần. Lễ rửa miệng: sử dụng nước súc miệng cho sạch sẽ. Việc tắm trừ tà: tắm bằng nước thánh cho người khác. Cúng tế thần lửa: Làm lễ tế thần lửa vì lợi ích cho họ. Pha chế thuốc ói mửa: Làm thuốc ói mửa đem cho. Luôn cả việc pha chế thuốc xổ cũng có phương cách tương tự. Pha chế thuốc bài tiết các chất dơ thuộc phần trên: Pha chế thuốc bài tiết các chất dơ thuộc phần trên. Pha chế thuốc bài tiết các chất dơ thuộc phần dưới: Pha chế thuốc bài tiết các chất dơ thuộc phần dưới. Pha chế thuốc chữa đau đầu: Chế thuốc chữa đau đầu. Nấu dầu nhỏ tai: nấu dầu thuốc để nhỏ tai hoặc để chữa trị vết thương. Pha chế dầu áp vào mắt: dầu nhỏ mắt. Pha chế thuốc xong mũi: sử dụng dầu chế tạo làm thuốc xông mũi. Pha chế thuốc nhỏ mắt: chế tạo thuốc nhỏ mắt (có tính kiềm) có thể bóc thành hai-ba lớp. Dầu bôi mắt: Chế tạo thuốc bôi làm mát, làm dịu cơn đau. Làm thầy thuốc chữa trị bệnh mắt: dụng cụ giải phẫu của bác sĩ nhãn khoa. Làm thấy thuốc mổ xẻ: việc chữa trị của bác sĩ phẫu thuật. Chữa bệnh trẻ em: được gọi là làm nghề thầy thuốc trị bệnh cho con nít. Chữa bệnh bằng các loại thuốc từ rễ cây điều này đức Thế Tôn thuyết giảng đến vật lý trị liệu. Rửa sạch vết thương: Bôi dung dịch kiềm vào v.v, khi vết thương đã được rửa sạch bằng dung dịch kiềm vừa phải thì lấy dung dịch kiềm v.v, ấy ra.

Phần Đại Giới Được Kết Thúc Chỉ Bấy Nhiêu

 

Giải Thích Học Thuyết Trường Tồn Đối Với Lập Luận Về Thời Quá Khứ
  1. Evaṃ Brahmadattena vuttavaṇṇassa anusandhivasena tividhaṃ sīlaṃ vitthāretvā idāni bhikkhusaṅghena vuttavaṇṇassa anusandhivasena — “atthi, bhikkhave, aññeva dhammā gambhīrā duddasā”tiādinā nayena suññatāpakāsanaṃ ārabhi. Tattha dhammāti guṇe, desanāyaṃ, pariyattiyaṃ, nissatteti evamādīsu dhammasaddo vattati.
  2. Sau khi đức Thế Tôn thuyết giảng chi tiết về 3 Phần Giới do tác động liên tục của lời tán thán từ thanh niên trẻ Brahmadatta như vậy, bây giờ bắt đầu tuyên thuyết về sự rỗng không theo phương cách được bắt đầu như sau: “Này chư tỳ khưu còn có các pháp khác thâm sâu, khó nhận ra, khó hiểu biết” do tác động liên tục của lời tán thán bởi hội chúng tỳ khưu. Ở đó, ‘dhamma’ nghĩa là từ ‘dhamma’ vận hành với các ý nghĩa được bắt đầu như vầy: guṇadhamma, thuyết giảng giáo pháp, pháp học, nissattadhamma.

Na hi dhammo adhammo ca, ubho samavipākino.

Adhammo nirayaṃ neti, dhammo pāpeti suggatin”ti.383[1]

Ādīsu hi guṇe dhammasaddo. “Dhammaṃ, vo bhikkhave, desessāmi ādikalyāṇan”tiādīsu384[2] desanāyaṃ. “Idha bhikkhu dhammaṃ pariyāpuṇāti Suttaṃ, Geyyan”tiādīsu385[3] pariyattiyaṃ. “Tasmiṃ kho pana samaye dhammā honti, khandhā hontī”tiādīsu386[4] nissatte. Idha pana guṇe vattati. Tasmā atthi, bhikkhave, aññeva tathāgatassa guṇāti evamettha attho daṭṭhabbo.

Thật vậy, từ ‘dhamma’ vận hành trong từ guṇadhamma như trong câu bắt đầu rằng: “Bởi vì Chánh Pháp và Phi Chánh Pháp, cả hai không có quả thành tựu giống nhau: Phi Chánh Pháp dẫn đến địa ngục, Chánh Pháp giúp cho thành tựu nhàn cảnh”. Vận hành trong từ ‘thuyết giảng giáo pháp’ như trong câu bắt đầu rằng: “Này các tỳ khưu, ta sẽ thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở đoạn đầu … cho các ông”. Vận hành trong từ ‘Pháp Học’ như trong câu bắt đầu rằng: “Này chư tỳ khưu trong Pháp và Luật này, tỳ khưu học thuộc lòng pháp, như là: Kinh, Ứng Tụng v.v.” Vận hành trong từ ‘nissattadhamma’ như trong câu bắt đầu rằng: “Lại nữa trong khi ấy các pháp tồn tại, các uẩn tồn tại v.v.” Hơn nữa, ở đây từ ‘dhamma’ vận hành trong ‘guṇadhamma’. Vì thế, nên biết ý nghĩa ở đây như vầy - ‘Này chư tỳ khưu, những ân đức khác của Như Lai vẫn còn nữa.’

Gambhīrāti mahāsamuddo viya makasatuṇḍasūciyā aññatra tathāgatā aññesaṃ ñāṇena alabbhaneyyapatiṭṭhā, gambhīrattāyeva duddasā. Duddasattāyeva duranubodhā. nibbutasabbapariḷāhattā santā, santārammaṇesu pavattanatopi santā. Atittikaraṇaṭṭhena paṇītā, sādurasabhojanaṃ viya. Uttamañāṇavisayattā na takkena avacaritabbāti atakkāvacarā. Nipuṇāti saṇhasukhumasabhāvattā. Bālānaṃ avisayattā, paṇḍitehiyeva veditabbāti paṇḍitavedanīyā.

Thâm sâu: chỗ thiết lập không thể đạt được với trí tuệ của những người khác ngoại trừ đấng Như Lai giống như biển cả không thể nào thăm dò được với vòi con muỗi. Khó nhận ra do quá thâm sâu. Khó đạt được do khó nhận ra. An tĩnh do đã dập tắt hết tất cả sự nóng đốt, an tĩnh chính do vận hành trong đối tượng tịch tịnh. Tuyệt vời do làm cho không biết no, như thể thọ dụng thức ăn có hương vị thơm ngon. Không thuộc phạm vi suy nghĩ bởi không thể ước đoán được bằng sự suy nghĩ, sự việc thuộc lĩnh vực của trí cao thượng. Vi tế do có thực tính vi tế, mềm mại. Chỉ có những bậc sáng suốt mới hiểu được bởi vì chỉ có những bậc trí mới có thể nhận biết, sự việc không thuộc phạm vi của kẻ ngu.

Ye tathāgato sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedetīti ye dhamme tathāgato anaññaneyyo hutvā sayameva abhivisiṭṭhena ñāṇena paccakkhaṃ katvā pavedeti, dīpeti, katheti, pakāsetīti attho. Yehīti yehi guṇadhammehi. Yathābhuccanti yathābhūtaṃ. Vaṇṇaṃ sammā vadamānā vadeyyunti tathāgatassa vaṇṇaṃ vattukāmā sammā vadeyyuṃ, ahāpetvā vattuṃ sakkuṇeyyunti attho. Katame ca pana te dhammā bhagavatā evaṃ thomitāti? Sabbaññutaññāṇaṃ. Yadi evaṃ, kasmā bahuvacananiddeso387[5] katoti? puthucittasamāyogato ceva, puthuārammaṇato ca. Tañhi catūsu ñāṇasampayuttamahākiriyacittesu labbhati, na cassa koci dhammo ārammaṇaṃ nāma na hoti. Yathāha — “Atītaṃ sabbaṃ jānātīti sabbaññutaññāṇaṃ, tattha āvaraṇaṃ natthīti anāvaraṇañāṇan”tiādi388[6]. Iti puthucittasamāyogato punappunaṃ uppattivasena puthuārammaṇato ca bahuvacananiddeso katoti.

Là các pháp mà Như Lai bằng thắng trí của mình chứng ngộ và tuyên thuyết: đây là các pháp mà đấng Như Lai đã làm sáng tỏ bằng trí tuệ đặc biệt của chính mình không phải nhờ vào sự hướng dẫn của người khác rồi tuyên thuyết (giảng dạy lại cho người khác cũng chứng đắc), có nghĩa là thuyết giảng, nói, công bố. Yehi: với những ân đức pháp là những ân đức pháp nào? Yathābhucca dịch là đúng theo sự thật (đã nói đến). Là nhân khiến mọi người tán thán: Người muốn nói lời tán thán đấng Như Lai có thể nói một cách chân chánh, giải thích rằng: có thể nói được không bị thiếu sót. Và hơn nữa, các pháp mà đức Thế Tôn tán thán như vậy là những pháp nào? - Là trí Toàn Tri. Nếu như vậy tại sao lại được phân tích thành số nhiều - bahuvacana? - Bởi vì phối hợp với nhiều thứ tâm và có nhiều đối tượng. Thật vậy, trí Toàn Giác ấy đạt được trong ‘bốn tâm đại tố tương ưng trí’, và không có bất cứ pháp nào không phải là đối tượng của Trí Toàn Giác ấy. Như ngài Sārīputta đã nói – “Do biết tất cả các pháp thuộc phần quá khứ (pháp thuộc phần hiện tại, pháp thuộc phần vị lai) được gọi là trí Toàn Giác, do không có sự ngăn che về điều ấy là trí không bị ngăn che.” Được phân tích thành số nhiều do phối hợp với nhiều thứ tâm, và bởi vì có nhiều đối tượng do mãnh lực khởi lên liên tục, là như thế.

Aññevā”ti idaṃ panettha vavatthāpanavacanaṃ, “aññeva, na pāṇātipātā veramaṇiādayo. Gambhīrāva na uttānā”ti evaṃ sabbapadehi yojetabbaṃ. Sāvakapāramīñāṇañhi gambhīraṃ, paccekabodhiñāṇaṃ pana tato gambhīrataranti tattha vavatthānaṃ natthi, sabbaññutaññāṇañca tatopi gambhīrataranti tatthāpi vavatthānaṃ natthi, ito panaññaṃ gambhīrataraṃ natthi; Tasmā gambhīrā vāti vavatthānaṃ labbhati. Tathā duddasāva duranubodhā vāti sabbaṃ veditabbaṃ.

“Khác” đây là từ xác định trong Pāḷī này có thể liên kết với các câu như vầy - Những pháp khác không phải pháp có tránh xa sự sát sanh v.v, thật sự thâm sâu không phải là nông cạn.” Bởi vì trí ba-la-mật của bậc thánh đệ tử là thâm sâu, tuy nhiên trí Phật-độc-giác vẫn thâm sâu hơn thế, do đó, mới không có lời xác định trong trí ba-la-mật của bậc thánh đệ tử ấy, và trí Toàn Giác còn thâm sâu hơn trí Phật-độc-giác ấy, do đó, mới không có xác định trong trí Phật-độc-giác ấy, còn trí khác mà thâm sâu hơn trí Toàn Giác này là không có; Do đó mới đạt được lời xác định rằng: ‘Vô cùng thâm sâu’. Nên biết tất cả các từ sau - khó nhận ra, khó đạt được tương tự như thế.

Katame ca te bhikkhaveti ayaṃ pana tesaṃ dhammānaṃ kathetukamyatā pucchā. Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇātiādi pucchāvissajjanaṃ. Kasmā panetaṃ evaṃ āraddhanti ce? Buddhānañhi cattāri ṭhānāni patvā gajjitaṃ mahantaṃ hoti, ñāṇaṃ anupavisati, buddhañāṇassa mahantabhāvo paññāyati, desanā gambhīrā hoti, tilakkhaṇāhatā, suññatāpaṭisaṃyuttā. Katamāni cattāri? Vinayapaññattiṃ, bhūmantaraṃ, paccayākāraṃ, samayantaranti. Tasmā — “idaṃ lahukaṃ, idaṃ garukaṃ, idaṃ satekicchaṃ, idaṃ atekicchaṃ, ayaṃ āpatti, ayaṃ anāpatti, ayaṃ chejjagāminī, ayaṃ vuṭṭhānagāminī, ayaṃ desanāgāminī, ayaṃ lokavajjā, ayaṃ paṇṇattivajjā, imasmiṃ vatthusmiṃ idaṃ paññapetabban”ti yaṃ evaṃ otiṇṇe vatthusmiṃ sikkhāpadapaññāpanaṃ nāma, tattha aññesaṃ thāmo vā balaṃ vā natthi; avisayo esa aññesaṃ, tathāgatasseva visayo. Iti vinayapaññattiṃ patvā buddhānaṃ gajjitaṃ mahantaṃ hoti, ñāṇaṃ anupavisati

... pe ... suññatāpaṭisaṃyuttāti.

Này chư tỳ khưu những pháp ấy…thế nào? Đây là câu hỏi nhằm ý định tự trả lời những pháp đó. Này chư tỳ khưu có một số Sa-môn và Bà-la-môn v.v, là câu trả lời câu hỏi. Nếu như có câu hỏi rằng: Vì sao lại bắt đầu câu trả lời câu hỏi này như vậy? Bởi vì việc mà chư Phật đạt đến 4 Địa Vị - Ṭhāna gầm lên (tiếng gầm con sư tử) vĩ đại, trí biết toàn diện cũng đi theo, bản thể vĩ đại của Phật Trí sẽ hiển lộ, thuyết giảng Giáo Pháp thâm sâu gắn chặt với Tam Tướng, gắn liền với ‘Tính Chất Rỗng Không’. Thế nào là bốn? Là sự quy định về Luật, sự xác định các pháp thuộc lĩnh vực đặc biệt, quán xét về lý duyên khởi, biết đến học thuyết khác. Vì thế – thông thường việc chế định học giới như vầy ‘đây là tội nhẹ, đây là tội nặng, đây là lỗi lầm có thể sửa chữa được, đây là lỗi lầm không thể sửa chữa được, đây là phạm tội, đây là không phạm tội, đây là tội dẫn đến cắt đứt (tội parājika), đây là tội dẫn đến phạt cấm phòng (tội saṅghādisesa), đây là tội cần phải sám hối, đây là tội lỗi đối với thế gian, đây là tội lỗi do sự quy định, nên quy định điều này vào trong vấn đề này,” Trong việc chế định điều học ấy những người khác không có khả năng hiểu biết hoặc đủ năng lực, vấn đề này không thuộc phạm vi của người khác, mà nó chỉ thuộc phạm vi của Như Lai. Do đó, chư Phật đã đạt đến địa vị ‘sự quy định về Luật’, gầm lên (tiếng gầm con sư tử) là vĩ đại, trí cũng đi theo …nt… gắn liền với ‘Tính Chất Rỗng Không’ là như thế.

Tathā ime cattāro satipaṭṭhānā nāma ... pe ... ariyo aṭṭhaṅgiko maggo nāma, pañca khandhā nāma, dvādasa āyatanāni nāma, aṭṭhārasa dhātuyo nāma, cattāri ariyasaccāni nāma, bāvīsatindriyāni nāma, nava hetū nāma, cattāro āhārā nāma, satta phassā nāma, satta vedanā nāma, satta saññā nāma, satta cetanā nāma, satta cittāni nāma. Etesu ettakā kāmāvacarā dhammā nāma, ettakā rūpāvacarārūpāvacarapariyāpannā dhammā nāma, ettakā lokiyā dhammā nāma, ettakā lokuttarā dhammā nāmā’ti catuvīsatisamantapaṭṭhānaṃ anantanayaṃ abhidhammapiṭakaṃ vibhajitvā kathetuṃ aññesaṃ thāmo vā balaṃ vā natthi, avisayo esa aññesaṃ, tathāgatasseva visayo. Iti bhūmantaraparicchedaṃ patvā buddhānaṃ gajjitaṃ mahantaṃ hoti, ñāṇaṃ anupavisati ... pe ... suññatāpaṭisaṃyuttāti.

‘Ở đó, đây là bốn sự thiết lập niệm …nt… là Thánh đạo tám chi phần, là năm uẩn, là mười hai xứ, là mười tám giới, là bốn Thánh đế, là hai mươi hai quyền, là chín nhân, là bốn thực, là bảy xúc, là bảy thọ, là bảy tưởng, là bảy sự cố ý, là bảy thứ tâm. Những pháp này chừng này gọi là Dục giới, những pháp này chừng này gộp lại gọi là Sắc giới, chừng này gộp lại gọi là Vô sắc giới, những pháp này chừng này gọi là Hiệp thế, những pháp này chừng này gọi là Siêu thế.’ Những người khác không có khả năng hiểu biết hoặc đủ năng lực để nói phân tích Tạng Vi Diệu Pháp, trọn vẹn hai mươi bốn Paṭṭhāna bằng cách vô hạn định (như đã nêu), vấn đề này không thuộc phạm vi của người khác, mà nó chỉ thuộc phạm vi của Như Lai. Do đó, chư Phật đã đạt đến địa vị ‘sự xác định pháp thuộc lĩnh vực đặc biệt’, gầm lên (tiếng gầm con sư tử) là vĩ đại, trí cũng đi theo …nt… gắn liền với ‘Tính Chất Rỗng Không’ là như thế.

Tathā ayaṃ389[7] avijjā saṅkhārānaṃ navahākārehi paccayo hoti, uppādo hutvā paccayo hoti, pavattaṃ hutvā, nimittaṃ, āyūhanaṃ, saṃyogo, palibodho, samudayo, hetu, paccayo hutvā paccayo hoti, tathā saṅkhārādayo viññāṇādīnaṃ. Tathāha — “kathaṃ paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ? Avijjā saṅkhārānaṃ uppādaṭṭhiti ca pavattaṭṭhiti ca, nimittaṭṭhiti ca, āyūhanaṭṭhiti ca, saṃyogaṭṭhiti ca, palibodhaṭṭhiti ca, samudayaṭṭhiti ca, hetuṭṭhiti ca, paccayaṭṭhiti ca, imehi navahākārehi avijjā paccayo, saṅkhārā paccayasamuppannā, ubhopete dhammā paccayasamuppannāti paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. atītampi addhānaṃ, anāgatampi addhānaṃ avijjā saṅkhārānaṃ uppādaṭṭhiti ca ... pe ... jāti jarāmaraṇassa uppādaṭṭhiti ca ... pe ... paccayaṭṭhiti ca, imehi navahākārehi jāti paccayo, jarāmaraṇaṃ paccayasamuppannaṃ, ubhopete dhammā paccayasamuppannāti paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇan”ti (paṭi. ma. 1.45). Evamimaṃ tassa tassa dhammassa tathā tathā paccayabhāvena pavattaṃ tivaṭṭaṃ tiyaddhaṃ tisandhiṃ catusaṅkhepaṃ vīsatākāraṃ paṭiccasamuppādaṃ vibhajitvā kathetuṃ aññesaṃ thāmo vā balaṃ vā natthi, avisayo esa aññesaṃ, tathāgatasseva visayo, iti paccayākāraṃ patvā buddhānaṃ gajjitaṃ mahantaṃ hoti, ñāṇaṃ anupavisati ... pe ... suññatāpaṭisaṃyuttāti.

Ở đó, vô minh này là duyên cho tất cả hành với chín biểu hiện là: vô minh là duyên với tính chất sanh lên, với tính chất vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, sự ràng buộc, sự vướng bận, sự sanh khởi, nhân, duyên. Hơn nữa, hành v.v, cũng là duyên cho thức v.v. (với chín biểu hiện). Như trưởng lão Sārīputta đã nói – “Tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự thiết lập của các pháp (có ý nghĩa) như thế nào? ‘Đối với các hành, vô minh là sự thiết lập của sự sanh lên, là sự thiết lập của sự vận hành, là sự thiết lập của hiện tướng, là sự thiết lập của (nghiệp) tích lũy, là sự thiết lập của sự ràng buộc, là sự thiết lập của sự vướng bận, là sự thiết lập của sự sanh khởi, là sự thiết lập của nhân, và là sự thiết lập của duyên. Do chín biểu hiện này, vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự thiết lập của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, đối với các hành, vô minh là sự thiết lập của sự sanh lên …nt… Đối với lão tử, sanh là sự thiết lập của sự sanh lên …nt… và là sự thiết lập của duyên. Do chín biểu hiện này, sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự thiết lập của các pháp là vậy.” Những người khác không có khả năng hiểu biết hoặc đủ năng lực để nói phân tích pháp tùy thuận sanh khởi có ba luân (phiền não luân hồi: vô minh, ái, thủ; Nghiệp luân hồi: hữu và hành; Quả luân hồi: sanh, lão tử, thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ), có ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai), ba sự tiếp nối (nhân quá khứ và quả hiện tại, quả hiện tại và nhân hiện tại, nhân hiện tại và quả vị lai), bốn sự tổng hợp (nhân quá khứ, quả hiện tại, nhân hiện tại, quả vị lai), hai mươi biểu hiện (được liệt kê ở 4 phần tổng hợp, mỗi phần có 5 biểu hiện; tổng cộng là 20) được vận hành với tính chất là duyên, với biểu hiện như thế đối với các pháp đó như đã giảng giải, điều này không thuộc phạm vi của người khác, mà nó chỉ thuộc phạm vi của Như Lai. Do đó, chư Phật đã đạt đến địa vị ‘quán xét về lý duyên khởi’, gầm lên (tiếng gầm con sư tử) là vĩ đại, trí cũng đi theo …nt… gắn liền với ‘Tính Chất Rỗng Không’ là như thế.

Tathā cattāro janā sassatavādā nāma, cattāro ekaccasassatavādā, cattāro antānantikā, cattāro amarāvikkhepikā, dve adhiccasamuppannikā, soḷasa saññīvādā, aṭṭha asaññīvādā, aṭṭha nevasaññīnāsaññīvādā, satta ucchedavādā, pañca diṭṭhadhammanibbānavādā nāma. te idaṃ nissāya idaṃ gaṇhantīti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni bhinditvā nijjaṭaṃ niggumbaṃ katvā kathetuṃ aññesaṃ thāmo vā balaṃ vā natthi, avisayo esa aññesaṃ, tathāgatasseva visayo. iti samayantaraṃ patvā buddhānaṃ gajjitaṃ mahantaṃ hoti, ñāṇaṃ anupavisati, buddhañāṇassa mahantatā paññāyati, desanā gambhīrā hoti, tilakkhaṇāhatā, suññatāpaṭisaṃyuttāti.

Ở đó, nhóm người cho là có bốn luận thuyết về thường còn, bốn liên quan đến thường còn là phiến diện, bốn liên quan đến có giới hạn và không có giới hạn, bốn liên quan đến trườn uốn như lươn, hai liên quan đến ngẫu nhiên sanh lên, có mười sáu luận thuyết về tưởng, tám luận thuyết về phi tưởng, tám luận thuyết về phi tưởng phi phi tưởng, bảy luận thuyết về đoạn tận, năm luận thuyết về hiện tại Nibbāna. Những người ấy do y cứ vào tà kiến này, nắm giữ tà kiến này, vì thế mới hợp thành sáu mươi hai loại tà kiến, những người khác không có khả năng hiểu biết hoặc đủ năng lực để nói làm phá tan những tà kiến ấy được tháo gỡ, được sáng tỏ, điều này không thuộc phạm vi của người khác, mà nó chỉ thuộc phạm vi của Như Lai. Do đó, chư Phật đã đạt được địa vị ‘biết đến học thuyết khác’, gầm lên (tiếng gầm con sư tử) là vĩ đại, trí cũng đi theo, bản thể Phật trí vĩ đại cũng hiển lộ, thuyết giảng thâm sâu, gắn chặt với Tam Tướng, gắn liền với ‘Tính Chất Rỗng Không’ là như thế. 

Imasmiṃ pana ṭhāne samayantaraṃ labbhati, tasmā sabbaññutaññāṇassa mahantabhāvadassanatthaṃ desanāya ca suññatāpakāsanavibhāvanatthaṃ samayantaraṃ anupavisanto dhammarājā — “santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā”ti evaṃ pucchāvissajjanaṃ ārabhi.

Hơn nữa, trong trường hợp này đạt được địa vị ‘biết đến học thuyết khác’ vì thế đức Thế Tôn là vị Pháp Vương trong khi đi theo địa vị biết đến học thuyết khác nhằm mục đích thuyết giảng bản thế trí Toàn Giác vĩ đại và để gắn liền với ‘Tính Chất Rỗng Không’ bằng pháp thoại mới bắt đầu câu hỏi và câu trả lời như vầy – ‘Này chư tỳ khưu có một số Sa-môn và Bà-la-môn.’

  1. Tattha santīti atthi saṃvijjanti upalabbhanti. Bhikkhaveti ālapanavacanaṃ. Eketi ekacce. Samaṇabrāhmaṇāti pabbajjūpagatabhāvena samaṇā, jātiyā brāhmaṇā. lokena vā samaṇāti ca brāhmaṇāti ca evaṃ sammatā. Pubbantaṃ kappetvā vikappetvā gaṇhantīti pubbantakappikā. Pubbantakappo vā etesaṃ atthīti pubbantakappikā. Tattha antoti ayaṃ saddo antābbhantaramariyādalāmakaparabhāgakoṭṭhāsesu dissati. “Antapūro udarapūro”tiādīsu390[8] hi ante antasaddo. “Caranti loke parivārachannā anto asuddhā bahi sobhamānā”tiādīsu391[9] abbhantare. “Kāyabandhanassa anto jīrati.”392[10] “sā haritantaṃ vā panthantaṃ vā selantaṃ vā udakantaṃ vā”tiādīsu393[11] mariyādāyaṃ. “antamidaṃ, bhikkhave, jīvikānaṃ yadidaṃ piṇḍolyan”tiādīsu394[12] lāmake. “Esevanto dukkhassā”tiādīsu395[13] parabhāge. Sabbapaccayasaṅkhayo hi dukkhassa parabhāgo koṭīti vuccati. “Sakkāyo kho, āvuso, eko anto”tiādīsu (a. ni. 6.61) koṭṭhāse. Svāyaṃ idhāpi koṭṭhāse vattati.
  2. Trong Pāḷī ấy ‘an tịnh’ có hiện hữu, có tồn tại. Này chư tỳ khưu là hô cách (từ dùng để gọi). Một vài: một số nhóm. Sa-môn và Bà-la-môn: gọi là Sa-môn bởi tính chất đến xuất gia, gọi là Bà-la-môn do sảnh chủng. Hoặc được chỉ định như vầy là Sa-môn và Bà-la-môn theo thế tục. Sa-môn và Bà-la-môn gọi là ‘xác định uẩn phần quá khứ’ do đã xác định, phân tách uẩn thời quá khứ rồi nắm giữ. Hoặc gọi là ‘xác định uẩn phần quá khứ’ bởi vì xác định uẩn phần quá khứ có mặt cùng những Sa-môn và Bà-la-môn ấy. Từ ‘anto’ này trong Pāḷī ấy sử dụng với ý nghĩa là ruột già, bên trong, ‘mép, rìa’, thấp kém, tận cùng, thái cực. Thật vậy, từ ‘anto’ trong ý nghĩa ‘ruột già’ - “Được chất đầy bởi ruột, được chất đầy bởi dạ dày.” Trong ý nghĩa ‘bên trong’ - “Người sống không thu thúc, bên trong không thanh tịnh, vẻ đẹp ở bên ngoài được vây quanh bởi tùy tùng, đi du hành ở thế gian.” Trong ý nghĩa ‘mép, rìa’ - “Mép của dây thắt lưng bị sờn”, hoặc “Lửa cháy cho đến cuối rìa cây cối, cho đến cuối rìa đường lớn, cho đến cuối vách chân núi, cho đến cuối rìa thủy biên.’” Trong ý nghĩa ‘thấp kém’ - “Này các tỳ khưu, việc này là thấp kém trong các việc nuôi mạng (việc nuôi mạng bằng việc đi khất thực)”. Trong ý nghĩa ‘tận cùng’ - “chính điều này là tận cùng của khổ.” Quả thực, sự chấm dứt của tất cả mọi yếu tố là phần cuối cùng được gọi là ‘tận cùng của khổ’. Trong ý nghĩa ‘một phần’ - “Này hiền giả, sự chấp bản thân này là một phần”. Ngay ở trong trường hợp này từ ‘anta’ này đây cũng diễn biến trong ý nghĩa ‘một phần’.

Kappasaddopi — “tiṭṭhatu, bhante bhagavā kappaṃ”396[14] , “atthi kappo nipajjituṃ” (a. ni. 8.80), “kappakatena akappakataṃ saṃsibbitaṃ hotī”ti397[15], evaṃ āyukappalesakappavinayakappādīsu sambahulesu atthesu vattati. Idha taṇhādiṭṭhīsu vattatīti veditabbo. Vuttampi cetaṃ — “kappāti dve kappā, taṇhākappo ca diṭṭhikappo cā”ti398[16] . Tasmā taṇhādiṭṭhivasena atītaṃ khandhakoṭṭhāsaṃ kappetvā pakappetvā ṭhitāti pubbantakappikāti evamettha attho veditabbo. Tesaṃ evaṃ pubbantaṃ kappetvā ṭhitānaṃ punappunaṃ uppajjanavasena pubbantameva anugatā diṭṭhīti pubbantānudiṭṭhino. Te evaṃdiṭṭhino taṃ pubbantaṃ ārabbha āgamma paṭicca aññampi janaṃ diṭṭhigatikaṃ karontā anekavihitāni adhimuttipadāni399[17] abhivadanti aṭṭhārasahi vatthūhi.

Luôn cả từ ‘kappa’ cũng diễn biến với nhiều ý nghĩa chẳng hạn ‘trọn kiếp, ‘dịp’ và ‘đúng phép’ v.v, như vầy: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy tồn tại trọn kiếp”, “có dịp để ngủ nghỉ”, “(y phục) chưa được làm thành đúng phép được may chung với (y phục) đã được làm thành đúng phép”. Và điều này cũng đã được nói đến – “Có hai sự xác định: sự xác định do tham ái và sự xác định do tà kiến.” Vì thế, nên biết ý nghĩa ‘xác định uẩn phần quá khứ’ này như vầy ‘Những Sa-môn và Bà-la-môn nào đã xác định uẩn phần quá khứ do tác động tham ái và tà kiến được thiết lập, vì lý do ấy những Sa-môn và Bà-la-môn đó gọi là ‘người xác định uẩn phần quá khứ’. Có quan điểm đi theo uẩn phần quá khứ: Bởi những Sa-môn và Bà-la-môn ấy vị xác định uẩn phần quá khứ đã được thiết lập như vậy có quan điểm đi theo chính uẩn phần quá khứ do tác động sanh khởi liên tục. Họ có quan điểm như vậy trong khi đến nương tựa, dẫn chứng làm cho cả người khác cũng nhìn thấy được rồi tuyên thuyết nhiều loại khuynh hướng liên quan đến uẩn phần quá khứ ấy với mười tám luận cứ.

Tattha anekavihitānīti anekavidhāni. Adhimuttipadānīti adhivacanapadāni. Atha vā bhūtaṃ atthaṃ abhibhavitvā yathāsabhāvato aggahetvā pavattanato adhimuttiyoti diṭṭhiyo vuccanti. Adhimuttīnaṃ padāni adhimuttipadāni, diṭṭhidīpakāni vacanānīti attho.

Aṭṭhārasahi vatthūhīti aṭṭhārasahi kāraṇehi.

Ở đó, Nhiều loại: nhiều loại. Từ trình bày quan điểm: Từ để gọi tên. Hoặc là, có quan điểm diṭṭhino được gọi là khuynh hướng adhimutti do trong khi vận hành đã chế ngự ý nghĩa thật không thể nắm giữ theo thực tính thật. Toàn bộ từ khuynh hướng là từ trình bày quan điểm, có nghĩa là lời nói trình bày về quan điểm. Với mười tám luận cứ: với mười tám lý do.

  1. Idāni yehi aṭṭhārasahi vatthūhi abhivadanti, tesaṃ kathetukamyatāya pucchāya “te ca kho bhonto”tiādinā nayena pucchitvā tāni vatthūni vibhajitvā dassetuṃ “santi, bhikkhave”tiādimāha. Tattha vadanti etenāti vādo, diṭṭhigatassetaṃ adhivacanaṃ. sassato vādo etesanti sassatavādā, sassatadiṭṭhinoti attho. Eteneva nayena ito paresampi evarūpānaṃ padānaṃ attho veditabbo. Sassataṃ attānañca lokañcāti rūpādīsu aññataraṃ attāti ca lokoti ca gahetvā taṃ sassataṃ amaraṃ niccaṃ dhuvaṃ paññapenti. yathāha — “rūpaṃ attā ceva loko ca sassato cāti attānañca lokañca paññapenti tathā vedanaṃ, saññaṃ, saṅkhāre, viññāṇaṃ attā ceva loko ca sassato cāti attānañca lokañca paññapentī”ti.
  2. Bây giờ đức Thế Tôn đã nói lời nói được bắt đầu như sau: “Này chư tỳ khưu, có một số Sa-môn và Bà-la-môn” nhằm mục đích hỏi với phương thức sau: “Các tôn đức Sa-môn và Bà-la-môn” rồi phân tích trình bày những luận cứ ấy với ý định sẽ thuyết giảng mười tám luận cứ mà các Sa-môn và Bà-la-môn đã nhắc lại. Ở đó, gọi là ‘học thuyết’ bởi vì làm phương tiện để nói, (và) đây là tên gọi của tà kiến. Học thuyết trường tồn bởi vì học thuyết cho là thường tồn, có nghĩa là nhóm người có quan điểm là trường tồn. Ngay cả những từ khác ngoài ra cũng có hình thức như vậy, nên biết ý nghĩa theo chính phương cách này. Bản ngã và thế giới là trường tồn: Đã nắm giữ bấy kỳ uẩn nào có sắc uẩn v.v, cho là bản ngã và thế giới rồi tuyên bố về ‘bản ngã và thế giới’ đó là thường tồn, là bất tử, là thường còn, là bền vững. Như đã nói – “Tuyên bố bản ngã và thế giới là sắc, tuyên bố bản ngã và thế giới là trường tồn; hơn nữa, tuyên bố bản ngã và thế giới là thọ, tưởng, hành, thức, tuyên bố bản ngã và thế giới là trường tồn”
  3. Ātappamanvāyātiādīsu vīriyaṃ kilesānaṃ ātāpanabhāvena ātappanti vuttaṃ. tadeva padahanavasena padhānaṃ. Punappunaṃ yuttavasena anuyogoti. Evaṃ tippabhedaṃ vīriyaṃ anvāya āgamma paṭiccāti attho. Appamādo vuccati satiyā avippavāso. Sammā manasikāroti upāyamanasikāro, pathamanasikāro, atthato ñāṇanti vuttaṃ hoti. Yasmiñhi manasikāre ṭhitassa pubbenivāsānussati ñāṇaṃ ijjhati, ayaṃ imasmiṃ ṭhāne manasikāroti adhippeto. Tasmā vīriyañca satiñca ñāṇañca āgammāti ayamettha saṅkhepattho. Tathārūpanti tathājātikaṃ. Cetosamādhinti cittasamādhiṃ. Phusatīti vindati paṭilabhati. Yathā samāhite citteti yena samādhinā sammā āhite suṭṭhu ṭhapite cittamhi. Anekavihitaṃ pubbenivāsantiādīnaṃ attho visuddhimagge vutto.
  4. Nhờ sự nhiệt tâm v.v, sự tinh tấn được gọi là sự nhiệt tâm bởi tính chất làm cho phiền não nóng bức. Chính sự tinh tấn ấy gọi là sự nỗ lực do tác động của sự gắng sức. Sự chuyên cần do tác động gắn kết thường xuyên. Như vậy, có nghĩa là vận hành theo, nương nhờ vào, nương tựa vào cả ba sự tinh tấn như đã giải thích. Sống không lìa khỏi niệm được gọi là không phóng dật. Tác ý đúng đắn giải thích rằng tác ý đúng đường lối, tác ý lần đầu tiên, có nghĩa là (nói theo tính chất) bao gồm trí. Bởi vì trí nhớ về các kiếp sống trước thành tựu đối với vị an trú vào tác ý nào, tác ý này ngài có ý muốn đề cập đến “tác ý ấy” trong trường hợp này. Vì thế, trong Pāḷī đó điều này ở đây mới có ý nghĩa tóm tắt như vầy: Nương vào sư tinh tấn, niệm và tuệ. Tathārūpaṃ: có sự sanh như vậy. Có tâm được định tĩnh: Sự định tĩnh của tâm. Xúc chạm: được lợi, được thọ lãnh. Khi tâm được định tĩnh như thế: tâm được an trú đúng đắn, được an trú khéo léo do định làm nhân. (Nhớ lại) nhiều kiếp sống quá khứ v.v, điều này tôi đã nói trong bộ Thanh Tịnh Đạo.

So evamāhāti so evaṃ jhānānubhāvasampanno hutvā diṭṭhigatiko evaṃ vadati. Vañjhoti vañjhapasuvañjhatālādayo viya aphalo kassaci ajanakoti. Etena “attā”ti ca “loko”ti ca gahitānaṃ jhānādīnaṃ rūpādijanakabhāvaṃ paṭikkhipati. Pabbatakūṭaṃ viya ṭhitoti kūṭaṭṭho. esikaṭṭhāyiṭṭhitoti esikaṭṭhāyī viya hutvā ṭhitoti esikaṭṭhāyiṭṭhito. Yathā sunikhāto esikatthambho niccalo tiṭṭhati, evaṃ ṭhitoti attho. Ubhayenapi lokassa vināsābhāvaṃ dīpeti. Keci pana īsikaṭṭhāyiṭṭhitoti pāḷiṃ vatvā muñje īsikā viya ṭhitoti vadanti. tatrāyamadhippāyo — yadidaṃ jāyatīti vuccati, taṃ muñjato īsikā viya vijjamānameva nikkhamati. yasmā ca īsikaṭṭhāyiṭṭhito, tasmā teva400[18] sattā sandhāvanti, ito aññattha gacchantīti attho.

Vị ấy đã nói như vậy: vị ấy đã thành tựu nhờ năng lực của thiền như vậy, có quan điểm mới nói như vậy. Không sinh sản: không có kết quả, không cho sanh khởi đối với bất cứ ai giống như vật nuôi không có khả năng sinh sản, và cây cọ không sinh sản v.v. Vì thế ‘không sinh sản’ này vị ấy bác bỏ thực tính chất tạo ra sắc v.v, của ân đức đặc biệt có thiền v.v. để nắm giữ (cho rằng) ‘là bản ngã’ và ‘là thế giới’. Vững chắc như đỉnh núi: bởi vì vững chắc như đỉnh núi. Kiên cố như cột trụ: Kiên cố như cột trụ đã được đặt xuống, vì thế mới gọi là kiên cố như cột trú. Giải thích rằng cột trụ được chôn kỹ lưỡng sẽ rất chắc chắn và không thể bị lung lay như thế nào, ‘bản ngã và thế giới’ được thiết lập vững chắc cũng tương tự y như thế ấy. Với hai câu cho thấy thế giới sẽ không bị diệt vong. Tuy nhiên, một số vị thầy nói rằng īsiṭṭhāyitṭhito, rồi nói rằng: vững trú giống như sợi rơm trong cộng cỏ muñja. Trong lời nói của các vị ấy có lời giải thích như vầy: Lời nói đã nói rằng ‘được sanh khởi’ dẫu có tồn tại cũng được thoát khỏi, giống như sợi rơm được lấy ra từ trong đống cỏ muñja được tồn tại. Vì sự tồn tại giống như sợi rơm trong đống cỏ muñja, cho nên chúng sanh ấy mới lưu chuyển từ thế giới này sang thế giới khác.

Saṃsarantīti aparāparaṃ sañcaranti. Cavantīti evaṃ saṅkhyaṃ gacchanti. Tathā upapajjantīti. Aṭṭhakathāyaṃ pana pubbe “sassato attā ca loko cā”ti vatvā idāni te ca sattā sandhāvantītiādinā vacanena ayaṃ diṭṭhigatiko attanāyeva attano vādaṃ bhindati, diṭṭhigatikassa dassanaṃ nāma na nibaddhaṃ, thusarāsimhi nikhātakhāṇu viya cañcalaṃ, ummattakapacchiyaṃ pūvakhaṇḍagūthagomayādīni viya cettha sundarampi asundarampi hoti yevāti vuttaṃ. Atthitveva sassatisamanti ettha sassatīti niccaṃ vijjamānatāya mahāpathaviṃva maññati, tathā sinerupabbatacandimasūriye. tato tehi samaṃ attānaṃ maññamānā atthi tveva sassatisamanti vadanti. 

Luân hồi: lưu chuyển từ thế giới này sang thế giới khác. Chết đi: đi đến việc tính đếm như vậy. Ở đó, tái sanh cũng tương tự. Nhưng trong Aṭṭhakathā đã nói ở phần đầu: “Bản ngã và thế giới là trường tồn” bây giờ quay trở lại nói rằng: “Còn những chúng sanh ấy lưu chuyển v.v,” Sa-môn hoặc Bà-la-môn có tà kiến này được gọi là phá vỡ học thuyết của mình bởi chính mình, quan điểm của những người có tà kiến là không liên quan đến nhau, lay động giống như cột trụ được cắm vào trong đống trấu, và quan điểm này có mặt tốt lẫn mặt không tốt giống như một cái bánh từ phân và phân bò đựng trong cái giỏ của người điên. Ở đây, ‘Sự trường tồn’ trong cụm từ ‘vẫn được xem là có tính chất trường tồn’ tưởng tượng địa đại to lớn là thường còn bởi vì có tồn tại thường hằng, thậm chí đỉnh núi Suneru, mặt trăng, mặt trời, cũng tưởng tượng như vậy, vì thế trong khi tưởng tượng bản ngã đồng đẳng với những thứ đó mới nói rằng: tuy vậy chúng vẫn có tính chất trường tồn.

Idāni sassato attā ca loko cātiādikāya paṭiññāya sādhanatthaṃ hetuṃ dassento “taṃ kissa hetu? ahañhi ātappamanvāyā”tiādimāha. Tattha imināmahaṃ etaṃ jānāmīti iminā visesādhigamena ahaṃ etaṃ paccakkhato jānāmi, na kevalaṃ saddhāmattakeneva vadāmīti dasseti. Makāro panettha padasandhikaraṇatthaṃ vutto. Idaṃ, bhikkhave, paṭhamaṃ ṭhānanti catūhi vatthūhīti vatthusaddena vuttesu catūsu ṭhānesu idaṃ paṭhamaṃ ṭhānaṃ, idaṃ401[19] jātisatasahassamattānussaraṇaṃ paṭhamaṃ kāraṇanti attho.

Bây giờ, Sa-môn và Bà-la-môn có tà kiến trong khi thuyết giảng nguyên nhân nhằm mục đích hoàn thành lời tuyên bố “bản ngã và thế giới là trường tồn v.v,” mới nói lời được bắt đầu như sau: “Điều đó do nhân gì? Bởi vì tôi nhờ vào sự nhiệt tâm”. Trong Pāḷī ấy ‘nhờ vào sự chứng đắc đặc biệt này, tôi biết được điều này: Sa-môn và Bà-la-môn có tà kiến thuyết rằng nhờ sự chứng đắc đặc biệt này, tôi mới biết được điều này có sự rõ rệt, và không phải tôi nói chỉ với đức tin đâu. Hơn nữa, ở đây phụ âm ‘Ma’ trong Pāḷī ‘Iminā mahaṃ etaṃ jānāmi (nhờ vào sự chứng đắc đặc biệt này, tôi biết được điều này)’ này được nói để thực hiện câu theo luật hợp âm. Này các tỳ khưu đây là nguyên do thứ nhất: Trong tất cả bốn nguyên do được thuyết bằng từ ngữ như sau: với bốn nguyên do, đây là nguyên do thứ nhất, có nghĩa là việc nhớ lại các kiếp sống quá khứ được trăm ngàn kiếp như vậy là nguyên do thứ nhất.

32-33. Upari vāradvayepi eseva nayo. kevalañhi ayaṃ vāro anekajātisatasahassānussaraṇavasena vutto. itare dasacattālīsasaṃvaṭṭavivaṭṭakappānussaraṇavasena. Mandapañño hi titthiyo anekajātisatasahassamattaṃ anussarati, majjhimapañño dasasaṃvaṭṭavivaṭṭakappāni, tikkhapañño cattālīsaṃ, na tato uddhaṃ.

32-33. Thậm chí cả hai học thuyết trước cũng có phương cách này. Bởi vì đoạn này thuyết do mãnh lực nhớ được trăm ngàn kiếp. Hai đoạn còn lại thuyết do mãnh lực nhớ được mười đến bốn mươi hoại kiếp [saṃvaṭṭakappa] và thành kiếp [vivaṭṭakappa]. Thật vậy, ngoại đạo có trí tuệ ít nhớ được chừng trăm ngàn kiếp, có trí tuệ trung bình nhớ được mười thành kiếp và hoại kiếp, người có trí tuệ sắc bén nhớ được bốn mươi thành kiếp và hoại kiếp không nhiều hơn thế.

  1. Catutthavāre takkayatīti takkī, takko vā assa atthīti takkī. Takketvā vitakketvā diṭṭhigāhino etaṃ adhivacanaṃ. Vīmaṃsāya samannāgatoti vīmaṃsī. Vīmaṃsā nāma tulanā ruccanā khamanā. yathā hi puriso yaṭṭhiyā udakaṃ vīmaṃsitvā otarati, evameva yo tulayitvā ruccitvā khamāpetvā diṭṭhiṃ gaṇhāti, so “vīmaṃsī”ti veditabbo. Takkapariyāhatanti takkena pariyāhataṃ, tena tena pariyāyena takketvāti attho. Vīmaṃsānucaritanti tāya vuttappakārāya vīmaṃsāya anucaritaṃ. Sayaṃpaṭibhānanti attano paṭibhānamattasañjātaṃ. Evamāhāti sassatadiṭṭhiṃ gahetvā evaṃ vadati.
  2. Ở đoạn thứ tư, một số Sa-môn và Bà-la-môn được gọi là nhà ngụy biện do khéo suy tư, hoặc gọi là nhà ngụy biện do có sự suy tư. sau khi suy tư, sau khi suy tầm rồi chấp thủ do năng lực của tà kiến đây là đồng nghĩa với nhà suy luận. Nhà thẩm sát do phối với hợp với tuệ thẩm sát. Sự cân nhắc, sự ưa thích, sự hài lòng bằng tuệ thẩm sát gọi là sự thẩm sát. Tương tư như một người đàn ông dùng cây gậy dò xét nước rồi mới bước xuống như thế nào, tương tư như thế ấy người sau khi cân nhắc, sau khi ưa thích, sau khi hài lòng rồi mới đưa ra kết luận, nên biết rằng gọi là ‘nhà thẩm sát’. Đã được thu thập từ sự suy tư: xác định nắm giữ với sự suy tư, có nghĩa là suy tư theo con đường đó. Đã đuổi với sự thẩm sát: thực hành theo sự thẩm sát có đường lối đã được trình bày. Khả năng hiểu biết của bản thân: chỉ khởi lên từ trí hiểu biết của bản thân. Đã nói như vậy: đã chấp thủ vào thường kiến mới nói như vậy.

Tattha catubbidho takkī — anussutiko, jātissaro, lābhī, suddhatakkikoti. Tattha yo “Vessantaro nāma rājā ahosī”tiādīni sutvā “tena hi yadi vessantarova bhagavā, sassato attā”ti takkayanto diṭṭhiṃ gaṇhāti, ayaṃ anussutiko nāma. dve tisso jātiyo saritvā — “ahameva pubbe asukasmiṃ nāma ahosiṃ, tasmā sassato attā”ti takkayanto jātissaratakkiko nāma. Yo pana lābhitāya “yathā me idāni attā sukhī hoti, atītepi evaṃ ahosi, anāgatepi bhavissatī”ti takkayitvā diṭṭhiṃ gaṇhāti, ayaṃ lābhītakkiko nāma. “Evaṃ sati idaṃ hotī”ti takkamatteneva gaṇhanto pana suddhatakkiko nāma.

Ở đó, nhà ngụy biện có bốn hạng là – anussutiko (nghĩ theo chuyện đã nghe), jātissaro (nghĩ do nhớ đến kiếp sống quá khứ), lābhī (nghĩ đến chuyện có thể nghĩ được), suddhatakkiko (nghĩ bâng quơ). Trong bốn hạng ấy thì người nào nghe rằng “Đã có vua hồng danh Vessantara” v.v rồi nghĩ xem rằng với chính nguyên nhân ấy “Bởi nếu đức Thế Tôn là Vessantara, bản ngã cũng là trường tồn” chấp thủ (do tác động) tà kiến, đây gọi là người nghĩ theo chuyện đã nghe. Người nhớ được 2-3 kiếp sống quá khứ rồi nghĩ xem rằng “Chính tôi trong thời quá khứ đã có tên như thế này, do đó bản ngã là trường tồn”, gọi là nghĩ do nhớ đến kiếp sống quá khứ. Hơn nữa, người nào nghĩ theo rằng “Tự ngã của tôi lúc này đang có sự an lạc thế nào, ngay cả trong thời quá khứ cũng có sự an lạc, (và) luôn cả thời vị lai cũng sẽ có sự an lạc tương tự như thế ấy”, chấp lấy (do tác động) của tà kiến, bởi đạt được cho bản thân, đây gọi là nghĩ đến chuyện có thể nghĩ được. Lại nữa, người nắm giữ chỉ bằng cách tự mình suy nghĩ rằng: “Nếu là như vậy thì sẽ là như vậy”, đây gọi là nghĩ bâng quơ

  1. Etesaṃ vā aññatarenāti etesaṃyeva catunnaṃ vatthūnaṃ aññatarena ekena vā dvīhi vā tīhi vā. Natthi ito bahiddhāti imehi pana vatthūhi bahi aññaṃ ekaṃ kāraṇampi sassatapaññattiyā natthīti appaṭivattiyaṃ sīhanādaṃ nadati.
  2. Hoặc với một luận cứ nào đó trong bốn luận cứ: Với một luận cứ nào đó trong bốn luận cứ này, một loại, hai loại, hoặc ba loại. Ngoài đây ra thì không có (luận cứ nào khác): Đức Thế Tôn gầm lên tiếng gầm con sư tử mà bất cứ ai cũng không thể phản đối được rằng: “Lý do khác dầu chỉ chút ít ngoài những lý do này là không có để quy định (cho rằng) trường tồn.
  3. Tayidaṃ, bhikkhave, tathāgato pajānātīti bhikkhave, taṃ idaṃ catubbidhampi diṭṭhigataṃ tathāgato nānappakārato jānāti. Tato taṃ pajānanākāraṃ dassento ‘ime diṭṭhiṭṭhānā’ti-ādimāha. Tattha diṭṭhiyova402[20] diṭṭhiṭṭhānā nāma. Api ca diṭṭhīnaṃ kāraṇampi diṭṭhiṭṭhānameva. Yathāha – “Katamāni aṭṭha diṭṭhiṭṭhānāni? Khandhāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ, avijjāpi, phassopi, saññāpi, vitakkopi, ayonisomanasikāropi, pāpamittopi, paratoghosopi diṭṭhiṭṭhānan”ti. “Khandhā hetu, khandhā paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena, evaṃ khandhāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ. avijjā hetu ... pe ... pāpamitto hetu. paratoghoso hetu, paratoghoso paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena, evaṃ paratoghosopi diṭṭhiṭṭhānan”ti403[21]. Evaṃ gahitāti diṭṭhisaṅkhātā tāva diṭṭhiṭṭhānā — “sassato attā ca loko cā”ti evaṃgahitā ādinnā, pavattitāti attho. Evaṃ parāmaṭṭhāti nirāsaṅkacittatāya punappunaṃ āmaṭṭhā parāmaṭṭhā, ‘idameva saccaṃ, moghamaññan’ti pariniṭṭhāpitā. Kāraṇasaṅkhātā pana diṭṭhiṭṭhānā yathā gayhamānā diṭṭhiyo samuṭṭhāpenti, evaṃ ārammaṇavasena ca pavattanavasena ca āsevanavasena ca gahitā, anādīnavadassitāya punappunaṃ gahaṇavasena parāmaṭṭhā. Evaṃ gatikāti evaṃ nirayatiracchānapettivisayagatikānaṃ aññataragatikā. Evaṃ abhisamparāyāti idaṃ purimapadasseva vevacanaṃ, evaṃvidhaparalokāti vuttaṃ hoti.
  4. Này các tỳ khưu, Như Lai biết rõ điều này (về các tà kiến ấy): Này chư tỳ khưu chuyện này đây, chính là bốn loại tà kiến Như Lai biết bằng nhiều khía cạnh. Sau đó, trong khi thuyết giảng về biểu hiện bằng việc biết rõ ấy đã nói rằng: “Cơ sở (làm nơi thiết lập) của kiến này” v.v. Trong Pāḷī ấy chính kiến ấy được gọi là cơ sở làm nơi thiết lập của kiến. Hoặc là, ngay cả luận cứ của các kiến cũng được gọi là cơ sở làm nơi thiết lập của kiến tương tự. Như trưởng lão Sārīputta đã nói “Tám cơ sở của kiến là gì? Uẩn là cơ sở của kiến, vô minh cũng là cơ sở của kiến, xúc cũng là cơ sở của kiến, tưởng cũng là cơ sở của kiến, tầm cũng là cơ sở của kiến, tác ý không đúng đắn cũng là cơ sở của kiến, bạn xấu cũng là cơ sở của kiến, lời nói của kẻ khác cũng là cơ sở của kiến, mỗi thứ đều là cơ sở sở làm chỗ thiết lập của kiến. Do đó, các uẩn là nhân, các uẩn là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế chính các uẩn là cơ sở làm nơi thiết lập của kiến. Vô minh là nhân …nt… bạn xấu là nhân …nt… lời nói của kẻ khác là nhân, lời nói của kẻ khác là duyên có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi. Như thế chính lời nói của kẻ khác là cơ sở làm nơi thiết lập của kiến”. Nắm giữ như vậy: cơ sở làm nơi thiết lập kiến ban đầu được xem là kiến – “Bản ngã và thế giới là trường tồn” đã nắm giữ, đã chấp thủ, là vận hành như vậy. Bám víu như vậy: đã nắm giữ, đã bám víu thường xuyên do bản thể con người có tâm không nghi hoặc, thành tựu ý nghĩa rằng: ‘Chỉ điều này là sự thật, những thứ khác là rỗng không’. Hơn nữa, cơ sở làm nơi thiết lập của kiến được xem là nguyên do, trong khi nắm giữ bằng đường lối nào tạo ra các loại kiến (quan điểm), bằng đường lối đó đã nắm giữ do tác động làm đối tượng, do tác động sự vận hành, và do tác động thực hành như vậy, đã bám víu do tác động việc nắm giữ thường xuyên bởi thấy không có lỗi lầm. Có cảnh giới tái sanh như vậy: có một cảnh giới tái sanh nào đó là địa ngục, bàng sanh và ngạ quỷ như vậy. Có kiếp sống kế tiếp như vậy: đây là từ đồng nghĩa với câu đầu mà thôi, được giải thích rằng: có đời này và đời sau như vậy.

Tañca tathāgato pajānātīti na kevalañca tathāgato sakāraṇaṃ sagatikaṃ diṭṭhigatameva pajānāti, atha kho tañca sabbaṃ pajānāti, tato ca uttaritaraṃ sīlañceva samādhiñca sabbaññutaññāṇañca pajānāti. Tañca pajānanaṃ404[22] na parāmasatīti tañca evaṃvidhaṃ anuttaraṃ visesaṃ pajānantopi ahaṃ pajānāmīti taṇhādiṭṭhimānaparāmāsavasena tañca na parāmasati. Aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditāti evaṃ aparāmasato cassa aparāmāsapaccayā405[23] sayameva attanāyeva tesaṃ parāmāsakilesānaṃ nibbuti viditā. Pākaṭaṃ, bhikkhave, tathāgatassa nibbānanti dasseti.

Và Như Lai biết rõ điều đó: và không chỉ Như Lai biết rõ riêng tà kiến cùng với lý do (luận cứ), cùng với cả cảnh giới tái sanh, thật sự Như Lai biết rõ tất cả những thứ ấy, mà còn biết rõ giới, đinh, và trí Toàn Giác vượt lên trên những điều đó. Nhưng không bám víu vào sự biết rõ ấy: Mặc dù biết rõ ân đức đặc biệt cao thượng như vậy đó, tuy nhiên cũng không bám víu bởi sự bám chấp là tham ái, tà kiến, và ngã mạn rằng ‘ta biết rõ’. Và trong khi Như Lai không bám víu, có sự diệt hoàn toàn được biết đến cho chính bản thân của Như Lai: Và trong khi không bám víu như vậy, Như Lai cũng biết sự diệt hoàn toàn của phiền não là những sự bám chấp đó, chính là nắm giữ bởi chính bản thân mình do sự không bám chấp làm duyên. Thuyết rằng: “Này chư tỳ khưu Nibbāna của Như Lai được hiển lộ.”

Idāni yathāpaṭipannena tathāgatena sā nibbuti adhigatā, taṃ paṭipattiṃ dassetuṃ yāsu vedanāsu rattā406[24] titthiyā “idha sukhino bhavissāma, ettha sukhino bhavissāmā”ti diṭṭhigahanaṃ407[25] pavisanti, tāsaṃyeva vedanānaṃ vasena kammaṭṭhānaṃ ācikkhanto vedanānaṃ samudayañcātiādimāha. Tattha yathābhūtaṃ viditvāti “avijjāsamudayā vedanāsamudayoti paccayasamudayaṭṭhena vedanākkhandhassa udayaṃ passati, taṇhāsamudayā vedanāsamudayoti paccayasamudayaṭṭhena vedanākkhandhassa udayaṃ passati, kammasamudayā vedanāsamudayoti paccayasamudayaṭṭhena vedanākkhandhassa udayaṃ passati, phassasamudayā vedanāsamudayoti paccayasamudayaṭṭhena vedanākkhandhassa udayaṃ passati408[26]. Nibbattilakkhaṇaṃ passantopi vedanākkhandhassa udayaṃ passatī”ti imesaṃ pañcannaṃ lakkhaṇānaṃ vasena vedanānaṃ samudayaṃ yathābhūtaṃ viditvā;

Avijjānirodhā vedanānirodhoti paccayanirodhaṭṭhena vedanākkhandhassa vayaṃ passati, taṇhānirodhā vedanānirodhoti paccayanirodhaṭṭhena vedanākkhandhassa vayaṃ passati, kammanirodhā vedanānirodhoti paccayanirodhaṭṭhena vedanākkhandhassa vayaṃ passati, phassanirodhā vedanānirodhoti paccayanirodhaṭṭhena vedanākkhandhassa vayaṃ passati. Vipariṇāmalakkhaṇaṃ passantopi vedanākkhandhassa vayaṃ passatī”ti409[27] imesaṃ pañcannaṃ lakkhaṇānaṃ vasena vedanānaṃ atthaṅgamaṃ yathābhūtaṃ viditvā, “yaṃ vedanaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ vedanāya assādo”ti410[28] evaṃ assādañca yathābhūtaṃ viditvā, “yaṃ vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā, ayaṃ vedanāya ādīnavo”ti evaṃ ādīnavañca yathābhūtaṃ viditvā, “yo vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, idaṃ vedanāya nissaraṇan”ti evaṃ nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā vigatachandarāgatāya anupādāno anupādāvimutto, bhikkhave, tathāgato; yasmiṃ upādāne sati kiñci upādiyeyya, upādinnattā ca khandho bhaveyya, tassa abhāvā kiñci dhammaṃ anupādiyitvāva vimutto bhikkhave tathāgatoti.

Bây giờ để thuyết giảng đạo lộ được thực hành bởi Như Lai, làm nhân đưa đến chứng đạt sự diệt hoàn toàn ấy, các ngoại sự hoan hỷ trong những thọ nào liền đi vào bám lấy kiến rằng: “Chúng tôi sẽ có sự an lạc ở đây, chúng tôi sẽ có sự an lạc trong pháp này” để thuyết đề mục thiền định với những thọ ấy mới thuyết rằng: “Và nhân sanh khởi của các thọ v.v.” Trong Pāḷī ấy ‘sau khi biết đúng theo thực thể’: “Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của thọ, (hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên; Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của thọ, (hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên; Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của thọ, (hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên; Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của thọ, (hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên; (hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn ngay cả trong khi nhận thấy tướng trạng của sự sinh ra,” gọi là sự sanh khởi của các thọ (thọ uẩn) sau khi biết đúng theo thực thể do tác động của năm tướng trạng này.

“Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của thọ, (hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên; Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thọ, (hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên; Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của thọ, (hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên; Do sự diệt tận của xúc, có sự diệt tận của thọ, (hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên; (hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn ngay cả trong khi nhận thấy tướng trạng của sự biến đổi,” gọi là sự diệt của các thọ (thọ uẩn) sau khi biết đúng theo thực thể do tác động của năm tướng trạng này, “lạc và hỷ sanh khởi tùy thuộc vào thọ nào, điều ấy là sự khoái lạc đối với thọ” sau khi biết đúng theo thực thể về sự khoái lạc là như vậy, “thọ nào là vô thường, là khổ đau, có tính chất thay đổi, điều ấy là bất lợi đối với thọ,” sau khi biết đúng thực thể về sự tai hại là như vậy, “Việc nhổ bỏ ước muốn và tham ái ở thọ, việc dứt trừ ước muốn và tham ái ở thọ, điều này là sự xuất ly khỏi thọ,” sau khi biết đúng thực thể về sự xuất ly là như vậy, này các tỳ khưu do có ước muốn và tham ái đã lìa bỏ, Như Lai được giải thoát không còn chấp thủ; trong khi có chấp thủ nào con người cũng có thể chấp thủ vào điều gì và do chấp thủ (ấy) uẩn cũng có thể có, Như Lai không chấp thủ vào bất cứ điều gì, này chư tỳ khưu, do chính không chấp thủ ấy (Như Lai) được giải giải thoát.

  1. Ime kho te, bhikkhaveti ye te ahaṃ — “katame, ca te, bhikkhave, dhammā gambhīrā”ti apucchiṃ, “ime kho te, bhikkhave, tañca tathāgato pajānāti tato ca uttaritaraṃ pajānātī”ti evaṃ niddiṭṭhā sabbaññutaññāṇadhammā gambhīrā duddasā ... pe ... paṇḍitavedanīyāti veditabbā. Yehi tathāgatassa neva puthujjano, na sotāpannādīsu aññataro vaṇṇaṃ yathābhūtaṃ vattuṃ sakkoti, atha kho tathāgatova yathābhūtaṃ vaṇṇaṃ sammā vadamāno vadeyyāti evaṃ pucchamānenāpi411[29] sabbaññutaññāṇameva puṭṭhaṃ, niyyātentenāpi tadeva niyyātitaṃ, antarā pana diṭṭhiyo vibhattāti.
  2. Này các tỳ khưu, chính các pháp này: Những pháp nào là trí Toàn Giác được Như Lai đã thuyết giảng cho các con như vầy - ta đã hỏi rằng: “Những pháp này đây thâm sâu như thế nào? Này các tỳ khưu chính những pháp này đây Như Lai biết rõ điều ấy và biết rõ điều vượt lên trên cả điều ấy” những pháp ấy nên biết rằng thâm sâu, khó nhận thấy …nt… chỉ có những bậc sáng suốt mới hiểu được điều ấy. Làm nhân cho hạng phàm nhân và bậc Thánh nhân có bậc Thánh Nhập-lưu v.v, một trong số ấy không thể nói lời ca ngợi Như Lai đúng theo sự thật, thật sự chỉ có Như Lai trong khi nói lời ca ngợi đúng theo sự thật mới có thể nói lên một cách chân chánh. Đức Thế Tôn ngay cả khi giải thích như vậy cũng chỉ hỏi trí toàn tri, thậm chí khi trao tặng cũng chi trao tặng trí toàn tri ấy, nhưng đã phân tích về kiến ở giữa, là như thế.

Giải Thích Tụng Phẩm Thứ Nhất Được Kết Thúc


 


 

Giải Thích Học Thuyết Trường Tồn Đối Với Một Vài Loại
  1. Ekaccasassatikāti412[30] ekaccasassatavādā. Te duvidhā honti — Sattekaccasassatikā, saṅkhārekaccasassatikāti. Duvidhāpi idha gahitāyeva.
  2. Học thuyết trường tồn đối với một vài loại: học thuyết trường tồn đối với một vài loại. Nhóm người có học thuyết trường tồn đối với một vài loại có 2 nhóm: (1) Học thuyết trường tồn đối với một số loại của chúng sanh, (2) Học thuyết trường tồn đối với một số loại của các hành. Trong trường hợp này ngài lấy luôn cả 2 nhóm.
  3. Yanti nipātamattaṃ. Kadācīti kismiñci kāle. Karahacīti tasseva vevacanaṃ. Dīghassa addhunoti dīghassa kālassa. Accayenāti atikkamena . Saṃvaṭṭatīti vinassati. Yebhuyyenāti ye uparibrahmalokesu vā arūpesu vā nibbattanti, tadavasese sandhāya vuttaṃ. Jhānamanena nibbattattā manomayā. īti tesaṃ bhakkho āhāroti pītibhakkhā. Attanova tesaṃ pabhāti sayaṃpabhā. Antalikkhe carantīti antalikkhacarā. Subhesu uyyāna-vimāna-kapparukkhādīsu tiṭṭhantīti, subhaṭṭhāyino subhā vā manorammavatthābharaṇā hutvā tiṭṭhantīti subhaṭṭhāyino. Ciraṃ dīghamaddhānanti ukkaṃsena aṭṭha kappe.

Yaṃ chỉ là phân từ. Vào một lúc nào đó: vào một lúc nào đó. Vào một thời điểm nào đó: chính là từ đồng nghĩa với ‘vào một lúc nào đó’. một thời gian lâu dài: một thời gian dài. Trải qua: vượt qua. Hoại diệt: diệt vong. Hầu hết: nói đề cập đến nhóm chúng sanh còn lại sanh vào thế giới Phạm thiên ở cõi cao hoặc Phạm thiên Vô sắc. Được thành tựu bời ý vì sanh lên do tâm thiền. Được nuôi dưỡng bằng hỷ vì những chúng sanh ấy được nuôi dưỡng bằng hỷ, tức là có hỷ làm thức ăn. Tự thân có ánh sáng vì những chúng sanh ấy tự thân có ánh sáng. Di chuyển trong không trung bời vì di chuyển trong hư không. Sống ở nơi xinh đẹp bởi vì cư ngụ ở nơi tuyệt mỹ có hoa viên, có cung điện và có cây Như Ý - kapparukkha v.v. Thêm nữa, sống ở nơi xinh đẹp bởi vì người xinh đẹp, tức là có y phục và đồ trang sức đáng vừa lòng. Tồn tại một thời gian lâu dài: xác định (tuổi thọ) cao nhất suốt 8 kappa.

  1. Vivaṭṭatīti saṇṭhāti. Suññaṃ brahmavimānanti pakatiyā nibbattasattānaṃ natthitāya suññaṃ, brahmakāyikabhūmi nibbattatīti attho. Tassa kattā vā kāretā vā natthi, visuddhimagge vuttanayena pana kammapaccayautusamuṭṭhānā ratanabhūmi nibbattati. Pakatinibbattiṭṭhānesuyeva413[31] cettha uyyānakapparukkhādayo nibbattanti. Atha sattānaṃ pakatiyā vasitaṭṭhāne nikanti uppajjati, te paṭhamajjhānaṃ bhāvetvā tato otaranti, tasmā atha kho aññataro sattotiādimāha. Āyukkhayā vā puññakkhayā vāti ye uḷāraṃ puññakammaṃ katvā yattha katthaci appāyuke devaloke nibbattanti, te attano puññabalena ṭhātuṃ na sakkonti, tassa pana devalokassa āyuppamāṇeneva cavantīti āyukkhayā cavantīti vuccanti. Ye pana parittaṃ puññakammaṃ katvā dīghāyukadevaloke nibbattanti, te yāvatāyukaṃ ṭhātuṃ na sakkonti, antarāva cavantīti puññakkhayā cavantīti vuccanti. Dīghamaddhānaṃ tiṭṭhatīti kappaṃ vā upaḍḍhakappaṃ vā.
  2. Hình thành: được hình thành tốt đẹp. Phạm Thiên cung hiện ra, trống không: gọi là trống không do không có chúng sanh sanh lên theo bản thể tự nhiên, cõi trời làm nơi cư ngụ của chúng Phạm Thiên được sanh lên. Vị kiến tạo, hay vị cho kiến tạo thiên cung Phạm Thiện ấy là không có, những ratana-bhūmi có thời tiết làm sở sanh sanh khởi do nghiệp làm duyên theo phương cách đã được nói trong Thanh Tịnh Đạo. Và trong ratana-bhūmi này tạo ra hoa viên và cây Như Ý v.v, ở nơi cư ngụ mà chúng sanh ấy sanh ra thuận theo tự nhiên. Khi ấy, những chúng sanh khởi lên sự dính mắc ở nơi cư ngụ theo tự nhiên, họ đã tu tập Sơ thiền rồi bước xuống từ chỗ ấy, vì thế đức Thế Tôn mới nói rằng: ‘Khi ấy có một chúng sanh nào đó v.v.’ Hoặc do cạn kiệt tuổi thọ, hay do cạn kiệt phước báu: Chúng sanh nào đã tạo nhiều phước nghiệp hóa sanh vào một chỗ nào thuộc thế giới chư Thiên có tuổi thọ ít ỏi, những chúng sanh ấy không thể duy trì hết tuổi thọ do năng lực phước báu của bản thân, tuy nhiên ‘tử’ theo ước lượng tuổi thọ của cõi chư Thiên ấy, vì thế được gọi là chết do cạn kiệt tuổi thọ. Hơn nữa, chúng sanh nào đã tạo ít phước nghiệp rồi hóa sanh vào thế giới chư Thiên có tuổi thọ dài, những chúng sanh ấy không thể duy trì hết tuổi thọ, đã chết ở khoảng giữa, vì thế được gọi là chết do cạn kiệt phước nghiệp. Tồn tại một thời gian lâu dài: Suốt một kiếp hoặc nửa kiếp.
  3. Anabhiratīti aparassāpi sattassa āgamanapatthanā. Yā pana paṭighasampayuttā ukkaṇṭhitā, sā brahmaloke natthi. Paritassanāti ubbijjanā phandanā, sā panesā tāsatassanā, taṇhātassanā, diṭṭhitassanā, ñāṇatassanāti catubbidhā hoti. Tattha “jātiṃ paṭicca bhayaṃ bhayānakaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso cetaso utrāso. jaraṃ... byādhiṃ... maraṇaṃ paṭicca ... pe ... utrāso”ti414[32] ayaṃ tāsatassanā nāma. “Aho vata aññepi sattā itthattaṃ āgaccheyyun”ti415[33] ayaṃ taṇhātassanā nāma. “paritassitavipphanditamevā”ti ayaṃ diṭṭhitassanā nāma. “Tepi tathāgatassa dhammadesanaṃ sutvā yebhuyyena bhayaṃ saṃvegaṃ santāsaṃ āpajjantī”ti416[34] ayaṃ ñāṇatassanā nāma. idha pana taṇhātassanāpi diṭṭhitassanāpi vaṭṭati. brahmavimānanti idha pana paṭhamābhinibbattassa atthitāya suññanti na vuttaṃ. Upapajjantīti upapattivasena upagacchanti. Sahabyatanti sahabhāvaṃ.
  4. Sự tơ tưởng: mong uốn cho chúng sanh khác đến. Hơn nữa, sự nhàm chán tương ưng với sự ghét bỏ không có trong thế giới Phạm Thiên. Sự sợ hãi: tâm trạng bị xao động, trạng thái không thoải mái. Sự sợ hãi này đây có bốn là (1) sự sợ hãi do hoảng sợ, (2) sự sợ hãi do tham ái, (3) sự sợ hãi do tà kiến, (4) sự sợ hãi do trí. Ở đó, “tùy thuận vào sự sanh, sợ hãi, trạng thái sợ hãi, trạng thái kinh hãi, sự sởn lông tóc, sự hốt hoảng, sự khiếp sợ của tâm. Tùy thuận vào sự già…tùy thuộc vào bệnh tật…nt.. tùy thuộc sự khiếp sợ của tâm,” điều này là sự sợ hãi do hoảng sợ. “Ôi, ước gì các chúng sinh khác cũng có thể đi đến bản thể này!’ điều này là sự sợ hãi do tham ái. “Sự hoảng sợ cũng là sự sợ hãi ấy” điều ấy là sự sợ hãi do tà kiến. “Thậm chí những người này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ rơi vào sự sợ hãi, rơi vào sự chấn động, rơi vào sự kinh sợ”, điều này là sự sợ hãi do trí. Hơn nữa, trong trường hợp này thì cả sự sợ hãi tham ái, và luôn cả sự sợ hãi do tà kiến đều thích hợp. Phạm Thiên cung: hơn nữa ở đây không nói rằng ‘trống không’ do có chúng sanh đã sanh ra trước rồi. Tái sanh vào: đi vào bằng sự tái sanh. Là bạn đồng hành: tính chất cùng nhau (tình bạn lữ).
  5. Abhibhūti abhibhavitvā ṭhito jeṭṭhakohamasmīti. Anabhibhūtoti aññehi anabhibhūto. Aññadatthūti ekaṃsavacane nipāto. Dassanavasena daso, sabbaṃ passāmīti attho. Vasavattīti sabbaṃ janaṃ vase vattemi. Issaro kattā nimmātāti ahaṃ loke issaro, ahaṃ lokassa kattā ca nimmātā ca, pathavī — himavanta-sineru-cakkavāḷa-mahāsamudda-candima-sūriyā mayā nimmitāti. Seṭṭho sajitāti ahaṃ lokassa uttamo ca sajitā417[35] ca, “tvaṃ khattiyo nāma hohi, tvaṃ brāhmaṇo, vesso, suddo, gahaṭṭho, pabbajito nāma. Antamaso tvaṃ oṭṭho hohi, goṇo hohī”ti “evaṃ sattānaṃ saṃvisajetā418[36] ahan”ti maññati. Vasī pitā bhūtabhabyānanti419[37] ahamasmi ciṇṇavasitāya vasī, ahaṃ pitā bhūtānañca bhabyānañcāti maññati. Tattha aṇḍajajalābujā sattā antoaṇḍakose ceva antovatthimhi ca bhabyā nāma, bahi nikkhantakālato paṭṭhāya bhūtā nāma. saṃsedajā paṭhamacittakkhaṇe bhabyā, dutiyato paṭṭhāya bhūtā. opapātikā paṭhamairiyāpathe bhabyā, dutiyato paṭṭhāya bhūtāti veditabbā. Te sabbepi mayhaṃ puttāti saññāya “ahaṃ pitā bhūtabhabyānan”ti maññati.
  6. Đấng chiến thắng: là vị đã chinh phục, ta là bậc tối thượng nhất. Bậc không bị chế ngự: Bậc không bị chế ngự bởi những người khác. Aññadatthuṃ: là một phân từ với ý nghĩa thấu đáo. Thấy: do tác động sự thấy, giải thích rằng ta nhìn thấy tất cả. Bậc vận hành quyền lực: ta khiến tất cả mọi người nằm trong quyền kiểm soát của ta. Đấng chúa tể, đấng tạo lập, đấng tạo hóa: ta là đấng chúa tể ở thế gian, ta là người kiến tạo thế gian và đấng tạo hóa – quả địa cầu, núi Hy-mã-lạp, núi Suneru, vũ trụ, biển cả, mặt trăng, và mặt trời được tạo ra bởi ta. Đấng cao cả, đấng quyền năng: Tưởng tượng rằng - ta là đấng cao cả và là người sắp đặt ở thế gian, ta phân loại tất cả chúng sanh như vầy “ngươi hãy là vị Sát-đế-lỵ, là Bà-la-môn, là thương nhân, là kẻ nô lệ, là người tại gia, là vị xuất gia. Thậm chí ngươi hãy là loài lạc đà, hãy là loài bò”. Đấng quyền lực, đấng cha ông của các chúng sanh đã hình thành và đang hình thành: Tưởng tượng rằng - ta được xem là người có quyền lực bởi vì là người tích trữ quyền lực, ta là đấng cha ông của các chúng sanh đã hình thành và của các chúng sanh đang hình thành. Trong hai lại chúng sanh ấy những chúng sanh thuộc nhóm noãn sanh và thai sanh, ở trong vỏ trứng và ở trong dạ con được gọi là đang hình thành, kể từ lúc lọt ra ngoài được gọi là đã hình thành. Nhóm thấp sanh ở sát-na tâm đầu tiên được gọi là đang hình thành, kể từ sát-na tâm thứ hai trở đi được gọi là đã hình thành. Nhóm hóa sanh ở oai nghi đầu tiên được gọi là đang hình thành, kể từ oai nghi thứ hai trở đi được gọi là đã hình thành. Tưởng tưởng rằng: ta là đấng cha ông của các chúng sanh đã hình thành và của các chúng sanh đang hình thành với suy tưởng rằng - ‘toàn bộ chúng sanh ấy đều là con của ta’. 

Idāni kāraṇato420[38] sādhetukāmo — “mayā ime sattā nimmitā”ti paṭiññaṃ katvā “taṃ kissa hetū”tiādimāha. Itthattanti itthabhāvaṃ, brahmabhāvanti attho. Iminā mayanti attano kammavasena cutāpi upapannāpi ca kevalaṃ maññanāmatteneva “iminā mayaṃ nimmitā”ti maññamānā vaṅkacchidde421[39] vaṅkāaṇī viya onamitvā tasseva pādamūlaṃ gacchantīti.

Bây giờ, đức Thế Tôn có ước muốn làm cho ý nghĩa được hoàn tất bằng việc nêu ra lý do đã tuyên bố rằng: “Những chúng sanh này đã được tạo ra bởi ta” mới nói rằng “Điều ấy do nguyên nhân gì?” Là như thế: bản chất là như vậy, có nghĩa là bản thể Phạm Thiên. Chúng ta được ngài Phạm Thiên này tạo ra: những chúng sanh ấy dù đã chết, hay đã tái sanh do nghiệp của mỗi các nhân, nhưng hoàn toàn chỉ với sự tưởng tượng mà thôi, cũng tưởng tượng rằng “Chúng ta được ngài Phạm Thiên tạo ra” mọi người ai cũng đi đến nghiêng mình cúi lạy dưới bàn chân của chính vị ấy giống như cái nêm cửa được uốn cong theo lỗ khoan được uốn công.

  1. Vaṇṇavantataro cāti vaṇṇavantataro422[40], abhirūpo pāsādikoti attho.

Mahesakkhataroti issariyaparivāravasena mahāyasataro.

  1. Và có màu da xinh đẹp hơn: có màu da xinh đẹp hơn, được giải thích rằng có sắc tướng xinh đẹp, đáng để chiêm ngưỡng. Có quyền uy lớn hơn: Có danh tiếng lẫy lừng do tác động của uy quyền và đồ chúng.
  2. Ṭhānaṃ kho panetanti kāraṇaṃ kho panetaṃ. So tato cavitvā aññatra na gacchati, idheva āgacchati, taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. Agārasmāti gehā. Anagāriyanti pabbajjaṃ. Pabbajjā hi yasmā agārassa hi taṃ kasigorakkhādikammaṃ tattha423[41] natthi, tasmā anagāriyanti vuccati. Pabbajatīti upagacchati. Tato paraṃ nānussaratīti tato pubbenivāsā paraṃ na sarati, sarituṃ asakkonto tattha ṭhatvā diṭṭhiṃ gaṇhāti.
  3. Hơn nữa, sự kiện này quả thật được biết đến: hơn nữa, lý do này quả thật được biết đến. Được nói như vậy muốn đề cập đến chúng sanh ấy rằng: ‘chúng sanh đó sau khi chết từ cõi đó, không đi đến (tái sanh) ở cõi khác, mà chỉ trở lại cõi này.’ Từ nhà: từ nhà. Rời nhà sống không nhà: trở thành bậc xuất gia. Thật vậy, bậc xuất gia ngài gọi lả ‘rời nhà sống không nhà’ bởi vì không có sinh kế như làm ruộng và nuôi bò v.v, là lợi ích trợ giúp gia đình. Xuất gia: đạt đến. Hơn thế nữa không nhớ được kiếp sống nào khác: Không thể nhớ vượt ngoài uẩn đã từng y cứ ấy, khi không thể nhớ được cũng đã an trú vào trong uẩn được y cứ ấy rồi bám víu thành tà kiến.

Niccotiādīsu tassa upapattiṃ apassanto niccoti vadati, maraṇaṃ apassanto dhuvoti, sadābhāvato sassatoti, jarāvasenāpi vipariṇāmassa abhāvato avipariṇāmadhammoti. Sesamettha paṭhamavāre uttānamevāti.

Vị ấy là thường còn v.v, nghĩa là những chung sanh ấy khi không nhìn thấy sự tái sanh của vị đó mới nói rằng ‘thường còn’, khi không nhìn thấy sự chết mới nói rằng: ‘bền vững’, do có tính chất luôn luôn nên được gọi là ‘trường tồn’. Do không có sự biến hoại ngay cả sự già nua mới nói rằng ‘có bản chất không biến đổi’. Các từ còn lại ở đoạn này đều đơn giản.

45-46. Dutiyavāre khiḍḍāya padussanti vinassantīti khiḍḍāpadosikā, padūsikātipi pāḷiṃ likhanti, sā aṭṭhakathāyaṃ natthi. Ativelanti atikālaṃ, aticiranti attho. Hassakhiḍḍāratidhammasamāpannāti hassarati dhammañceva khiḍḍāratidhammañca samāpannā anuyuttā, keḷihassasukhañceva kāyikavācasikakīḷāsukhañca anuyuttā, vuttappakāraratidhammasamaṅgino hutvā viharantīti attho. Sati sammussatīti khādanīyabhojanīyesu sati sammussati. Te kira puññavisesādhigatena mahantena attano sirivibhavena nakkhattaṃ kīḷantā tāya sampattimahantatāya424[42] — “āhāraṃ paribhuñjimha, na paribhuñjimhā”tipi na jānanti. atha ekāhārātikkamanato paṭṭhāya nirantaraṃ khādantāpi pivantāpi cavantiyeva, na tiṭṭhanti. kasmā? Kammajatejassa balavatāya, karajakāyassa mandatāya, manussānañhi kammajatejo mando, karajakāyo balavā. Tesaṃ tejassa mandatāya karajakāyassa balavatāya sattāhampi atikkamitvā uṇhodakācchayāguādīhi sakkā vatthuṃ upatthambhetuṃ. Devānaṃ pana tejo balavā hoti, karajaṃ mandaṃ.

45-46. Ở đoạn thứ hai, chúng chư thiên được gọi là ‘bị hư hỏng vì đùa giỡn’ bởi vì bị tiêu hoại, bị hư hỏng vì đùa giỡn, tác giả viết Pāḷī thành Padūsikā cũng có, Pāḷī Padūsikā ấy không có trong Aṭṭhakathā. Quá độ: quá thời gian, có nghĩa là quá lâu. Sống đam mê trong sự cười cợt, đùa giỡn, và đùa nghịch: Đam mê, sống chỉ quan tâm đến sự vui sướng là sự đùa giỡn, và sự vui sướng là sự đùa nghịch, giải thích rằng: sống đắm mình vào sự hạnh phúc được sanh lên từ việc vui chơi, việc đùa giỡn và sự hạnh phúc (sanh lên) từ việc vui chơi bằng thân, bằng lời. Là người có sự thành tựu với sự vui sướng theo cách đã nói. Do việc quên lãng niệm: quên nghĩ đến thọ đụng vật thực loại cứng và vật thực loại mềm. Tương truyền rằng chúng chư thiên ‘bị hư hỏng vì đùa giỡn ấy’ vui chơi lễ hội nakkhatta do sự thành tựu vinh quang to lớn của chính mình nhờ đạt được phước báu đặc biệt do sự thành tựu to lớn ấy mới không biết rằng – “Tôi thọ dụng vật thực, hay chưa thọ dụng vật thực?” Thế rồi khi thời gian cho một bữa ăn đã trôi qua, cả việc nhai ăn lẫn việc uống không bị gián đoạn thì chết ngay tức khắc, không thể vững trú được. Vì sao? Bởi vì do năng lực của Hỏa giới sanh lên từ nghiệp, do sự yếu ớt của sắc thân; bởi vì tất cả người nhân loại có Hỏa giới sanh lên từ nghiệp yếu ớt, có sắc thân rắn chắc và do khi Hỏa giới của người nhân loại ấy yếu ớt, sắc thân rắn chắc kể cả thời gian trôi quan bảy ngày (không thọ dụng vật thực) cũng có thể nuôi dưỡng sắc thân bằng nước ấm và nước cháo v.v. Còn chúng chư Thiên có Hỏa giới có năng lực, sắc thân yếu ớt. 

Te ekaṃ āhāravelaṃ atikkamitvāva saṇṭhātuṃ na sakkonti. Yathā nāma gimhānaṃ majjhanhike tattapāsāṇe ṭhapitaṃ padumaṃ vā uppalaṃ vā sāyanhasamaye ghaṭasatenāpi siñciyamānaṃ pākatikaṃ na hoti, vinassatiyeva. Evameva pacchā nirantaraṃ khādantāpi pivantāpi cavantiyeva, na tiṭṭhanti. Tenāha “satiyā sammosā te devā tamhā kāyā cavantī”ti. Katame pana te devāti? Ime devāti425[43] aṭṭhakathāyaṃ vicāraṇā natthi, “devānaṃ kammajatejo balavā hoti, karajaṃ mandan”ti avisesena vuttattā pana ye keci kabaḷīkārāhārūpajīvino devā evaṃ karonti, teyeva cavantīti veditabbā. Keci panāhu — “nimmānaratiparanimmitavasavattino te devā”ti. khiḍḍāpadussanamatteneva hete khiḍḍāpadosikāti vuttā. Sesamettha purimanayeneva veditabbaṃ.

Những vị ấy dù chỉ quá thời gian một bữa ăn cũng không thể vững trú được. Giống như hoa sen hoặc hoa súng được một người đặt lên trên một phiến đá nóng vào buổi trưa của mùa nóng, khi màn đêm buông xuống dầu có múc hàng trăm thùng nước để tưới cũng không thể tươi lại được, bị khô héo hoàn toàn thế nào. Tương tự y như thế ấy chúng chư thiên ‘bị hư hỏng vì đùa giỡn’ ấy dù ăn nhai, luôn cả uống, không bị gián đoạn sau đó cũng chết ngay tức khắc, không thể vững trú được. Vì thế đức Thế Tôn đã nói “Do việc quên lãng niệm chúng chư Thiên ấy đã chết từ chỗ đó”. Chúng chư Thiên ấy thuộc nhóm nào? Điều này trong Sớ Giải cũng không dẫn giải ‘họ thuộc vào nhóm nào’. Tuy nhiên do được nói với sự không khác biệt “Chúng chư thiên có Hỏa giới sanh lên từ nghiệp có năng lực, có sắc thân yếu ớt”, bất kỳ một chư Thiên nào nào lệ thuộc vào Đoàn thực để nuôi mạng được thực hiện như vậy thì chư Thiên ấy nên biết rằng ‘chết như thế’. Một số vị thầy lại nói rằng: “Chư Thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên và cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên là những vị thiên ‘bị hư hỏng vì đùa giỡn’” bởi vì những vị này được gọi là ‘bị hư hỏng vì đùa giỡn’ bởi nguyên nhân hư hỏng chỉ vì việc đùa giỡn. Các từ còn lại ở phần này nên hiểu theo phương cách đầu.

47-48. Tatiyavāre manena padussanti vinassantīti manopadosikā, ete cātumahārājikā. Tesu kira eko devaputto — nakkhattaṃ kīḷissāmīti saparivāro rathena vīthiṃ paṭipajjati, athañño nikkhamanto taṃ purato gacchantaṃ disvā — ‘Bho426[44] ayaṃ kapaṇo’, adiṭṭhapubbaṃ viya etaṃ disvā — “Pītiyā uddhumāto viya bhijjamāno viya ca gacchatī”ti kujjhati. Purato gacchantopi nivattitvā taṃ kuddhaṃ disvā — kuddhā nāma suviditā427[45] hontīti kuddhabhāvamassa ñatvā — “tvaṃ kuddho, mayhaṃ kiṃ karissasi, ayaṃ sampatti mayā dānasīlādīnaṃ vasena laddhā, na tuyhaṃ vasenā”ti paṭikujjhati. Ekasmiñhi kuddhe itaro akuddho rakkhati, ubhosu pana kuddhesu ekassa kodho itarassa paccayo hoti. Tassapi kodho itarassa paccayo hotīti ubho kandantānaṃyeva orodhānaṃ cavanti. Ayamettha dhammatā. sesaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ.

47-48. Ở đoạn thứ ba, các tôn giả chư thiên được gọi là ‘hạng bị hư hỏng bởi tâm ý’ bởi vì bị hoại diệt, bị hư hỏng bởi tâm ý, đây là chư Thiên Tứ Đại Thiên Vương. Tương truyền rằng trong số các vị chư Thiên ấy có một vị Thiên tử nghĩ rằng – ta sẽ vui chơi lễ hội nakkhatta mới du hành bằng thiên xa cùng với các tùy tùng, khi ấy các vị Thiên tử khác trong khi đi ra ngoài đã nhìn thấy vị thiên tử ấy đang đi ở phía trước, (vị ấy) phẫn nộ – ‘Tôn giả Thiên Tử thật đáng thương này’ đã nhìn thấy người lại vờ như chưa từng thấy. – “Bước đi hống hách giống như đang nắm giữ và giống như đang vỡ ra với sự hả lòng hả dạ.” Còn vị Thiên Tử trong khi đi phía trước ngoái lại nhìn thấy vị Thiên Tử ấy (khởi tâm) giận dữ (mình), thật là dễ để nhận biết người đang nóng giận, sau khi biết được vị ấy đang giận mình thì (bản thân) cũng đã tức giận đáp rằng – “Ông bực tức tôi, ông sẽ làm gì được tôi, sự thành tựu này tôi đã đạt được nhờ vào năng lực phước báu như bố thí, trì giới v.v, chớ không phải có được nhờ vào năng lực của ông”. Nếu như khi một vị Thiên Tử giận dữ còn vị kia không giận dữ (có thế) gìn giữ được (mạng sống), nhưng khi cả hai bên cùng giận nhau thì sự giận dữ của bên này lại là điều kiện cho bên kia. Luôn cả sự giận dữ của bên kia cũng là điều kiện cho bên còn lại, (vì thế) mà cả hai bên đều chết mặc cho đám hầu thiếp than khóc. Điều này ở đây là bình thường trong việc giận dữ của chúng chư Thiên. Từ còn lại nên biết theo chính phương cách đã được nói.

49-52. Takkīvāde428[46] ayaṃ cakkhādīnaṃ bhedaṃ passati, cittaṃ pana yasmā purimaṃ purimaṃ pacchimassa pacchimassa paccayaṃ datvāva nirujjhati, tasmā cakkhādīnaṃ bhedato balavatarampi cittassa bhedaṃ na passati. So taṃ apassanto yathā nāma sakuṇo ekaṃ rukkhaṃ jahitvā aññasmiṃ429[47] nilīyati, evameva imasmiṃ attabhāve bhinne cittaṃ aññatra gacchatīti gahetvā evamāha. Sesamettha vuttanayeneva veditabbaṃ.

49-52. Trong đoạn của nhà biện luận, Sa-môn và Bà-la-môn suy tư này thấy sự tan rã của con mắt v.v, nhưng vì lý do tâm thứ nhất đủ để làm duyên cho tâm sau mới diệt đi như thế, vì thế mới không nhìn thấy sự phá hủy của tâm mặc dù có năng lực hơn sự tan rã của con mắt v.v. Sa-môn và Bà-la-môn suy tư ấy trong khi không nhìn thấy sự phá hủy của tâm ấy mới nắm giữ rằng: Khi thân hình- attabhāva này bị tan rã, tâm này đi đến một bản ngã khác giống như một con chim lìa bỏ cây này bay đến đậu vào một cây khác đã nói như vậy. Từ còn lại ở đoạn này nên hiểu theo phương cách đã nói. 

Giải Thích Học Thuyết Hữu Biên - Vô Biên

53. Antānantikāti antānantavādā, antaṃ vā anantaṃ vā antānantaṃ vā nevantānānantaṃ vā ārabbha pavattavādāti attho.

53. Học thuyết hữu biên - vô biên: Học thuyết thế giới hữu biên và vô biên, có nghĩa là học thuyết diễn biến liên quan đến thế giới như sau: Có chỗ tận cùng, hoặc không có chỗ tận cùng, hoặc có chỗ tận cùng và không có chỗ tận cùng, hoặc có chỗ tận cùng cũng không phải mà không có chỗ tận cùng cũng không phải.

54-60. Antasaññī lokasmiṃ viharatīti paṭibhāganimittaṃ cakkavāḷapariyantaṃ avaḍḍhetvā taṃ — “loko”ti gahetvā antasaññī lokasmiṃ viharati, cakkavāḷapariyantaṃ katvā vaḍḍhitakasiṇo430[48] pana anantasaññī hoti, uddhamadho avaḍḍhetvā pana tiriyaṃ vaḍḍhetvā uddhamadho antasaññī, tiriyaṃ anantasaññī. Takkīvādo vuttanayeneva veditabbo. Ime cattāropi attanā diṭṭhapubbānusāreneva diṭṭhiyā gahitattā pubbantakappikesu paviṭṭhā.

54-60. Có tư tưởng thế giới là hữu biên, rồi sống (với quan điểm ấy): Sa-môn và Bà-la-môn đã không mở rộng quang tướng - paṭibhāganimitta đến ranh giới vũ trụ – đã nắm giữ ranh giới vũ trụ ấy cho rằng là ‘thế giới’ mới có tư tưởng thế giới là hữu biên, rồi sống (với quan điểm ấy), hơn nữa đã không mở rộng đề mục về phía trên và về phía dưới, chỉ mở rộng bề ngang, nên mới có tư tưởng thế giới là hữu biên về phía trên và về phía dưới, có tư tưởng thế giới là vô biên về bề ngang. Học thuyết của nhà biện luận nên biết với chính phương cách đã nói. Cả bốn luận cứ này được xếp vào ‘lập luận về thời quá khứ’ bởi vì nắm giữ với tà kiến theo đúng cách đã từng nhìn thấy trước đó của bản thân.

Giải Thích Học Thuyết Trườn Uốn Như Con Lươn
  1. Na maratīti amarā. Kā sā? Evantipi me notiādinā nayena pariyantarahitā diṭṭhigatikassa diṭṭhi ceva vācā431[49] ca. Vividho khepoti vikkhepo, amarāya diṭṭhiyā vācāya ca vikkhepoti amarāvikkhepo, so etesaṃ atthīti amarāvikkhepikā, aparo nayo — amarā nāma ekā macchajāti, sā ummujjananimujjanādivasena udake sandhāvamānā gahetuṃ na sakkāti, evameva ayampi vādo itocito ca sandhāvati, gāhaṃ na upagacchatīti amarāvikkhepoti vuccati. So etesaṃ atthīti amarāvikkhepikā.
  2. Bất tử bởi vì không chết. Bất tử ấy là gì? Là quan điểm và lời nói của người có tà kiến xa lìa sự tận cùng theo phương cách được bắt đầu như sau: quan điểm ‘như vậy’ theo tôi là không phải. Lắt léo: có nhiều cách khác nhau do uốn lượn. Trườn uốn như con lươn do quan điểm và lời nói lắt léo không kiên định, họ gọi là có lời nói lắt léo không kiên định bởi vì có quan điểm và lời nói lắt léo không kiên định ấy, nói cách khác - một con lươn được gọi là amarā. Con lươn ấy trong khi bơi lội trong nước bằng cách ngoi lên và lặn xuống v.v, bất cứ ai cũng không thể bắt được, cũng tương tự như thế ngay cả lời nói bỡn cợt chỗ này chỗ nọ không đạt đến biểu hiện (có thể) nắm bắt được (vì thế) được gọi là trườn uốn như con lươn. Sa-môn và Bà-la-môn được gọi là trườn uốn như con lươn bởi vì có quan điểm và lời nói lắt léo giống như con lươn.
  3. Idaṃ kusalan”ti yathābhūtaṃ nappajānātīti dasa kusalakammapathe yathābhūtaṃ nappajānātīti attho. Akusalepi dasa akusalakammapathāva adhippetā. So mamassa vighātoti “musā mayā bhaṇitan”ti vippaṭisāruppattiyā mama vighāto assa, dukkhaṃ bhaveyyāti attho. So mamassa antarāyoti so mama saggassa ceva maggassa ca antarāyo assa. Musāvādabhayā musāvādaparijegucchāti musāvāde ottappena ceva hiriyā 

ca. Vācāvikkhepaṃ āpajjatīti vācāya vikkhepaṃ āpajjati. Kīdisaṃ? amarāvikkhepaṃ,

apariyantavikkhepanti attho.

  1. Không biết rõ đúng theo thực thể: ‘Đây là thiện’ - nghĩa là không biết rõ thập thiện nghiệp đạo đúng theo thực thể. Luôn cả phần bất thiện cũng đề cập đến chính thập bất thiện nghiệp đạo. Lời nói dối ấy đối với ta là sự phiền muộn: Có thể trở thành sự phiền muộn, là sự khổ đau đối với ta do khởi lên sự hối tiếc rằng ‘ta đã nói lời nói dối’. Sự phiền muộn ấy đối với ta là chướng ngại: Sự phiền muộn ấy có thể trở thành chướng ngại con đường lên thiên giới và Đạo của ta. Do sợ hãi việc nói lời nói dối, do ghê tởm việc nói lời nói dối: Do ghê sợ tội lỗi và do sự hổ thẹn trong việc nói lời nói dối. Vị ấy sử dụng lời nói lắt léo không kiên định: Sử dụng lời nói lắt léo không kiên định. Nói lời nói như thế nào? Nói lời nói lắt léo không kiên định (trườn uốn như con lươn), có nghĩa là lắt léo không có kết thúc.

Evantipi me notiādīsu evantipi me noti aniyamitavikkhepo. Tathātipi me noti “sassato attā ca loko cā”ti vuttaṃ sassatavādaṃ paṭikkhipati. Aññathātipi me noti sassatato aññathā432[50] vuttaṃ ekaccasassataṃ433[51] paṭikkhipati. Notipi me noti — “na hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti vuttaṃ ucchedaṃ paṭikkhipati. No notipi me noti “neva hoti na na hotī”ti vuttaṃ takkīvādaṃ paṭikkhipati. Sayaṃ pana “idaṃ kusalan”ti vā “akusalan”ti vā puṭṭho na kiñci byākaroti. “Idaṃ kusalan”ti puṭṭho “evantipi me no”ti vadati. Tato “kiṃ akusalan”ti vutte “tathātipi me no”ti vadati. “Kiṃ ubhayato aññathā”ti vutte “aññathātipi me no”ti vadati. Tato “tividhenāpi na hoti, kiṃ te laddhī”ti vutte “notipi me no”ti vadati. Tato “kiṃ no noti te laddhī”ti vutte “no notipi me no”ti evaṃ vikkhepameva āpajjati, ekasmimpi pakkhe na tiṭṭhati.

Tuy nhiên, quan điểm ‘như vậy’ theo tôi là không phải v.v, Quan điểm của tôi ‘như vậy’ cũng không phải là lời nói lắt léo không chắc chắn. Quan điểm ‘như thế ấy’ theo tôi cũng không phải: ngài bác bỏ học thuyết thường tồn được nói rằng ‘bản ngã và thế giới là thường tồn’. Quan điểm ‘như thế kia’ theo tôi cũng là không phải: ngài bác bỏ học thuyết thường tồn là phiến diện được nói rằng: ‘theo cách khác từ sự thường tồn’. Quan điểm ‘không phải’ theo tôi cũng là không phải: ngài bác bỏ học thuyết đoạn diệt được nói rằng: ‘Chúng sinh không hiện hữu sau khi chết’. Quan điểm ‘không phải là không phải’ theo tôi cũng là không phải: ngài bác bỏ học thuyết của kẻ ngụy biện được nói rằng: ‘(Chúng sinh) hiện hữu cũng không phải mà không hiện hữu cũng không phải’. Hơn nữa, hạng người có quan điểm lắt léo không kiên định này khi bị hỏi rằng: ‘đây là thiện’ hay ‘bất thiện’ thì không trả lời bất cứ lời gì, hoặc bị hỏi ‘đây là thiện’ thì trả lời “quan điểm của tôi ‘như vậy’ cũng không phải”. - Sau đó, trong khi hỏi ‘điều gì là thiện’ thì trả lời “quan điểm ‘như thế ấy’ theo tôi cũng không phải”. - Trong khi hỏi “theo cách khác từ 2 cách phải chăng?” thì trả lời “quan điểm ‘như thế kia’ theo tôi cũng là không phải”. Sau đó, trong khi hỏi ‘cả ba cũng không phải, thế học thuyết của ngài là gì?’ thì trả lời ‘quan điểm ‘không phải’ theo tôi cũng là không phải’. - Sau đó, trong khi hỏi “học thuyết của ngài nói rằng ‘không phải cũng không phải’ hay sao?” thì sử dụng lời nói lắt léo như vầy “quan điểm ‘không phải là không phải’ theo tôi cũng là không phải”, không được thiết lập dù chỉ một phía.

  1. Chando vā rāgo vāti ajānantopi sahasā kusalameva “kusalan”ti vatvā akusalameva “akusalan”ti vatvā mayā asukassa nāma evaṃ byākataṃ, kiṃ taṃ subyākatanti aññe paṇḍite pucchitvā tehi — “subyākataṃ, bhadramukha, kusalameva tayā kusalaṃ, akusalameva akusalanti byākatan”ti vutte natthi mayā sadiso paṇḍitoti evaṃ me tattha chando vā rāgo vā assāti attho. Ettha ca chando dubbalarāgo, rāgo balavarāgo. Doso vā paṭigho vāti kusalaṃ pana “akusalan”ti, akusalaṃ vā “kusalan”ti vatvā aññe paṇḍite pucchitvā tehi — “dubyākataṃ tayā”ti vutte ettakampi nāma na jānāmīti tattha me assa doso vā paṭigho vāti attho. Idhāpi doso dubbalakodho, paṭigho balavakodho.
  2. Sự mong muốn hoặc luyến ái: Thậm chí trong khi không xác chứng cũng vội trả lời chính thiện ấy ‘là thiện’, chính bất thiện ‘là bất thiện’ rồi hỏi các vị sáng suốt khác rằng: “Câu trả lời mà tôi trả lời cho người kia như vậy, câu trả lời ấy đã trả lời đúng đắn chưa? Khi những vị sáng suốt ấy đáp rằng: “Tốt lắm thưa ngài, ngài đã trả lời một cách đúng đắn, chính thiện ấy ngài đã trả lời ‘là thiện’, chính bất thiện ấy ngài đã trả lời ‘là bất thiện’” có thể có sự mong muốn hoặc luyến ái ở đây như vầy ‘một bậc sáng suốt như ta không có’.Và ở đây sự mong muốn là ái luyến yếu ớt. Ái luyến là ái luyến mạnh mẽ. Sự sân hận hoặc phẫn nộ: Mặc dù là thiện thì trả lời ‘là bất thiện’, hoặc bất thiện thì lại trả lời ‘là thiện’ rồi hỏi các vị sáng suốt khác, khi các vị sáng suốt trả lời rằng: “Ngài trả lời không đúng đắn” có thể có sự sân hận hoặc phẫn nộ đối với tôi ở đây ‘vấn đề chỉ như vậy mà ta cũng không biết’. Thậm chí ở đây sân hận là sự nóng giận yếu ớt, phẫn nộ là sự nóng giận mạnh mẽ.

Taṃ mamassa upādānaṃ, so mamassa vighātoti taṃ chandarāgadvayaṃ mama upādānaṃ assa, dosapaṭighadvayaṃ vighāto. Ubhayampi vā daḷhaggahaṇavasena upādānaṃ, vihananavasena vighāto. Rāgo hi amuñcitukāmatāya ārammaṇaṃ gaṇhāti jalūkā viya. Doso vināsetukāmatāya āsīviso viya. Ubhopi cete santāpakaṭṭhena vihananti yevāti “upādānan”ti ca “vighāto”ti ca vuttā. sesaṃ paṭhamavārasadisameva.

Điều nào (sự mong muốn, hoặc luyến ái, hoặc sân hận, hoặc phẫn nộ) đối với ta sẽ là sự chấp thủ, điều ấy đối với ta sẽ là sự phiền muộn: Sự mong muốn và sự luyến ái cả hai điều đó có thể trở thành sự chấp thủ của ta, sân hận hoặc phẫn nộ cả hai có thể trở thành sự phiền muốn cho ta. Hoặc cả hai sẽ là sự chấp thủ do mãnh lực của sự nắm giữ, là sự phiền muộn do mãnh lực của sự đụng chạm. Thật vậy, luyến ái nắm bắt đối tượng với mong muốn không buông ra giống như con đỉa. Sân hận nơi đối tượng với mong muốn làm cho tiêu tan giống như nọc độc của loài rắn. Thậm chí cả hai điều này đều gây ra nỗi phiền muộn với ý nghĩa “thiêu đốt”, do đó, ngài mới nói rằng “là sự chấp thủ” và “sự phiền muộn”. Những từ còn lại tương tự phần đầu.

  1. Paṇḍitāti paṇḍiccena samannāgatā. Nipuṇāti saṇhasukhumabuddhino saṇhasukhum’ātthantaraṃ434[52] paṭivijjhanasamatthā. Kataparappavādāti viññātaparappavādā ceva parehi saddhiṃ katavādaparicayā ca. Vālavedhirūpāti vālavedhidhanuggahasadisā. Te bhindantā maññeti vālavedhi viya vālaṃ sukhumānipi paresaṃ diṭṭhigatāni attano paññāgatena435[53] bhindantā viya carantīti attho. Te maṃ tatthāti te samaṇabrāhmaṇā maṃ tesu kusalākusalesu. Samanuyuñjeyyunti “kiṃ kusalaṃ, kiṃ akusalanti attano laddhiṃ vadā”ti laddhiṃ puccheyyuṃ. Samanugāheyyunti “idaṃ nāmā”ti vutte “kena kāraṇena etamatthaṃ gāheyyun”ti436[54] kāraṇaṃ puccheyyuṃ. Samanubhāseyyunti “iminā nāma kāraṇenā”ti vutte kāraṇe dosaṃ dassetvā “na tvaṃ idaṃ jānāsi, idaṃ pana gaṇha, idaṃ vissajjehī”ti evaṃ samanuyuñjeyyuṃ. Na sampāyeyyanti na sampādeyyaṃ, sampādetvā kathetuṃ na sakkuṇeyyanti attho. So mamassa vighātoti yaṃ taṃ punappunaṃ vatvāpi asampāyanaṃ nāma, so mama vighāto assa, oṭṭhatālujivhāgalasosanadukkhameva assāti attho. sesametthāpi paṭhamavārasadisameva.
  2. Những vị sáng suốt: vị thành tựu bởi tính chất thông minh. Có tuệ tinh tế: vị phát triển bởi tuệ tinh tế và tỉ mỉ có khả năng thấu hiểu tất cả những ý nghĩa đặc biệt tinh tế và tỉ mỉ. Thông thạo việc đối đáp các luận thuyết: Hiểu rõ việc đối đáp các luận thuyết và quen thuộc với việc đối đáp các luận thuyết của những người khác. Như một cung thủ: Như một cung thủ có thể bắn trúng cọng tóc. Nghĩ rằng đi du hành để phá tan các tà kiến: Những Sa-môn và Bà-la-môn ấy du hành như thể sẽ bẻ đôi các tà kiến của người khác dù vi tế bằng năng lực trí tuệ của bản thân tựa như một cung thủ có thể bắn trúng cọng tóc. Họ có thể truy hỏi: Những Sa-môn và Bà-la-môn có thể truy hỏi, xét hỏi ta ở trường hợp này là thiện và bất thiện đó. Có thể truy hỏi: Có thể hỏi đến học thuyết ấy rằng - ‘ngài có thể nói về học thuyết của mình ‘điều gì là thiện? và điều gì là bất thiện?’”. Có thể tra hỏi: Trong khi đáp “vấn đề này là thiện, vấn đề này là bất thiện” cũng có thế hỏi đến nguyên nhân “ngài cho nắm giữ ý nghĩa này với lý do gì?” Có thể xét hỏi: Trong khi đáp “với lý do tên tên này” sau khi chỉ ra lỗi lầm trong lý do ấy, có thể truy hỏi như vầy “ngài vẫn chưa biết được lý do này, ngài hãy giữ lấy điều này, hãy từ bỏ điều này.” Ta không thể trả lời cho họ: Ta cũng không thể cho họ câu trả lời, không thể giải thích cho họ. Điều ấy (không thể trả lời cho họ) đối với ta sẽ là sự phiền muộn: Được xem là dầu đã nói lập đi lập lại cũng không thể giải thích cho họ điều đó, thì điều ấy có thể là sự phiền muộn cho ta, tức là đau khổ bởi vì làm cho môi, vòm miệng, lưỡi và cổ họng khô cạn ngay lập tức. Từ còn lại ở phần thứ ba này tương tự với đoạn thứ nhất.

65-66. Mandoti mandapañño apaññassevetaṃ nāmaṃ. Momūhoti atisammūḷho. hoti tathāgatotiādīsu satto “tathāgato”ti adhippeto. Sesamettha uttānameva. Imepi cattāro pubbe pavattadhammānusāreneva diṭṭhiyā gahitattā pubbantakappikesu paviṭṭhā.

65-66. Người đần độn: có trí chậm chạp, đây chính là tên gọi của người không có trí. Người mê muội: vô cùng si mê. Chúng sanh ngài có ý muốn đề cập đến ‘tathāgato’ trong cụm từ ‘hoti tathāgato (chúng sinh hiện hữu v.v.)’. Từ còn lại trong đoạn thứ 4 đều đơn giản. Cả bốn cách trườn uốn như con lươn này được xếp vào ‘lập luận về thời quá khứ’ bởi vì những Sa-môn và Bà-la-môn ấy nắm giữ quan điểm y theo cách pháp vận hành trong thời quá khứ.
 

Giải Thích Học Thuyết Vô Nhân Sanh

67. “Adhiccasamuppanno attā ca loko cā”ti dassanaṃ adhiccasamuppannaṃ. Taṃ etesaṃ atthīti adhiccasamuppannikā. Adhiccasamuppannanti akāraṇasamuppannaṃ.

67. Quan điểm cho rằng “bản ngã và thế giới được sanh lên một cách ngẫu nhiên” gọi là học thuyết vô nhân sanh. Sa-môn và Bà-la-môn theo học thuyết vô nhân sanh bởi vì có quan điểm rằng “bản ngã và thế giới được sanh lên một cách ngẫu nhiên”. Sanh lên một cách ngẫu nhiên nghĩa là sanh lên do không có nhân.

68-73. Asaññasattāti desanāsīsametaṃ, acittuppādā rūpamattaka attabhāvāti437[55] attho. Tesaṃ evaṃ uppatti veditabbā — Ekacco hi titthāyatane pabbajitvā vāyokasiṇe parikammaṃ katvā catutthajjhānaṃ nibbattetvā jhānā vuṭṭhāya — “Citte dosaṃ passati, Citte sati hatthacchedādidukkhañceva sabbabhayāni ca honti, alaṃ iminā cittena, acittakabhāvova santo”ti, evaṃ citte dosaṃ passitvā aparihīnajjhāno kālaṃ katvā asaññasattesu nibbattati, cittamassa cuticittanirodhena idheva nivattati, rūpakkhandhamattameva tattha pātubhavati. Te tattha yathā nāma jiyāvegakkhitto saro yattako jiyāvego, tattakameva ākāse gacchati. evameva jhānavegakkhittā upapajjitvā yattako jhānavego, tattakameva kālaṃ tiṭṭhanti, jhānavege pana parihīne tattha rūpakkhandho antaradhāyati, idha pana paṭisandhisaññā uppajjati. yasmā pana tāya idha uppannasaññāya tesaṃ tattha cuti paññāyati, tasmā “saññuppādā ca pana te devā tamhā kāyā cavantī”ti vuttaṃ. santatāyāti santabhāvāya. sesamettha uttānameva. takkīvādopi vuttanayeneva veditabboti.

68-73. Chúng sanh vô tưởng đây là tiêu đề pháp thoại, có nghĩa là - có thân hình [attabhāva] chỉ là sắc do không có tâm sanh khởi. Nên biết sự sanh khởi của nhóm chúng sanh vô tưởng ấy như vầy – Bởi vì có một số chúng sanh sau khi xuất gia trong học thuyết của các ngoại đạo sư đã thực hành chuẩn bị tướng (đề mục thiền định) trong biến xứ gió làm cho Tứ thiền khởi sanh, sau khi xuất khỏi Tứ thiền đã nhìn thấy lỗi lầm trong tâm rằng –“Khi có tâm sẽ có khổ do cắt đứt tay v.v, và có tất cả sự sợ hãi đều ngang bằng do tâm này, bản thể không có tâm thật sự tịch tịnh”, khi nhìn thấy lỗi lầm ở trong tâm như vậy, là vị có thiền không bị hoại, sau khi thân hoại mạng chung đã hóa sanh vào nhóm chúng sanh vô tưởng, tâm của hạng người ấy sẽ trở lại thế giới này do sự diệt của tâm tử, trong nhóm chúng sanh vô tưởng ấy chỉ hiển lộ Sắc uẩn mà thôi.

Te tattha yathā nāma jiyāvegakkhitto saro yattako jiyāvego, tattakameva ākāse gacchati. evameva jhānavegakkhittā upapajjitvā yattako jhānavego, tattakameva kālaṃ tiṭṭhanti, jhānavege pana parihīne tattha rūpakkhandho antaradhāyati, Idha pana paṭisandhisaññā uppajjati. Yasmā pana tāya idha uppannasaññāya tesaṃ tattha cuti paññāyati, tasmā “saññuppādā ca pana te devā tamhā kāyā cavantī”ti vuttaṃ. Santatāyāti santabhāvāya. sesamettha uttānameva. takkīvādopi vuttanayeneva veditabboti.

Thông thường, giống như một mũi tên được bắn lên bởi sức mạnh của cây cung sẽ bay lên không trung bằng sức mạnh của chính dây cung ấy như thế nào, thì tương tự y như thế ấy những chúng sanh vô tưởng ấy trong cõi Vô Tưởng đó bị cuốn đi bởi năng lực của thiền-jhāna đã sanh khởi cũng sẽ tồn tại suốt khoảng thời gian khi sức mạnh của thiền còn tồn tại. Nhưng khi năng lực của thiền bị suy giảm thì Sắc uẩn ở cõi chúng sanh vô tưởng sẽ gặp chướng ngại, sự tục sanh của tưởng ắt sanh lên ở cõi này đây. Điều này làm nhân hiển lộ sự chết của những chúng sanh vô tưởng ấy ở cõi Vô Tưởng đó, vì thế ngài mới nói rằng: “Và hơn nữa những vị Thiên ấy đã lìa khỏi tập thể ấy, do sự sanh khởi của tưởng”. Trạng thái an tịnh: vì sự an tịnh. Từ còn lại trong đoạn này đều đơn giản. Luôn cả luận thuyết của nhà ngụy biện cũng nên biết theo chính phương thức đã nói.

 

Giải Thích Lập Luận Về Thời Vị Lai

74. Evaṃ aṭṭhārasa pubbantakappike dassetvā idāni catucattārīsaṃ aparantakappike dassetuṃ — “santi, bhikkhave”tiādimāha. tattha anāgatakoṭṭhāsasaṅkhātaṃ aparantaṃ kappetvā gaṇhantīti aparantakappikā, aparantakappo vā etesaṃ atthīti aparantakappikā. evaṃ sesampi pubbe vuttappakāranayeneva veditabbaṃ.

74. Sau khi đức Thế Tôn thuyết giảng mười tám luận cứ lập luận về thời quá khứ như vậy, bây giờ ngài thuyết giảng bốn mươi bốn luận cứ lập luận về thời vị lai mới nói rằng: –“Này các tỳ khưu, có một số Sa-môn và Bà-la-môn v.v.” Ở đó, Sa-môn và Bà-la-môn được gọi là lập luận về thời vị lai bởi vì xác định thời vị lai đã nói rằng: uẩn thuộc phần vị lai rồi nắm giữ, hoặc được gọi là lập luận về thời vị lai bởi vì có việc xác định uẩn thuộc phần vị lai. Luôn cả những từ còn lại cũng nên hiểu theo phương cách đã được nói ở phần đầu.

 

Giải Thích Học Thuyết Hữu Tưởng

75. Uddhamāghātanikāti āghātanaṃ vuccati maraṇaṃ, uddhamāghātanā attānaṃ vadantīti uddhamāghātanikā. Saññīti pavatto vādo, saññīvādo, so etesaṃ atthīti saññīvādā.

75. Sau khi chết: Sự chết được gọi là āghata. Có một số Sa-môn và Bà-la-môn chủ trương học thuyết hữu tưởng sau khi chết do tuyên bố tự ngã bản ngã (có tưởng) sau khi chết. Học thuyết được diễn biến rằng ‘có tưởng’ (gọi là) học thuyết hữu tưởng, học thuyết hữu tưởng ấy tồn tại đối với một số Sa-môn và Bà-la-môn ấy (cho nên) mới gọi là học thuyết hữu tưởng.

76-77. Rūpī attātiādīsu kasiṇarūpaṃ “attā”ti tattha pavattasaññañcassa “saññā”ti gahetvā vā ājīvakādayo viya takkamatteneva vā “rūpī attā hoti, arogo paraṃ maraṇā saññī”ti naṃ paññapenti. Tattha arogoti nicco. Arūpasamāpattinimittaṃ pana “attā”ti samāpattisaññañcassa “saññā”ti gahetvā vā nigaṇṭhādayo viya takkamatteneva vā “arūpī attā hoti, arogo paraṃ maraṇā saññī”ti naṃ paññapenti. Tatiyā pana missakagāhavasena pavattā diṭṭhi. Catutthā takkagāheneva. Dutiyacatukkaṃ antānantikavāde vuttanayeneva veditabbaṃ. Tatiyacatukke samāpannakavasena ekattasaññī, asamāpannakavasena nānattasaññī, parittakasiṇavasena parittasaññī, vipulakasiṇavasena appamāṇasaññīti veditabbā. Catutthacatukke pana dibbena cakkhunā tikacatukkajjhānabhūmiyaṃ nibbattamānaṃ disvā “ekantasukhī”ti gaṇhāti. Niraye nibbattamānaṃ disvā “ekantadukkhī”ti. Manussesu nibbattamānaṃ disvā “sukhadukkhī”ti. Vehapphaladevesu nibbattamānaṃ disvā “adukkhamasukhī”ti gaṇhāti. Visesato hi pubbenivāsānussatiñāṇalābhino pubbantakappikā honti, dibbacakkhukā aparantakappikāti.

76-77. Bản ngã có sắc v.v, họ tuyên bố (bản ngã) ấy như vầy: “Bản ngã có sắc, không thay đổi, có tưởng sau khi chết” do đã nắm giữ biến xứ sắc cho rằng là “bản ngã” và đã nắm giữ “tưởng” vận hạnh trong biến xứ sắc ấy cho rằng là ‘tưởng của bản ngã ấy’ hoặc ‘chỉ là sự suy tư mà thôi’, giống như những tu sĩ ngoài Phật Giáo như Ājīvaka v.v. Ở đây, ‘không thay đổi’ nghĩa là thường còn. Hơn nữa, họ tuyên bố (bản ngã) ấy như vầy: “Bản ngã không có sắc, không thay đổi, có tưởng sau khi chết” do đã nắm giữ hiện tướng của sự chứng đạt Vô sắc cho rằng là “bản ngã” và đã nắm giữ tưởng của sự chứng đạt cho rằng là “tưởng của bản ngã ấy” hoặc “chỉ là sự suy tư mà thôi”, giống như những tu sĩ ngoài Phật Giáo như Nigaṇṭha v.v. Còn về câu thứ ba thuộc tà kiến vận hành do mãnh lực sự nắm giữ kết hợp với nhau (bản ngã vừa có sắc vừa không có sắc). Câu thứ tư thuộc tà kiến vận hành do mãnh lực sự nắm giữ bằng cách suy tư mà thôi. Nhóm bốn thứ hai nên biết theo phương cách đã được nói ở phần học thuyết hữu biên và vô biên. Nhóm bốn thứ ba nên biết rằng ‘bản ngã là có tưởng tương đồng’ do mãnh lực của vị đạt được sự chứng đạt, ‘bản ngã là có tưởng khác biệt’ do tác động người không chứng đạt, ‘bản ngã là có tưởng hy thiểu’ do mãnh lực của biến xứ hy thiểu, ‘bản ngã là có tưởng vô lượng’ do mãnh lực của biến xứ quảng đại. Hơn nữa, nhóm bốn thứ tư giải thích rằng: hạng người có thiên nhãn sau khi nhìn thấy chúng sanh sanh lên ở cõi Tam thiền và Tứ thiền (vị ấy) nắm giữ rằng: ‘Bản ngã là có thuần lạc’. Sau khi nhìn thấy chúng sanh rơi vào địa ngục (vị ấy) nắm giữ rằng: ‘Bản ngã là có thuần khổ’. Sau khi nhìn thấy chúng sanh sanh vào thế giới loài người (vị ấy) nắm giữ rằng: ‘Bản ngã là có lạc và khổ’. Sau khi nhìn thấy chúng sanh sanh làm chư Thiên cõi Quảng-Quả-Thiên (vị ấy) nắm giữ rằng: ‘Bản ngã có khổ cũng không phải, có lạc cũng không phải (bất khổ, bất lạc)’. Thật vậy, vô cùng đặc biệt nhóm đắc được trí nhớ về các kiếp sống trước thuộc nhóm lập luận về thời quá khứ, nhóm đắc được thiên nhãn thuộc nhóm lập luận về thời vị lai.

 

Giải Thích Học Thuyết Vô Tưởng

78-83. Asaññīvādo saññīvāde ādimhi vuttānaṃ dvinnaṃ catukkānaṃ vasena veditabbo. Tathā nevasaññīnāsaññīvādo. Kevalañhi tattha “saññī attā”ti gaṇhantānaṃ tā diṭṭhiyo, idha “asaññī”ti ca “nevasaññīnāsaññī”ti ca. Tattha na ekantena kāraṇaṃ pariyesitabbaṃ. Diṭṭhigatikassa hi gāho ummattakapacchisadisoti vuttametaṃ.

78-83. Học thuyết vô tưởng - bậc sáng suốt nên biết do tác động của nhóm bốn - cả hai đã được nói ở phần trước trong học thuyết hữu tưởng. Học thuyết Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cũng tương tự. Thật vậy, cũng chỉ trong học thuyết hữu tưởng ấy những quan điểm đó của nhóm nắm giữ cho rằng “bản ngã có tưởng”, ở đây ‘học thuyết vô tưởng' và ‘học thuyết Phi Tưởng Phi Phi Tưởng’ ấy có tà kiến đó nhóm nắm giữ cho rằng “bản ngã không có tưởng” và “bản ngã có tưởng cũng không phải, không có tưởng cũng không phải”. Trong các tà kiến ấy nên được tìm hiểu lý do không chỉ thiên về một mặt. Điều đó tôi đã nói rồi sự nắm giữ của người có tà kiến cũng giống như cái giỏ của người điên.

 

Giải Thích Học Thuyết Đoạn Diệt
  1. Ucchedavāde satoti vijjamānassa. Ucchedanti upacchedaṃ. Vināsanti adassanaṃ. Vibhavanti bhāvavigamaṃ. Sabbānetāni aññamaññavevacanāneva. Tattha dve janā ucchedadiṭṭhiṃ gaṇhanti, lābhī ca alābhī ca. Lābhī arahato438[56] dibbena cakkhunā cutiṃ disvā upapattiṃ apassanto, yo vā cutimattameva daṭṭhuṃ sakkoti, na upapātaṃ439[57]; so ucchedadiṭṭhiṃ gaṇhāti. Alābhī ca “ko paralokaṃ na jānātī”ti kāmasukhagiddhatāya vā, “yathā rukkhato paṇṇāni patitāni na puna viruhanti, evameva sattā”tiādinā takkena vā ucchedaṃ gaṇhāti. Idha pana taṇhādiṭṭhīnaṃ vasena tathā ca aññathā ca vikappetvāva imā satta diṭṭhiyo uppannāti veditabbā.
  2. Ở học thuyết đoạn diệt, đang hiện hữu: đang tồn tại. Sự đoạn diệt: sự đoạn tận. Sự tiêu hoại: không nhìn thấy. Sự biến mất: Đi khỏi các hữu. Tất cả những từ này đều là những từ đồng nghĩa với nhau. Học thuyết đoạn diệt ấy có người nắm giữ cả hai đoạn kiến là người đạt được (trí nhớ về các kiếp sống quá khứ) và người không đắc được (trí nhớ về các kiếp sống quá khứ). Vị đạt được (trí nhớ về các kiếp sống quá khứ) trong khi nhớ đến (các kiếp sống quá khứ) bằng thiên nhãn đã thấy được sự chết nhưng không nhìn thấy sự sanh, hoặc người nào chỉ có thể nhìn thấy sự chết mà không thể nhìn thấy sự sanh; người ấy gọi là nắm giữ đoạn kiến. Và người không đạt được (trí nhớ về các kiếp sống quá khứ) nghĩ rằng: “Không ai có thể biết được thế giới khác” rồi nắm giữ sự đoạn diệt bởi thèm muốn sự an lạc, hoặc do tự mình suy nghĩ v.v, rằng: “tất cả chúng sanh giống như lá cây rơi xuống từ thân cây không thể mọc lại được”. Hơn nữa, trong trường hợp này nên biết rằng ‘có bảy loại kiến’ thế này sanh khởi do mãnh lực của tham ái và tà kiến hoặc do sự xác định cách này và cách khác.
  3. Tattha rūpīti rūpavā. Cātumahābhūtikoti catumahābhūtamayo. Mātāpitūnaṃ etanti mātāpettikaṃ. kiṃ taṃ? sukkasoṇitaṃ. Mātāpettike sambhūto jātoti mātāpettikasambhavo. Iti rūpakāyasīsena manussattabhāvaṃ “attā”ti vadati. Ittheketi itthaṃ eke evameketi attho.
  4. Ở đây, có sắc: người có sắc. Được hợp thành bởi bốn đại (đất, nước, lửa, gió): hợp thành bởi bốn sắc đại hiển. Có mẹ cha: điều đó là do có mẹ và cha. Điều đó bao gồm những gì? Bao gồm tinh dịch (của người cha) và noãn châu (của người mẹ). Có sự hình thành từ mẹ và cha: do sự sanh ra là sinh ra trong tinh dịch và noãn châu của mẹ và cha. Như thế, một số Sa-môn hoặc Bà-la-môn có học thuyết đoạn kiến nói rằng: thân hình của con người là “bản ngã” bằng cách đưa sắc thân lên làm trưởng. Ittheke (theo cách này) tách thành ‘itthaṃ eke’ đồng nghĩa với ‘evameke’.
  5. Dutiyo taṃ paṭikkhipitvā dibbattabhāvaṃ vadati. Dibboti devaloke sambhūto. Kāmāvacaroti cha kāmāvacaradevapariyāpanno. Kabaḷīkāraṃ440[58] āhāraṃ bhakkhatīti kabaḷīkārāhārabhakkho.
  6. Sa-môn hoặc Bà-la-môn nhóm thứ hai bác bỏ điều đó nói ‘attabhāva-thân hình’ thuộc cõi trời. Cõi trời: sanh khởi ở cõi trời. Dục giới: liên quan đến chư thiên sáu cõi trời Dục giới. Có vật thực là vật thực loại cứng và loại mềm: nhờ thọ dụng vật thực là vật thực loại cứng loại mềm.
  7. Manomayoti jhānamanena nibbatto. Sabbaṅgapaccaṅgīti sabbaṅgapaccaṅgayutto. Ahīnindriyoti paripuṇṇindriyo. Yāni brahmaloke atthi, tesaṃ vasena itaresañca saṇṭhānavasenetaṃ vuttaṃ.
  8. Được hình thành bởi ý: Khởi sanh do tâm thiền. Có tất cả các chi phần lớn nhỏ: gắn liền với tất cả các bộ phận lớn nhỏ. Có các quyền không bị khiếm khuyết: Có giác quan tròn đầy. Lời này được ngài nói do tác động của các giác quan có Phạm Thiên giới, và do tác động hình dáng của các giác quan ngoài các giác quan này.

88-92. Sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamātiādīnaṃ attho visuddhimagge vutto. Ākāsānañcāyatanūpagotiādīsu pana ākāsānañcāyatanabhavaṃ upagatoti, evamattho veditabbo. Sesamettha uttānamevāti.

88-92. Do sự vượt qua hẳn toàn bộ các tưởng về sắc: v.v, tôi đã nói trong bộ Thanh Tịnh Đạo. Hơn nữa, có sự tiến đến Không Vô Biên Xứ: nên hiểu ý nghĩa như vầy - đạt đến cõi Không Vô Biên Xứ. Từ còn lại trong học thuyết đoạn kiến này đều đơn giản.

 

Giải Thích Học Thuyết Hiện Tại Nibbāna
  1. Diṭṭhadhammanibbānavāde diṭṭhadhammoti paccakkhadhammo vuccati, tattha tattha paṭiladdhattabhāvassetaṃ adhivacanaṃ. Diṭṭhadhamme nibbānaṃ diṭṭhadhammanibbānaṃ, imasmiṃyeva attabhāve dukkhavūpasamananti441[59] attho. Taṃ vadantīti diṭṭhadhammanibbānavādā. Paramadiṭṭhadhammanibbānanti paramaṃ diṭṭhadhammanibbānaṃ uttamanti attho.
  2. Trong học thuyết hiện tại Nibbāna, có bản chất rõ ràng được gọi là hiện tại (pháp có thể thấy được). Lời này là tên gọi của cả nhân đạt được ở hữu-bhava đó. Nibbāna ở hiện tại được gọi là hiện tại Nibbāna, có nghĩa là đau khổ đã được vắng lắng trong chính cá nhân này. Sa-môn và Bà-la-môn chủ trường học thuyết hiện tại Nibbāna do nói về hiện tại Nibbāna đó. Hiện tại Nibbāna tối thượng: Hiện tại Nibbāna là pháp tối thượng, có nghĩa là vô thượng.
  3. Pañcahi kāmaguṇehīti manāpiyarūpādīhi pañcahi kāmakoṭṭhāsehi bandhanehi vā. Samappitoti suṭṭhu appito allīno hutvā. Samaṅgībhūtoti samannāgato. Paricāretīti tesu kāmaguṇesu yathāsukhaṃ indriyāni cāreti sañcāreti itocito ca upaneti. Atha vā laḷati442[60] ramati kīḷati. Ettha ca duvidhā kāmaguṇā — mānusakā ceva dibbā ca. mānusakā443[61] mandhātukāmaguṇasadisā daṭṭhabbā, dibbā paranimmitavasavattidevarājassa kāmaguṇasadisāti. Evarūpe kāme upagatānañhi te diṭṭhadhammanibbānasampattiṃ paññapenti.
  4. Với năm loại dục: với năm phần của dục hoặc với năm sự trói buộc có sắc đáng yêu đáng mến v.v. Được đầy đủ: bám vào, khéo buộc chặt. Được thỏa mãn: được gắn liền. Tận hưởng: khiến các giác quán đi, khiến di tản, đưa đến chỗ này chỗ nọ một cách thoải mái trong các dục ấy. Hoặc hài lòng, thỏa mãn vui chơi. Và ở đây các dục có hai loại - các dục thuộc loài người và các dục ở Thiên giới. Các dục thuộc loài người có thể thấy như với các dục của vua Mandhātu. Còn các dục ở Thiên giới có thể thấy như với các dục của vua cõi trời Tha Hoá Tự Tại. Thật vậy, những Sa-môn và Bà-la-môn ấy tuyên bố sự chứng đạt hiện tại Nibbāna của nhóm người tiến đến gần các dục trong hình thức như thế.
  5. Dutiyavāre hutvā abhāvaṭṭhena aniccā paṭipīḷanaṭṭhena dukkhā, pakatijahanaṭṭhena vipariṇāmadhammāti veditabbā. Tesaṃ vipariṇāmaññathābhāvāti tesaṃ kāmānaṃ vipariṇāmasaṅkhātā aññathābhāvā, yampi me ahosi, tampi me natthīti vuttanayena uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Tattha antonijjhāyanalakkhaṇo soko, tannissitalālappanalakkhaṇo paridevo, kāyappaṭipīḷanalakkhaṇaṃ dukkhaṃ, manovighātalakkhaṇaṃ domanassaṃ, visādalakkhaṇo upāyāso, vivicceva kāmehītiādīnamattho visuddhimagge vutto.
  6. Trong phần hai, các dục nên biết là ‘vô thường’ với ý nghĩa có rồi lại không, gọi là ‘khổ’ với ý nghĩa áp bức. Gọi là ‘có tính chất biến hoại’ với ý nghĩa dứt bỏ bình thường. Do trạng thái biến hoại và đổi khác của chúng: do các dục ấy có trạng thái đổi khác được xem là biến hoại, sầu-bi-khổ-ưu-não sanh lên theo phương cách đã nói rằng: ‘Thậm chí những điều nào đã có nơi ta, luôn cả những điều đó không có nơi ta’. Trong năm loại đó sầu có trạng thái thiêu đốt ở bên trong, bi lụy có trạng thái than khóc do y cứ sự buồn rầu đó. Sự khổ đau có trạng thái áp bức thân thể. Ưu có trạng thái khổ tâm, sự não nùng có trạng thái làm cho tâm buồn bực. Ngay sau khi tách ly khỏi các dục v.v, tôi đã nói rồi trong Thanh Tịnh Đạo.
  7. Vitakkitanti abhiniropanavasena pavatto vitakko. Vicāritanti anumajjanavasena pavatto vicāro. Etenetanti etena vitakkitena ca vicāritena ca etaṃ paṭhamajjhānaṃ oḷārikaṃ sakaṇḍakaṃ viya khāyati.
  8. Có tầm: tầm được vận hành do mãnh lực đưa tâm vào trong đối tượng. Có tứ: Tứ được vận hành do mãnh lực vuốt ve đối tượng. Trú thiền thứ nhất, có tầm, có tứ: Sơ thiền này được xem là thô tháo giống như có gai bởi có tầm và có tứ.

97-98. Pītigatanti pītiyeva. Cetaso uppilāvitattanti444[62] cittassa uppilabhāvakaraṇaṃ. Cetaso ābhogoti jhānā vuṭṭhāya tasmiṃ sukhe punappunaṃ cittassa ābhogo manasikāro samannāhāroti. Sesamettha diṭṭhadhammanibbānavāde uttānameva.

Có hỷ: chính là hỷ. Làm nhân khiến tâm phấn khởi: Nguyên nhân phấn khích của tâm. Có sự liên tưởng của tâm rằng: ‘Có lạc’ - sau khi xuất khỏi thiền, có sự liên tưởng, có sự thu nhiếp, có sự tác ý của tâm thường xuyên trong sự an lạc đó. Những từ còn lại trong học thuyết hiện tại Nibbāna này đều đơn giản.

Ettāvatā sabbāpi dvāsaṭṭhidiṭṭhiyo kathitā honti, yāsaṃ satteva ucchedadiṭṭhiyo, sesā sassatadiṭṭhiyo.

Chỉ chừng ấy lời ngài đã thuyết đến sáu mươi hai luận cứ, toàn bộ được chia thành -

thường kiến chỉ có bảy luận cứ, còn lại là thường kiến.

100-104. Idāni — “imehi kho te, bhikkhave”ti iminā vārena sabbepi te aparantakappike445[63] ekajjhaṃ niyyātetvā sabbaññutaññāṇaṃ vissajjeti. Puna — “imehi, kho te bhikkhave”tiādinā vārena sabbepi te pubbantāparantakappike446[64] ekajjhaṃ niyyātetvā tadeva ñāṇaṃ vissajjeti. Iti “katame ca te, bhikkhave, dhammā”tiādimhi pucchamānopi sabbaññutaññāṇameva pucchitvā vissajjamānopi sattānaṃ ajjhāsayaṃ tulāya tulayanto viya sinerupādato vālukaṃ uddharanto viya dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni uddharitvā sabbaññutaññāṇameva vissajjeti. Evamayaṃ yathānusandhivasena desanā āgatā.

100-104. Bây giờ – đức Thế Tôn đã tập hợp toàn bộ những ‘lập luận về thời quá khứ’ chung với nhau vào đoạn sau: “Này các tỳ khưu, chính những pháp này” rồi giải đáp bằng trí toàn tri. Hơn nữa, ngài đã tập hợp toàn bộ những ‘lập luận về thời vị lai’ và ‘lập luận về thời quá khứ và thời vị lai’ ấy chung với nhau vào đoạn sau : “Này các tỳ khưu, chính những pháp này” rồi giải đáp bằng trí ây (trí toàn tri). Luôn cả trong khi thuyết hỏi “này chư tỳ khưu, những pháp ấy như thế nào? v.v,” cũng đã thuyết hỏi bằng chính trí toàn tri, ngay cả khi giải đáp cũng nêu lên sáu mươi luận cứ rồi giải đáp bằng chính trí toàn tri giống như đo lường khuynh hướng của tất cả chúng sanh bằng cái cân, giống như đem cát từ chân núi Suneru bằng cách như thế. Pháp thoại này đã đến do tác động theo tuần tự vấn đề.

Tayo hi suttassa anusandhī — pucchānusandhi, ajjhāsayānusandhi, yathānusandhīti. Tattha “evaṃ vutte aññataro bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — kiṃ nu kho, bhante, orimaṃ tīraṃ, kiṃ pārimaṃ tīraṃ, ko majjhe saṃsīdo, ko thale ussādo447[65], ko manussaggāho, ko amanussaggāho, ko āvaṭṭaggāho, ko antopūtibhāvo”ti448[66] evaṃ pucchantānaṃ bhagavatā vissajjitasuttavasena pucchānusandhi veditabbo.

Thật vậy, bài Kinh có ba sự liên kết là – (1) Sự liên kết được thuyết dựa vào câu hỏi;

(2) sự liên kết được thuyết dựa theo khuynh hướng của chúng sanh; (3) sự liên kết được thuyết thuận theo tuần tự vấn đề. Trong ba sự liên kết ấy, nên biết sự liên kết được thuyết dựa vào câu hỏi do tác động bài Kinh được đức Thế Tôn trả lời cho những người hỏi như vầy: “Khi được nói vậy, một tỳ khưu bạch Thế Tôn như vầy - Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia? Chìm ở giữa là gì? Bị ném lên bờ là gì? Bị túm lấy bởi loài người, bị phi nhân túm lấy là gì? Và bị nước cuốn trôi là gì? Sự mục nát bên trong là gì?”

Atha kho aññatarassa bhikkhuno evaṃ cetaso parivitakko udapādi — “iti kira bho rūpaṃ anattā..., vedanā..., saññā..., saṅkhārā ..., viññāṇaṃ anattā, anattakatāni kira kammāni kamattānaṃ phusissantī”ti. Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā ceto parivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi — “ṭhānaṃ kho panetaṃ, bhikkhave, vijjati, yaṃ idhekacco moghapuriso avidvā avijjāgato taṇhādhipateyyena cetasā satthusāsanaṃ atidhāvitabbaṃ maññeyya — “iti kira bho rūpaṃ anattā ... pe ... phusissantī”ti. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti449[67]. Evaṃ paresaṃ ajjhāsayaṃ viditvā bhagavatā vuttasuttavasena ajjhāsayānusandhi veditabbo.

Khi ấy có một vị tỳ khưu nọ đã khởi lên tư tưởng suy tầm trong tâm như vầy: – “Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?’ Lúc ấy, đức Thế Tôn biết được tư tưởng suy tầm của tỳ khưu ấy với tư tưởng suy tầm của mình, liền nói với các tỳ khưu – “Này các tỳ khưu, sự kiện này xảy ra, có một số kẻ trống rỗng trong Pháp và Luật này, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối, lại nghĩ cần phải vượt qua lời dạy của bậc Đạo sư với câu hỏi – ‘Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả? Các con nghĩ thế nào, này các tỳ khưu, sắc là thường hay vô thường?’” Nên biết ‘sự liên kết được thuyết thuận theo khuynh hướng của chúng sanh’ do tác động bài Kinh được đức Thế Tôn biết được khuynh hướng của những chúng sanh khác rồi thuyết giảng như vậy.

Yena pana dhammena ādimhi desanā uṭṭhitā, tassa dhammassa anurūpadhammavasena vā paṭipakkhavasena vā yesu suttesu upari desanā āgacchati, tesaṃ vasena yathānusandhi veditabbo. Seyyathidaṃ, Ākaṅkheyyasutte heṭṭhā sīlena desanā uṭṭhitā, upari cha abhiññā āgatā. Vatthasutte heṭṭhā kilesena desanā uṭṭhitā, upari brahmavihārā āgatā. Kosambakasutte heṭṭhā bhaṇḍanena uṭṭhitā, upari sāraṇīyadhammā āgatā. Kakacūpame heṭṭhā akkhantiyā uṭṭhitā, upari kakacūpamā āgatā. imasmimpi brahmajāle heṭṭhā diṭṭhivasena desanā uṭṭhitā, upari suññatāpakāsanaṃ āgataṃ. Tena vuttaṃ — “evamayaṃ yathānusandhivasena desanā āgatā”ti.

Nhưng nên biết sự liên kết được thuyết thuận theo tuần tự vấn đề do tác động của tất cả bài Kinh là nguồn gốc của pháp thoại ở phía trước do tác động của Pháp tương thích hoặc bởi tác động của Pháp đối nghịch đối với Pháp làm nhân khiến bài giảng được thiết lập ngay từ đầu. Như là - trong bài Kinh Ước Nguyện pháp thoại được thiết lập về giới ở phần mở đầu, sáu thần thông đã đến ở phần cuối. Trong bài Ví Dụ Tấm Vải pháp thoại được thiết lập do tác động của phiền não ở phần mở đầu, các Phạm trú đã đến ở phần cuối. Trong bài Kinh Kosambaka pháp thoại được thiết lập do việc tranh cãi ở phần mở đầu, các pháp hòa kính450[68] đã đến ở phần cuối. Trong bài Kinh Ví Dụ Cái Cưa pháp thoại được thiết lập do sự không kham nhẫn ở phần mở đầu, so sánh với lưỡi cưa đã đến ở phần cuối. Trong bài Brahmajāla này được thiết lập do mãnh lực của tà kiến ở phần đầu, việc tuyên bố về sự rỗng không đã đến ở phần cuối. Vì thế tôi đã nói rằng: “Pháp thoại này đã đến do mãnh lực của sự liên kết theo tuần tự vấn đề như vậy”.
 

Giải Thích Sự Bồn Chồn Do Tranh Đấu Của Những Người Còn Tham Ái

105-117. Idāni mariyādavibhāgadassanatthaṃ — “Tatra bhikkhave”tiādikā desanā āraddhā. Tadapi tesaṃ bhavataṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ ajānataṃ apassataṃ vedayitaṃ taṇhāgatānaṃ paritassitavipphanditamevāti yena diṭṭhiassādena diṭṭhisukhena diṭṭhivedayitena te somanassajātā sassataṃ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, tadapi tesaṃ bhavantānaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ yathābhūtaṃ dhammānaṃ sabhāvaṃ ajānantānaṃ apassantānaṃ vedayitaṃ taṇhāgatānaṃ kevalaṃ taṇhāgatānaṃyeva taṃ vedayitaṃ, tañca kho panetaṃ paritassitavipphanditameva. diṭṭhisaṅkhātena ceva taṇhāsaṅkhātena ca paritassitena vipphanditameva calitameva kampitameva thusarāsimhi nikhātakhāṇusadisaṃ, na sotāpannassa dassanamiva niccalanti dasseti. esa nayo ekaccasassatavādādīsupi.

105-107. Để thuyết giảng phân tích về ranh giới – đức Thế Tôn bắt đầu thuyết rằng “Này các tỳ khưu, ở đấy v.v.Điều ấy, điều đã được cảm nhận của các tôn đức Sa-môn và Bà-la-môn không biết, không thấy ấy,― cũng chính là sự bồn chồn do khích động của những người còn tham ái: Những Sa-môn và Bà-la-môn ấy khởi lên sự vui mừng do sự hoan hỷ trong quan điểm, do sự thỏa thích trong quan điểm, do sự cảm nhận trong quan điểm nào đó, tuyên thuyết bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận cứ, chính điều ấy, là điều đã được cảm nhận của các tôn đức Sa-môn và Bà-la-môn không biết, không thấy thực tính của các pháp đúng theo thực thể là người còn tham ái, sự cảm nhân ấy hoàn toàn là của người vẫn còn tham ái, sự cảm nhận này đây cũng chính là sự lo lắng, là sự dao động. Cũng chính là sự rung động, cũng chính là sự khuấy động, là sự dao động do sự bồn chồn được xem là tà kiến và được xem là tham ái cũng giống như cột trụ được chôn trong đống trấu, không phải không rung động như cái thấy của vị Thánh Nhập-lưu. Luôn cả học thuyết trường tồn đối với một vài loại cũng có phương cách này.

 

Giải Thích ‘Do Duyên Xúc’

118-130. Puna — “Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā”tiādi paramparapaccayadassanatthaṃ āraddhaṃ. Tattha tadapi phassapaccayāti yena diṭṭhiassādena diṭṭhisukhena diṭṭhivedayitena te somanassajātā sassataṃ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, tadapi taṇhādiṭṭhipariphanditaṃ vedayitaṃ phassapaccayāti dasseti. esa nayo sabbattha.

118-130. Lại nữa – “Này các tỳ khưu, ở đấy, một số Sa-môn và Bà-la-môn nào đó chủ trương học thuyết trường tồn v.v,” đức Thế Tôn tiếp tục bắt đầu nhằm thuyết giảng tiếp nối nhau của các duyên. Ở đấy, chính điều ấy cũng do duyên xúc - đức Thế Tôn thuyết giảng rằng: những Sa-môn và Bà-la-môn ấy khởi lên sự vui mừng do sự hoan hỷ về các quan điểm, do sự thỏa thích về các quan điểm, do sự cảm nhận về các quan điểm nào đó, tuyên thuyết bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận cứ, chính điều đó cũng là sự cảm nhận bồn chồn do tham ái và tà kiến bởi có xúc làm duyên. Toàn bộ phần đó đều có phương cách này.

131-143. Idāni tassa paccayassa diṭṭhivedayite balavabhāvadassanatthaṃ puna — “Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā”tiādimāha. Tattha te vata aññatra phassāti te vata samaṇabrāhmaṇā taṃ vedayitaṃ vinā phassena paṭisaṃvedissantīti kāraṇametaṃ natthīti. Yathā hi patato gehassa upatthambhanatthāya thūṇā nāma balavapaccayo hoti, na taṃ thūṇāya anupatthambhitaṃ ṭhātuṃ sakkoti, evameva phassopi vedanāya balavapaccayo, taṃ vinā idaṃ diṭṭhivedayitaṃ natthīti dasseti. esa nayo sabbattha.

131-143. Bây giờ, để thuyết giảng tính chất các duyên đó có sức mạnh trong sự cảm nghiệm về các quan điểm, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này các tỳ khưu, ở đây, một số Sa-môn và Bà-la-môn chủ trương học thuyết trường tồn.” Trong câu đó, những Sa-môn và Bà-la-môn ấy quả thật sẽ cảm nghiệm không có xúc để nhận biết điều đó như này đây không có khả năng xảy ra. Cũng giống như: những cột trụ làm điều kiện có sức mạnh để nâng đỡ ngôi nhà tránh khỏi bị đổ, ngôi nhà ấy nếu không có cột trụ chống đỡ thì không thể nào cố định được vị trí như thế nào, ngay cả xúc cũng tương tự y như thế ấy, xúc làm duyên có sức mạnh đối với thọ, không có xúc đó thì sự cảm nghiệm về các quan điểm này cũng không có. Toàn bộ phần đó đều có phương cách này.
 

Giải Thích Diṭṭhigatikā-dhiṭṭhānavaṭṭa
  1. Idāni tatra bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṃ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, yepi te samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikātiādinā nayena sabbadiṭṭhivedayitāni sampiṇḍeti. Kasmā? Upari phasse pakkhipanatthāya. kathaṃ? Sabbe te chahi phassāyatanehi phussa phussa paṭisaṃvedentīti. Tattha cha phassāyatanāni nāma — cakkhuphassāyatanaṃ, sotaphassāyatanaṃ, ghānaphassāyatanaṃ, jivhāphassāyatanaṃ, kāyaphassāyatanaṃ, manophassāyatananti imāni cha. Sañjāti-samosaraṇa-kāraṇa-paṇṇattimattatthesu hi ayaṃ āyatanasaddo pavattati. Tattha — “Kambojo assānaṃ āyatanaṃ, gunnaṃ dakkhiṇāpatho”ti sañjātiyaṃ pavattati, sañjātiṭṭhāneti attho. “Manorame āyatane, sevanti naṃ vihaṅgamā”ti451[69] samosaraṇe. “sati satiāyatane”ti452[70] kāraṇe. “Araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantī”ti453[71] paṇṇattimatte. Svāyamidha sañjātiādiatthattayepi yujjati. Cakkhādīsu hi phassapañcamakā dhammā sañjāyanti samosaranti, tāni ca tesaṃ kāraṇanti āyatanāni. Idha pana “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso”ti454[72] iminā nayena phassasīseneva desanaṃ āropetvā phassaṃ ādiṃ katvā paccayaparamparaṃ455[73] dassetuṃ phassāyatanādīni vuttāni.
  2. Bây giờ, đức Thế Tôn tập hợp sự cảm nhận về toàn bộ các tà kiến theo phương cách như sau: ‘này các tỳ khưu, ở đấy, các vị Sa-môn và Bà-la-môn nào chủ trương học thuyết trường tồn tuyên bố bản ngã và thế giới là trường tồn với bốn luận cứ, ngay cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn nào theo học thuyết trường tồn đối với một vài loại, Tại sao? Do muốn thêm ‘xúc’ ở phía trước. Thêm như thế nào? Tất cả những Sa-môn và Bà-la-môn đó cảm nghiệm sau khi xúc chạm (sáu cảnh) nhiều lần thông qua sáu xúc xứ (thọ). Ở đây, gọi là sáu xúc xứ – Nhãn xúc xứ, Nhĩ xúc xứ, Tỷ xúc xứ, Thiệt xúc xứ, Thân xúc xứ, Ý xúc xứ, đây là sáu xúc xứ. Thật vậy, từ ‘āyatana-xứ’ này diễn biến với ý nghĩa (1) nơi sinh, (2) sự tự hội,

(3) nguyên nhân, (4) quy định. Ở đây, ‘āyatana-xứ’ diễn biến với ý nghĩa ‘nơi sinh’ - “Xứ sở Kamboja là nơi sản sinh ra tất cả loài ngựa, phương nam là nơi sản sinh ra loài tất cả loài bò”, có nghĩa là ở nơi sinh ra. Diễn biến với ý nghĩa ‘sự tụ hội’ - “Khi cây cối to lớn ấy làm nơi tụ hội, làm thích ý tất cả loài chim đến trú ngụ trên cây ấy.” Diễn biến với ý nghĩa ‘nguyên nhân’ - “Khi nhân có rồi lại có nữa.” Diễn biến với ý nghĩa ‘quy định’ - “Quy định rằng: trong rừng rậm, trong một chòi lá”. Từ ‘āyatana-xứ’ này đây trong trường hợp này phù hợp với cả ba ý nghĩa có nơi sinh v.v. Thật vậy, chư Pháp có xúc là thứ năm được sanh khởi, tụ hội ở con mắt v.v, ngay cả con mắt v.v, ấy cũng làm nhân của các pháp, nhân đó được gọi là ‘āyatana-xứ’. Và trong trường hợp này đức Thế Tôn thuyết cả sáu xứ v.v, để thuyết sự tiếp nối nhau của duyên tính từ xúc trở đi, rồi đã đặt pháp thoại lên bằng cách đưa xúc làm trưởng ở chính câu đó theo cách thức sau: “Do duyên con mắt và các sắc nên nhãn thức sanh khởi, do ba pháp tụ họp (con mắt-sắc-nhãn thức) nên có xúc.”

Phussa phussa paṭisaṃvedentīti phusitvā phusitvā paṭisaṃvedenti. Ettha ca kiñcāpi āyatanānaṃ phusanakiccaṃ viya vuttaṃ, tathāpi na tesaṃ phusanakiccatā veditabbā. na hi āyatanāni phusanti, phassova taṃ taṃ ārammaṇaṃ phusati, āyatanāni pana phasse upanikkhipitvā dassitāni; tasmā sabbe te cha phassāyatanasambhavena phassena rūpādīni ārammaṇāni phusitvā taṃ diṭṭhivedanaṃ paṭisaṃvedayantīti evamettha attho veditabbo.

Cảm nghiệm sau khi xúc chạm (sáu cảnh) nhiều lần thông qua sáu xúc xứ (thọ): cảm nghiệm sau khi xúc chạm (sáu cảnh) thông qua sáu xúc xứ (thọ). Và ở đây, mặc dầu đã thuyết giống như tất cả các (xúc) xứ ấy có phận sự là xúc chạm (cảnh), bởi vì các (xúc) xứ xúc chạm (cảnh) không được, còn xúc được xúc chạm nơi những đối tượng đó, hơn nữa, tất cả các xứ được thuyết ẩn trong xúc; vì thế nên hiểu ý nghĩa trong Pāḷī này như vầy: ‘tất cả những Sa-môn và Bà-la-môn ấy xúc chạm đối tượng có sắc v.v, thông qua xúc sanh lên từ sáu xúc xứ rồi cảm nghiệm thọ về các quan điểm đó.

Tesaṃ vedanāpaccayā taṇhātiādīsu vedanāti cha phassāyatanasambhavā vedanā. sā rūpataṇhādibhedāya taṇhāya upanissayakoṭiyā paccayo hoti. tena vuttaṃ — “tesaṃ vedanāpaccayā taṇhā”ti. Sā pana catubbidhassa upādānassa upanissayakoṭiyā ceva sahajātakoṭiyā ca paccayo hoti. Tathā upādānaṃ bhavassa. Bhavo jātiyā upanissayakoṭiyā paccayo hoti.

Do duyên thọ ái (sanh khởi) v.v, Thọ khởi lên từ sáu xúc xứ. Thọ ấy làm duyên bởi nút thắt cận-y-duyên đối với ái được phân thành sắc ái, v.v Bởi nguyên nhân đó mới nói rằng – “Do duyên thọ ái sanh khởi.” Hơn nữa, ái làm duyên cho bốn loại thủ (sanh khỏi) bởi nút thắt của cận-y-duyên và bởi nút thắt của câu-sanh-duyên, thủ làm duyên cho hữu đó (sanh khỏi). Hữu làm duyên cho sanh (sanh khỏi) bởi nút thắt cận-y-duyên.

Jātīti panettha savikārā pañcakkhandhā daṭṭhabbā, jāti jarāmaraṇassa ceva sokādīnañca upanissayakoṭiyā paccayo hoti. Ayamettha saṅkhepo, vitthārato pana paṭiccasamuppādakathā visuddhimagge vuttā. Idha panassa payojanamattameva veditabbaṃ. Bhagavā hi vaṭṭakathaṃ kathento — “purimā, bhikkhave, koṭi na paññāyati avijjāya, ‘ito pubbe avijjā nāhosi, atha pacchā samabhavī’ti evañcetaṃ456[74], bhikkhave, vuccati, atha ca pana paññāyati “idappaccayā avijjā”ti457[75] Evaṃ avijjāsīsena vā, purimā, bhikkhave, koṭi na paññāyati bhavataṇhāya ... pe ... “idappaccayā bhavataṇhā”ti458[76] evaṃ taṇhāsīsena vā, purimā, bhikkhave, koṭi na paññāyati bhavadiṭṭhiyā ... pe ... “idappaccayā bhavadiṭṭhī”ti evaṃ diṭṭhisīsena vā kathesi”. Idha pana diṭṭhisīsena kathento vedanārāgena uppajjamānā diṭṭhiyo kathetvā vedanāmūlakaṃ paṭiccasamuppādaṃ kathesi. Tena idaṃ dasseti — “Evamete diṭṭhigatikā, idaṃ dassanaṃ gahetvā tīsu bhavesu catūsu yonīsu pañcasu gatīsu sattasu viññāṇaṭṭhitīsu navasu sattāvāsesu ito ettha etto idhāti sandhāvantā saṃsarantā yante yuttagoṇo viya, thambhe upanibaddhakukkuro459[77] viya, vātena vippannaṭṭhanāvā viya ca vaṭṭadukkhameva anuparivattanti, vaṭṭadukkhato sīsaṃ ukkhipituṃ na sakkontī”ti.

Hơn nữa ở đây sanh nên hiểu rằng bao gồm ngũ uẩn cùng với sự thay đổi-vikāra, sanh làm duyên bởi nút thắt cận-y-duyên cho già, chết và sầu v.v, (sanh khởi). Ở đây, điều này được nói vắn tắt, còn Duyên Khởi hay pháp tùy thuận duyên sanh - paṭiccasamuppāda đã được giảng giải chi tiết trong Thanh Tịnh Đạo. Nhưng những gì được nói trong trường hợp này chỉ chừng ấy là vừa đủ. Thật vậy, đức Thế Tôn trong khi nói diễn giải về luân hồi -vaṭṭakathā đã thuyết với đầu đề Vô Minh như vầy – “Này các tỳ khưu, điểm đầu tiên của vô minh không được biết đến, ‘Từ đây trở về trước,, vô minh không có, nhưng về sau mới có.’ Như vậy, này các tỳ khưu, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rõ: “Do duyên này, vô minh (có mặt)”. Hoặc ngài đã thuyết với đầu đề Tham Ái như vầy – “Này các tỳ khưu, điểm đầu tiên của hữu ái không được biết đến, ‘Từ đây trở về trước, hữu ái không có, nhưng về sau mới có.’ Như vậy, này các tỳ khưu, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rõ: “Do duyên này, hữu ái (có mặt)’”. Hoặc ngài đã thuyết với đầu đề Tà Kiến như vầy: – “Này chư tỳ khưu, điểm đầu tiên của hữu kiến không được nói đến, ‘Từ đây trở về trước, hữu kiến không có, nhưng về sau mới có.’ Như vậy, này các tỳ khưu, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rõ: “Do duyên này, hữu kiến (có mặt)’”. Hơn nữa, trong bài Kinh này khi thuyết với đầu đề ‘Tà Kiến’ đã thuyết toàn bộ các tà kiến sanh khởi do sự luyến ái trong thọ rồi ngài thuyết Duyên Khởi có thọ làm gốc. Vì thế ngài thuyết điều này – “Một số Sa-môn và Bà-la-môn tà kiến này đã nắm lấy quan điểm này rong ruổi, du hành trong ba cõi, bốn nguồn gốc sanh ra, năm cảnh giới tái sanh, bảy sự trụ vững của thức, chín loại hữu tình cư từ chỗ này đi đến chỗ kia, từ chỗ kia đi đến chỗ này, hoàn toàn luân chuyển trong vòng luân hồi khổ đau, (chúng sanh) không thể ngước mặt ra khỏi vòng luân hồi khổ đau ấy tương tự y như con bò bị buộc vào ách xe, tựa như con chó bị xích vào cột trụ, và tựa như con thuyền bị đắm chìm bởi cơn giông bão.

 
Giải Thích Vivaṭṭakathā
  1. Evaṃ diṭṭhigatikādhiṭṭhānaṃ vaṭṭaṃ kathetvā idāni yuttayogabhikkhuadhiṭṭhānaṃ katvā vivaṭṭaṃ dassento — “yato kho, bhikkhave, bhikkhū”tiādimāha. Tattha yatoti yadā. Channaṃ phassāyatanānanti yehi chahi phassāyatanehi phusitvā paṭisaṃvedayamānānaṃ460[78] diṭṭhigatikānaṃ vaṭṭaṃ vattati, tesaṃyeva channaṃ phassāyatanānaṃ. Samudayantiādīsu avijjāsamudayā cakkhusamudayotiādinā vedanākammaṭṭhāne vuttanayena phassāyatanānaṃ samudayādayo461[79] veditabbā. Yathā pana tattha “phassasamudayā phassanirodhā”ti vuttaṃ, Evamidha, taṃ cakkhādīsu — “āhārasamudayā āhāranirodhā”ti veditabbaṃ. manāyatane “nāmarūpasamudayā nāmarūpanirodhā”ti.
  2. Sau khi đức Thế Tôn thuyết về luân hồi là chỗ y cứ của người quan điểm như vậy, bây giờ khi thuyết sự xuất ly luân hồi (ngài) lấy ví dụ vị tỳ khưu gắn liền với sự tinh tấn làm chỗ y cứ rồi thuyết rằng: – “Này các tỳ khưu, khi nào vị tỳ khưu biết rõ đúng theo thực thể v.v.” Ở đây, từ ‘khi nào’: vào thời gian nào. Của sáu xúc xứ: vòng luân hồi xoay vòng đối với người có tà kiến, người xúc chạm với sáu xúc xứ nào trong khi đang cảm nghiệm cảm thọ của chính sáu xúc xứ đó. Về nhân sanh khởi v.v,: nên biết sự sanh khởi của xúc xứ theo cách thức đã được trình bày trong phần Thọ Nghiệp Xứ như sau: “Do duyên vô minh, nhãn sanh khởi v.v.” Tương tự như trong phần Thọ Nghiệp Xứ ấy đã nói rằng: “Do sự sanh khởi của xúc, do sự diệt tận của xúc” (như thế nào). Như vậy, ở đây (cũng như thế ấy), nên biết xứ ấy trong con mắt v.v, như sau: “Do sự sanh khởi của vật thực, do sự diệt tận của vật thực”. Trong ý xứ “Do sự sanh khởi của danh sắc, do sự diệt tận của danh và sắc”.

Uttaritaraṃ pajānātīti diṭṭhigatiko diṭṭhimeva jānāti462[80]. Ayaṃ pana diṭṭhiñca diṭṭhito ca uttaritaraṃ sīlasamādhipaññāvimuttinti yāva arahattā jānāti. Ko evaṃ jānātīti? khīṇāsavo jānāti, anāgāmī, sakadāgāmī, sotāpanno, bahussuto, ganthadharo bhikkhu jānāti, āraddhavipassako jānāti. Desanā pana arahattanikūṭeneva niṭṭhāpitāti.

(Vị này) biết rõ điều vượt lên trên hết thảy: Hạng người có tà kiến chỉ biết mỗi luận cứ của mình. Còn vị tỳ khưu này biết được quan điểm và vượt lên trên những quan điểm ấy, là giới, định, tuệ, và giải thoát cho đến phẩm vị A-ra-hán. Ai biết được như vậy? Bậc lậu tận biết được, Thánh Bất-lai, Thánh Nhất-lai, Thánh Nhập-lưu, vị tỳ khưu là đa văn, là bậc thông suốt kinh điển cũng biết, và vị tỳ khưu bắt đầu tiến hành thiền tuệ - āraddhavipassaka cũng biết. Tuy nhiên pháp thoại đức Thế Tôn thuyết giảng được kết thúc bằng đỉnh cao ở đạo quả A-la-hán.

  1. Evaṃ vivaṭṭaṃ kathetvā idāni “desanājālavimutto diṭṭhigatiko nāma natthī”ti dassanatthaṃ puna — “ye hi keci, bhikkhave”ti ārabhi. Tattha antojālīkatāti imassa mayhaṃ desanājālassa antoyeva katā. Ettha sitā vāti etasmiṃ mama desanājāle sitā nissitā avasitāva. Ummujjamānā ummujjantīti kiṃ vuttaṃ hoti? Te adho osīdantāpi uddhaṃ uggacchantāpi mama desanājāle sitāva hutvā osīdanti ca uggacchanti ca. Ettha pariyāpannāti ettha mayhaṃ desanājāle pariyāpannā, etena ābaddhā antojālīkatā ca hutvā ummujjamānā ummujjanti, na hettha asaṅgahito diṭṭhigatiko nāma atthīti.
  2. Sau khi đức Thế Tôn thuyết giảng sự xuất khỏi luân hồi như vậy, bây giờ để thuyết giảng rằng: “Người có tà kiến thoát khỏi tấm lưới của pháp thoại là không có” mới thuyết tiếp - “Này các tỳ khưu, bất cứ các vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào”. Ở đó, tựa như bên trong tấm lưới: ở bên trong tấm lưới của giáo pháp này đây của ta. Đều bị bao bọc bên trong tấm lưới: cư ngụ, nương nhờ là dựa vào trong tấm lưới của giáo pháp này của ta. Người nổi lên, trong khi nổi lên được giải thích như thế nào? Có lời giải thích như sau: các vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn ấy chìm xuống, hay nổi lên, đều là những người ở trong tấm lưới của giáo pháp của ta, chìm xuống và nổi lên. Đều bị vướng vào bên trong tấm lưới: là người bị vướng vào trong tấm lưới của giáo pháp này của ta, tấm lưới của giáo pháp này buộc chặt lại như những người nổi lên, trong khi nổi lên (bị bao trùm) bên trong tấm lưới, bởi vì được gọi là người có tà kiến không bị thâu nhiếp vào trong tấm lưới của giáo pháp này là không có.

Sukhumacchikenāti saṇhācchikena sukhumacchiddenāti attho. Kevaṭṭo viya hi bhagavā, jālaṃ viya desanā, parittaudakaṃ viya dasasahassilokadhātu, oḷārikā pāṇā viya dvāsaṭṭhidiṭṭhigatikā. Tassa tīre ṭhatvā olokentassa oḷārikānaṃ pāṇānaṃ antojālīkatabhāvadassanaṃ viya bhagavato sabbadiṭṭhigatānaṃ desanājālassa antokatabhāvadassananti463[81] evamettha opammasaṃsandanaṃ veditabbaṃ.

Lưới chài: có nghĩa là với tấm lưới có mắt (được đang) chặt chẽ, (ô lưới) dày đặc. Thật vậy, đức Thế Tôn được ví như người đánh cá, giáo lý ví như tấm lưới, mười ngàn thế giới giống như hồ nước nhỏ, những Sa-môn và hoặc Bà-la-môn có sáu mươi hai luận cứ giống như những sinh vật lớn. Y như người đánh cá, đã đứng ở trên bờ để quan sát cái lưới nhìn thấy tất cả sinh vật lớn bị kẹt bên trong tấm lưới, cũng vậy đức Thế Tôn nhìn thấy tất cả những Sa-môn và Bà-la-môn có tà kiến toàn bộ đều bị mắc kẹt trong tấm lưới của giáo pháp, ở đây việc so sánh bằng ví dụ minh họa nên biết như vậy.

  1. Evaṃ imāhi dvāsaṭṭhiyā diṭṭhīhi sabbadiṭṭhīnaṃ saṅgahitattā sabbesaṃ diṭṭhigatikānaṃ etasmiṃ desanājāle pariyāpannabhāvaṃ dassetvā idāni attano katthaci apariyāpannabhāvaṃ dassento — “ucchinnabhavanettiko, bhikkhave, tathāgatassa kāyo”tiādimāha. Tattha nayanti etāyāti netti. Nayantīti gīvāya bandhitvā ākaḍḍhanti, Rajjuyā etaṃ nāmaṃ. Idha pana nettisadisatāya bhavataṇhā nettīti adhippetā. Sā hi mahājanaṃ gīvāya bandhitvā taṃ taṃ bhavaṃ neti upanetīti bhavanetti. arahattamaggasatthena ucchinnā bhavanetti assāti ucchinnabhavanettiko.
  2. Sau khi đức Thế Tôn chỉ ra tính chất một số Sa-môn và Bà-la-môn có những luận cứ vướng vào trong tấm lưới của giáo lý này do toàn bộ những quan điểm được yếu hợp với sáu mươi hai luận cứ này như vậy, bây giờ trong khi thuyết giảng về bản thể của ngài, vị không còn lệ thuộc bất cứ điều gì nữa đã nói rằng – “Này các tỳ khưu, thân của Như Lai đang tồn tại, nhưng lối dẫn đến hữu đã bị cắt đứt.” Ở đấy, ‘dẫn dắt’ bởi ý nghĩa làm phương tiện dẫn đi. Dẫn đi dịch là sau khi buộc chặt cổ rồi kéo đi, đây là tên gọi của sợi dây. Hơn nữa, ở đây ‘hữu ái’ muốn đề cập đến ‘netti-dẫn dắt’ bởi vì nó giống như sợi dây để dẫn đi. Thật vậy, ‘hữu ái’ ấy sau khi buộc chặt cổ của hết thảy chúng sanh dẫn đi đến các cõi này cõi kia, vì thế được gọi là dẫn đi đến hữu. Ái dẫn dắt chúng sanh đến cõi đó, thân của Như Lai đã cắt đứt bằng vũ khí sắc bén, tức là Thánh Đạo A-ra-hán, vì thế mà thân của Như Lai được gọi là có ái dẫn đi đến hữu đã bị cắt đứt.

Kāyassa bhedā uddhanti kāyassa bhedato uddhaṃ. Jīvitapariyādānāti jīvitassa sabbaso pariyādinnattā parikkhīṇattā, puna appaṭisandhikabhāvāti attho. Na taṃ dakkhantīti taṃ tathāgataṃ devā vā manussā vā na dakkhissanti, apaṇṇattikabhāvaṃ gamissatīti464[82] attho.

Đến khi sắc thân tan rã: Đến khi có sự tan rã của sắc thân. Đã chấm dứt mạng sống: Do mạng sống đã chấm dứt, chấm dứt hết thảy về mọi mặt bởi không còn tục sanh trở lại nữa. Sẽ không còn nhìn thấy Như Lai: Chư Thiên, hoặc loài Người sẽ không còn nhìn thấy Như Lai đó, sẽ đi đến trạng thái là vị không còn biểu hiện-paṇṇatti.

Seyyathāpi, bhikkhaveti, upamāyaṃ pana idaṃ saṃsandanaṃ. Ambarukkho viya hi tathāgatassa kāyo, rukkhe jātamahāvaṇṭo465[83] viya taṃ nissāya pubbe pavattataṇhā. tasmiṃ vaṇṭe upanibaddhā pañcapakkadvādasapakkāṭṭhārasapakkaparimāṇā ambapiṇḍī viya taṇhāya sati taṇhūpanibandhanā hutvā āyatiṃ nibbattanakā pañcakkhandhā dvādasāyatanāni aṭṭhārasa dhātuyo. Yathā pana tasmiṃ vaṇṭe chinne sabbāni tāni ambāni tadanvayāni honti, taṃyeva vaṇṭaṃ anugatāni, vaṇṭacchedā466[84] chinnāni yevāti attho; evameva ye bhavanettivaṇṭassa anupacchinnattā āyatiṃ uppajjeyyuṃ pañcakkhandhā dvādasāyatanāni aṭṭhārasadhātuyo, sabbe te dhammā tadanvayā honti bhavanettiṃ anugatā, tāya chinnāya chinnā yevāti attho.

Này các tỳ khưu, cũng giống như…: hơn nữa, ở đây có ví dụ so sánh như sau: Thân của Như Lai ví như quả xoài, tham ái nương thân này diễn biến ở hữu trước giống như cuống (xoài) lớn sanh ra từ cây, khi vẫn tham ái, năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới là thực tính dính vào thám ái khởi lên tiếp tục giống như chùm xoài chín khoảng chừng năm quả, mười hai quả, hay mười tám quả dính vào cuống xoài ấy, cũng giống như khi cuống xoài ấy bị đứt thì toàn bộ những quả xoài bị dính vào cuống ấy (cũng bị đứt lìa) đi theo cuống ấy. Giải thích rằng: rơi theo chính cuống ấy, rớt xuống cùng một lúc do cuống xoài bị đứt như thế nào; cái cuống tham ái dẫn dắt chúng sanh đến các hưu chưa bị cắt đứt thì cũng có thể làm nhân khiến khởi sanh năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, hết thảy những pháp đó theo sát cái cuống tham ái dẫn dắt chúng sanh đến hữu ấy. Tức là đi theo tham ái dẫn dắt chúng sanh đến các hữu, khi tham ái đã bị cắt đứt, (thì những thứ đi theo tham ái) cũng đều bị cắt đứt cùng một lúc cũng tương tự y như thế ấy.

Yathā pana tasmimpi rukkhe maṇḍūkakaṇṭakavisasamphassaṃ āgamma anupubbena sussitvā mate — “imasmiṃ ṭhāne evarūpo nāma rukkho ahosī”ti vohāramattameva hoti, na taṃ rukkhaṃ koci passati, evaṃ ariyamaggasamphassaṃ āgamma taṇhāsinehassa pariyādinnattā anupubbena sussitvā viya bhinne imasmiṃ kāye, kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā na taṃ dakkhanti, tathāgatampi devamanussā na dakkhissanti, evarūpassa nāma kira satthuno idaṃ sāsananti vohāramattameva bhavissatīti anupādisesanibbānadhātuṃ pāpetvā desanaṃ niṭṭhapesi.

Hơn nữa, khi cái cây đó do tiếp xúc với chất độc của cây kaṇṭaka và cây maṇḍūka trở nên khô héo dần rồi chết đi, cũng chỉ còn lại là sự kêu gọi vohāra rằng: “Ở tại nơi này đã có một cây tên này, có kích thước như vầy”, những ai không nhìn thấy cái cây đó như thế nào; khi thân này y cứ vào sự xúc chạm của Thánh Đạo, do nhựa cây là tham ái đã cạn kiệt dường như đã trở nên khô cạn dần, đã bị phá hủy, cho đến khi sắc thân tan rã (và) đã chấm dứt mạng sống, thì chư Thiên và loài Người sẽ không còn nhìn thấy Như Lai nữa, sẽ chỉ còn lại là sự bày tỏ vohāra rằng: “Được biết rằng - đây là Giáo Pháp của một Đạo Sư có hình thức như thế, đức Thế Tôn thuyết giảng Giáo Pháp đã đạt đến sự viên tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót”.

  1. Evaṃ vutte āyasmā ānandoti evaṃ bhagavatā imasmiṃ sutte vutte thero ādito paṭṭhāya sabbaṃ suttaṃ samannāharitvā evaṃ buddhabalaṃ dīpetvā kathitasuttassa na bhagavatā nāmaṃ gahitaṃ, handassa nāmaṃ gaṇhāpessāmīti cintetvā bhagavantaṃ etadavoca.
  2. Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda: Khi đức Thế Tôn thuyết bài Kinh này như vậy, trưởng lão Ānanda đã tập hợp lại toàn bộ bài Kinh kể từ ban đầu rồi đã khởi lên suy nghĩ rằng - “Đức Thế Tôn đã thể hiện sức mạnh của đức Phật, (những) ngài không đặt tên bài Kinh đã thuyết, vậy thì ta sẽ hỏi (ngài) để đặt tên cho bài Kinh được thuyết ấy” nên đã bạch đức Thế Tôn như thế.

Tasmātiha tvantiādīsu ayamatthayojanā — Ānanda, yasmā imasmiṃ dhammapariyāye idhatthopi paratthopi vibhatto, tasmātiha tvaṃ imaṃ dhammapariyāyaṃ “atthajālan”tipi naṃ dhārehi; yasmā panettha bahū tantidhammā kathitā, tasmā “dhammajālan”tipi naṃ dhārehi; yasmā ca ettha seṭṭhaṭṭhena brahmaṃ sabbaññutaññāṇaṃ vibhattaṃ, tasmā “brahmajālan”tipi naṃ dhārehi; yasmā ettha dvāsaṭṭhidiṭṭhiyo vibhattā, tasmā “diṭṭhijālan”tipi naṃ dhārehi; yasmā pana imaṃ dhammapariyāyaṃ sutvā devaputtamārampi khandhamārampi maccumārampi kilesamārampi sakkā maddituṃ, tasmā “anuttaro saṅgāmavijayotipi naṃ dhārehī”ti.

Do đó,...ông hãy ghi nhận v.v, điều này được liên kết (như sau) – “Này Ānanda, do trong bài giảng Pháp này, ta phân tích lợi ích ở đời này (và) lợi ích ở đời sau, vì thế ông hãy ghi nhớ bài giảng này là “Mạng lưới lợi ích”; hơn nữa, do trong bài giảng Pháp này ta đã thuyết giảng theo nhiều kiểu cách, vì thế ông hãy ghi nhận bài giảng Pháp này là “Mạng lưới giáo pháp467[85]”; Hơn nữa, do trong bài giảng Pháp này ta phân tích trí toàn tri đó là ‘brahma’ với ý nghĩa ‘cao thượng’, vì thế ông ông hãy ghi nhận bài giảng Pháp này “Mạng lưới cao thượng”; Hơn nữa, do trong bài giảng pháp này ta đã phân tích sáu mươi hai luận cứ, vì thế ông hãy ghi nhận bài giảng Pháp này là “Mạng lưới quan điểm”; Lại nữa, bởi vì bất cứ ai sau khi nghe bài giảng Pháp này có thể dẫm nát được thiên tử ma, ngũ uẩn ma, tử thần ma, và phiền não mà, vì thế ông hãy ghi nhận bài giảng Pháp này là “Chiến thắng vô thượng”.

Idamavoca bhagavāti Idaṃ nidānāvasānato yāva “anuttaro saṅgāmavijayotipi naṃ dhārehī”ti sakalaṃ suttantaṃ bhagavā paresaṃ paññāya alabbhaneyyapatiṭṭhaṃ paramagambhīraṃ sabbaññutaññāṇaṃ pakāsento sūriyo viya andhakāraṃ diṭṭhigatamahandhakāraṃ vidhamanto avoca.

Đức Thế Tôn đã nói điều này: Đức Thế Tôn đã thuyết giảng toàn bộ bài Kinh này bắt đầu kể từ khi kết thúc lời giới thiệu cho đến khi thuyết rằng: “ông hãy ghi nhận bài giảng Pháp này là “Chiến thắng vô thượng” trong khi tuyên bố trí toàn tri thâm sâu cao quý, có chỗ thiết lập mà bất cứ ai cũng không thể đạt được bằng trí tuệ của những hạng người khác, đã xua tan bóng tối dày đặc là tà kiến, tựa như ánh mặt trời xóa tan bóng đêm.

  1. Attamanā te bhikkhūti te bhikkhū attamanā sakamanā, buddhagatāya pītiyā udaggacittā hutvāti vuttaṃ hoti. Bhagavato bhāsitanti evaṃ vicitranayadesanāvilāsayuttaṃ idaṃ suttaṃ karavīkarutamañjunā kaṇṇasukhena paṇḍitajanahadayānaṃ amatābhisekasadisena brahmassarena bhāsamānassa bhagavato vacanaṃ. Abhinandunti anumodiṃsu ceva sampaṭicchiṃsu ca. Ayañhi abhinandasaddo — “abhinandati abhivadatī”tiādīsu468[86] taṇhāyampi āgato. “Annamevābhinandanti, ubhaye devamānusā”tiādīsu469[87] upagamanepi.

cirappavāsiṃ purisaṃ, dūrato sotthimāgataṃ. ñātimittā suhajjā ca, abhinandanti āgatan”ti.470[88].

ādīsu sampaṭicchanepi. “Abhinanditvā anumoditvā”tiādīsu471[89] anumodanepi. Svāyamidha anumodanasampaṭicchanesu yujjati. Tena vuttaṃ — “abhinandunti anumodiṃsu ceva sampaṭicchiṃsu cā”ti. subhāsitaṃ sulapitaṃ, “sādhu sādhū”ti tādino. anumodamānā sirasā, sampaṭicchiṃsu bhikkhavoti.

  1. Các vị tỳ khưu hoan hỷ: Các vị tỳ khưu ấy có tâm hoan hỷ, vui mừng, được giải thích rằng vị có tâm phấn khởi do hỷ được vận hành nơi đức Phật. Lời nói của đức Thế Tôn: Bài Kinh này gắn liền với vẻ đẹp của lời hướng dẫn có cách thức đa dạng như vậy, là lời nói của đức Thế Tôn với âm giọng êm dịu y như tiếng chim Karavīka du dương, âm giọng như của Phạm Thiên, như thể rưới nước bất tử vào trong tâm khảm của bậc các bậc sáng suốt. Tán thành: tùy hỷ và chấp thuận. Thật vậy, tử ‘abhinanda’ này đến với ý nghĩa ‘tham ái’ - “thỏa thích, nói lời tán thán” v.v. Đến với ý nghĩa ‘đi đến gần’ - “Chư thiền và loài Người, cả hai đi đến gần vật thực v.v.” Đến với ý nghĩa ‘chấp thuận’ -

Thân quyến bạn bè và thân hữu hân hoan tiếp đón người đã trở về, người có cuộc sống xa quê lâu dài từ phương xa đã trở về an toàn.” Đến với nghĩa ‘tùy hỷ’ - “đã thích thú, đã tùy hỷ”. Từ ‘abhinanda’ này đây trong trường hợp này phù hợp với ý nghia ‘tùy hỷ và chấp thuận’. Vì thế, tôi mới nói rằng ‘tán thành’ nghĩa là tùy hỷ và chấp thuận.

Các vị tỳ khưu đã tán thành lời dạy đã khéo được nói lên bởi đức Phật, chấp thuận bằng đầu (của mình) rằng: “lành thay, lành thay” như thế.

Imasmiñca pana veyyākaraṇasminti imasmiṃ niggāthakasutte. niggāthakattā hi idaṃ veyyākaraṇanti vuttaṃ.

Hơn nữa, Veyyākaraṇa này: Bài Kinh không có kệ ngôn trên này. Bài Kinh này được gọi là Veyyākaraṇa [Ký Thuyết] bởi không có kệ ngôn.

Dasasahassī lokadhātūti dasasahassacakkavāḷaparimāṇā lokadhātu. Akampitthāti na suttapariyosāneyeva akampitthāti veditabbā. Bhaññamāneti hi vuttaṃ. tasmā dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatesu viniveṭhetvā desiyamānesu tassa tassa diṭṭhigatassa pariyosāne pariyosāneti dvāsaṭṭhiyā ṭhānesu akampitthāti veditabbā.

Mười ngàn thế giới: Thế giới chứa đựng mười ngàn vũ trụ. Đã rúng động: nên biết rằng không phải rúng động trong khi kết thúc bài Kinh. Điều này đã được đại đức Ānanda nói rằng: - trong khi đang thuyết giảng, nên biết rằng khi đang thuyết giảng việc tháo gỡ sáu mươi hai luận cứ (thế giới) đã rúng động trong sáu mươi hai trường hợp, tức là, trong khi thuyết kết thúc mỗi mỗi luận cứ ấy.

Tattha aṭṭhahi kāraṇehi pathavīkampo veditabbo — dhātukkhobhena, iddhimato ānubhāvena, bodhisattassa gabbhokkantiyā, mātukucchito nikkhamanena, sambodhippattiyā, dhammacakkappavattanena, āyusaṅkhārossajjanena, parinibbānenāti. Tesaṃ vinicchayaṃ — “Aṭṭha kho ime, Ānanda, hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā”ti evaṃ Mahāparinibbāne āgatāya tantiyā vaṇṇanākāle vakkhāma. Ayaṃ pana mahāpathavī aparesupi aṭṭhasu ṭhānesu akampittha — mahābhinikkhamane, bodhimaṇḍūpasaṅkamane, paṃsukūlaggahaṇe, paṃsukūladhovane, kāḷakārāmasutte, gotamakasutte, vessantarajātake, imasmiṃ brahmajāleti. Tattha mahābhinikkhamanabodhimaṇḍūpasaṅkamanesu vīriyabalena akampittha. paṃsukūlaggahaṇe dvisahassadīpaparivāre cattāro mahādīpe pahāya pabbajitvā susānaṃ gantvā paṃsukūlaṃ gaṇhantena dukkaraṃ bhagavatā katanti acchariyavegābhihatā akampittha. Paṃsukūladhovanavessantarajātakesu akālakampanena akampittha. Kāḷakārāmagotamakasuttesu — “ahaṃ sakkhī bhagavā”ti sakkhibhāvena akampittha. Imasmiṃ pana brahmajāle dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatesu vijaṭetvā niggumbaṃ katvā desiyamānesu sādhukāradānavasena akampitthāti veditabbā.

Trong câu đó, nên biết quả địa cầu bị rúng động bởi tám lý do – (1) Sự rối loạn của các Đại-dhātu, (2) Oai lực của thần thông, (3) Bồ-tát nhập vào mẫu thai, (4) Bồ-tát lọt lòng mẹ, (5) Bồ-tát chứng đạt quả vị Toàn Giác, (6) đức Phật chuyển vận bánh xe Pháp, (7) đức Phật xả bỏ thọ hành, (8) đức Phật viên tịch Nibbāna. Lý giải những nguyên nhân ấy tôi sẽ nói trong phần giảng giải Pāḷī trong bài Kinh Đại Bát Nibbāna như vầy - “Này Ānanda, đây là tám nhân, tám duyên khiến quả địa cầu rúng động mạnh.” Hơn nữa, quả địa cầu lớn này rúng động trong tám trường hợp khác là - (1) trong khi thực hiện cuộc ra đi vĩ đại, (2) lúc ngài bước đến gần khuôn viên của cội Bồ Đề, (3) trong lúc ngài thọ lãnh y phấn tảo -paṃsukūla, (4) trong lúc ngài giặt y phấn tảo, (5) trong lúc thuyết giảng bài Kinh Kālāma,

(6) trong lúc thuyết giảng bài Kinh Gotamaka, (7) trong lúc thuyết giảng Bổn Sanh Vessantara, (8) trong lúc thuyết giảng bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng. Trong tám lần ấy, khi ngài thực hiện cuộc ra đi vĩ đại và khi ngài bước đến gần khuôn viên cội Bồ Đề quả địa cầu đã rúng động bởi năng lực của sự tinh tấn. Khi thọ lãnh y phấn tảo quả địa cầu bị năng lực sự phi thường đã va chạm (như thể nói rằng) đức Thế Tôn từ bỏ bốn Đại châu lục, mỗi châu có hai ngàn châu nhỏ xung quanh, đã ra đi xuất gia ngài đi đến nghĩa địa, cầm lấy y phấn tảo, thực hiện hành động khó làm như thế (quả địa cầu) đã rúng động. Khi giặt y phấn tảo và khi thuyết giảng Bổn Sanh Vessantara quả địa cầu đã rúng động bởi sự dao động không phải thời. Khi thuyết giảng bài Kinh Kālāma và khi thuyết giảng bài Kinh Gotamaka quả địa cầu đã rúng động bởi người chứng kiến rằng: “Kính bậc đức Thế Tôn, con xin làm chứng”. Tuy nhiên, trong bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng này khi thuyết giảng việc tháo gỡ sáu mươi hai luận cứ, nên biết rằng ‘đã rúng động’ do mãnh lực ban lời tán thán.

Na kevalañca etesu ṭhānesuyeva pathavī akampittha, atha kho tīsu saṅgahesupi mahāmahindattherassa imaṃ dīpaṃ āgantvā jotivane nisīditvā dhammaṃ desitadivasepi akampittha. Kalyāṇiyavihāre ca Piṇḍapātiyattherassa cetiyaṅgaṇaṃ sammajjitvā tattheva nisīditvā buddhārammaṇaṃ pītiṃ gahetvā imaṃ suttantaṃ āraddhassa suttapariyosāne udakapariyantaṃ katvā akampittha. Lohapāsādassa pācīnāmbalaṭṭhikaṭṭhānaṃ472[90] nāma ahosi. tattha nisīditvā dīghabhāṇakattherā brahmajālasuttaṃ ārabhiṃsu, tesaṃ sajjhāyapariyosānepi473[91] udakapariyantameva katvā pathavī akampitthāti.

Evaṃ yassānubhāvena, akampittha anekaso.

Medanī suttaseṭṭhassa, desitassa sayambhunā.

Brahmajālassa tassīdha, dhammaṃ atthañca paṇḍitā. Sakkaccaṃ uggahetvāna, paṭipajjantu yonisoti.

Và không chỉ riêng ở những trường hợp như vầy mà quả địa cầu đã rúng động, mà quả địa cầu đã rúng động ngay cả trong khi thực hiện ba lần kết tập, thậm chí vào ngày trưởng lão Mahinda đến châu lục này, đã ngồi thuyết giảng Giáo Pháp ở Jotivana và khi trưởng lão Piṇḍapātiya quét dọn khuôn viên Bảo tháp ở tu viện Kalyāṇiya rồi ngồi ở chính khuôn viên Bảo tháp ấy, nắm lấy hỷ lạc có đức Phật làm đối tượng, bắt đầu trì tụng bài Kinh này vào lúc chấm dứt bài Kinh quả địa cầu với nước biển bao bọc xung quanh đã rúng động. Có khu vực tên là Ambalaṭṭhika ở hướng Đông của lâu đài bằng đồng - Lohapāsāda, các vị trưởng lão trì tụng Trường Bộ đã ngồi ở nơi đó bắt đầu trì tụng bài Kinh Mạng Lưới Cao Thượng, ngay cả vào lúc mà các vị trưởng lão tụng kết thúc thì quả địa cầu với nước biển bao bọc xung quanh đã rúng động tương tự.

Do nhờ oai lực của bài Kinh tối thượng nào mà đấng Tạo Hóa đã thuyết giảng, quả địa cầu đã rúng động nhiều lần như vậy xin các bậc sáng trí hãy học tập một cách cung kính cùng với ý nghĩa Pháp của bài Kinh đó, có tên là Kinh Mạng Lưới Cao Thượng - Brahmajāla trong Giáo Pháp này, rồi hãy thực hành bằng đường lối đúng đắn.

Iti Sumaṅgalavilāsiniyā Dīghanikāyaṭṭhakathāyaṃ

Giải Thích Kinh Mạng Lưới Cao Thượng Được Kết Thúc

Translations [28]