Translations [23]
English
- Bhikkhu Sujato
- Bhikkhuni Upalavanna
繁體字
- 莊春江
日本語
- 関西パーリ語実習会 (2023)
Français
- Môhan Wijayaratna (2010)
Deutsch
- Mettiko Bhikkhu (2001)
- Sabbamitta (2019)
Italiano
- De Lorenzo, Pier Antonio Morniroli, Enrico Federici (2007)
- Giovanni Zappa (2025)
Español
- Anton P. Baron
Português
- Michael Beisert (2004)
Русский
- SV theravada.ru (2023)
Norsk
- Kåre A. Lie (2013)
Srpski
- Branislav Kovačević (2014)
Slovenščina
- Bojan Božič (2023)
हिंदी
- Rahul Sankrityayan
বাংলা
- বিনয়েন্দ্রনাথ চৌধুরী
Việt Ngữ
- Thích Minh Châu
Bahasa Indonesia
- Indra Anggara
සිංහල
- A.P. de Zoysa
ပြန်သွားရန်
- Pitaka Myanmar Translation
ภาษาไทย
- Siam Rath
पाळिभासा (Pāli)
- Mahāsaṅgīti Tipiṭaka
Reference
- Sutta Central
Commentaries [3]
English
Việt Ngữ
209. Evamme sutanti Bākulasuttaṃ[1]. Tattha Bākuloti yathā dvāvīsati dvattiṃsātiādimhi vattabbe bāvīsati bāttiṃsātiādīni vuccanti, evameva dvikuloti dvakkuloti vā[2] vattabbe Bākuloti vuttaṃ. Tassa hi therassa dve kulāni ahesuṃ. So kira devaloko cavitvā Kosambinagare nāma mahāseṭṭhikule nibbatto, tamenaṃ pañcame divase sīsaṃ nhāpetvā Gaṅgākīḷaṃ akaṃsu. Dhātiyā[3] dārakaṃ udake nimujjanummujjanavasena kīḷāpentiyā eko maccho dārakaṃ disvā “bhakkho me ayan”ti maññamāno mukhaṃ vivaritvā upagato. Dhātī[4] dārakaṃ chaḍḍetvā palātā. Maccho taṃ gili. Puññavā satto dukkhaṃ na pāpuṇi, sayanagabbhaṃ pavisitvā nipanno viya ahosi. Maccho dārakassa tejena tattakapallaṃ[5] gilitvā dayhamāno viya vegena tiṃsayojanamaggaṃ[6] gantvā Bārāṇasinagaravāsino macchabandhassa jālaṃ pāvisi, mahāmacchā nāma jālabaddhā pahariyamānā[7] maranti. ayaṃ pana dārakassa tejena jālato nīhaṭamattova mato. Macchabandhā ca mahantaṃ macchaṃ labhitvā phāletvā vikkiṇanti. Taṃ pana dārakassa ānubhāvena aphāletvā sakalameva kājena haritvā sahassena demāti vadantā nagare vicariṃsu. Koci na gaṇhāti.
209. Tôi nghe như vầy: Kinh Bākula. Ở đây, Bākula: cũng như lẽ ra phải nói dvāvīsati, dvattiṃsa (hai mươi hai, ba mươi hai) nhưng người ta nói bāvīsati, bāttiṃsa; thì tương tự, lẽ ra phải nói dvikula hay dvakkula (hai dòng họ), lại nói thành Bākula. Vì vị trưởng lão ấy thuộc về hai gia tộc. Ngài từ cõi trời mệnh chung, sanh vào một gia đình đại trưởng giả ở thành Kosambī. Đến ngày thứ năm, họ gội đầu cho hài nhi rồi đưa xuống sông Gaṅgā vui chơi. Khi bà vú bồng đứa bé nâng lên hạ xuống cho chơi dưới nước, một con cá lớn trông thấy đứa bé tưởng rằng ‘đây là miếng mồi của ta’ nên đã há miệng đớp lấy (đứa bé). Bà vú hoảng hốt đã vứt đứa bé rồi bỏ chạy, còn con cá thì nuốt chửng đứa bé vào bụng. Một chúng sanh có phước báo không phải chịu khổ đau; đứa trẻ như thể bước vào phòng ngủ rồi nằm ngủ vậy. Do nhờ oai lực phước báo của đứa trẻ, con cá như thể vừa nuốt phải một chiếc bình nung nóng cũng cảm thấy bị đốt nóng, đã bơi suốt quãng đường dài ba mươi do-tuần với hết tốc lực rồi mắc vào lưới của một người đánh cá cư ngụ ở kinh thành Bārāṇasī. Thông thường, những con cá lớn khi mắc lưới sẽ chết. Nhưng nhờ oai lực phước báo của đứa trẻ, con cá này chỉ khi được gỡ ra khỏi lưới thì mới chết. Những người đánh cá khi bắt được con cá to, định bụng xẻ thịt rồi mang đi bán. Tuy nhiên, do nhờ oai lực của đứa bé nên họ đã không xẻ thịt con cá ấy (mà) sử dụng cán khiêng khiêng cả con cá đi quanh kinh thành rao lên rằng: ‘Đem một ngàn đồng tiền đến, chúng tôi sẽ cho con cá này,’ những chẳng có một ai mua cả.
Tasmiṃ pana nagare aputtakaṃ asītikoṭivibhavaṃ seṭṭhikulaṃ atthi, tassa dvāramūlaṃ patvā “kiṃ gahetvā dethā”ti vuttā kahāpaṇanti āhaṃsu. Tehi kahāpaṇaṃ datvā gahito. Seṭṭhibhariyāpi aññesu divasesu macche na kelāyati, taṃ divasaṃ pana macchaṃ phalake ṭhapetvā sayameva phālesi. Macchañca nāma kucchito phālenti, sā pana piṭṭhito phālentī macchakucchiyaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ dārakaṃ disvā — “macchakucchiyaṃ me putto laddho”ti nādaṃ naditvā dārakaṃ ādāya sāmikassa santikaṃ agamāsi. seṭṭhi tāvadeva bheriṃ carāpetvā dārakaṃ ādāya rañño santikaṃ gantvā — “macchakucchiyaṃ me deva dārako laddho, kiṃ karomī”ti āha. Puññavā esa, yo macchakucchiyaṃ arogo vasi, posehi nanti.
Trong kinh thành ấy, có gia đình trưởng giả có khối tài sản tám mươi koṭi nhưng không có con trai. Khi những người đánh cá đến gần cổng nhà của vị ấy thì bị trưởng giả hỏi rằng: “Mấy ông lấy cái gì thì vừa cho con cá này?”, – họ nói rằng: “Một đồng tiền vàng.” (Trưởng giả) đã đưa một đồng tiền vàng rồi lấy cá mang về. Vợ trưởng giả vào những ngày khác không ưa đụng đến cá, nhưng ngày hôm đó bà đã đặt con cá lên tấm thớt, tự tay xẻ thịt. Thông thường thì mọi người (làm cá) sẽ mổ từ phần bụng, nhưng bà lại mổ từ phần lưng; nhìn thấy đứa bé trai có màu da vàng chói nằm trong bụng cá, đã la lên: “Ta có được đứa con trai nằm trong bụng cá!” rồi ngay lập tức bà bế đứa bé đến tìm gặp chồng. Trưởng giả, sau khi cho đánh trống loan tin, đã bồng đứa bé đi đến yết kiến Đức Vua, rồi tâu rằng: “Tâu Bệ hạ, chúng thần có được một đứa bé trai nằm trong bụng cá; chúng thần phải làm như thế nào?” Đức Vua bảo: “Đứa bé này là bậc có phước báo, (mặc dù) đã nằm trong bụng cá (nhưng) vẫn khỏe mạnh; khanh hãy nuôi nấng nó.”
Assosi kho itaraṃ kulaṃ — “Bārāṇasiyaṃ kira ekaṃ seṭṭhikulaṃ macchakucchiyaṃ dārakaṃ labhatī”ti, te tattha agamaṃsu. Athassa mātā dārakaṃ alaṅkaritvā kīḷāpiyamānaṃ disvāva “manāpo vatāyaṃ dārako”ti gantvā pavatiṃ ācikkhi. Itarā mayhaṃ puttotiādimāha. Kahaṃ te laddhoti? Macchakucchiyanti. No tuyhaṃ putto, mayhaṃ puttoti. Kahaṃ te laddhoti? Mayā dasamāse kucchiyā dhārito, atha naṃ nadiyā kīḷāpiyamānaṃ maccho gilīti. Tuyhaṃ putto aññena macchena gilito bhavissati, ayaṃ pana mayā macchakucchiyaṃ laddhoti, ubhopi rājakulaṃ agamaṃsu. Rājā āha — “ayaṃ dasa māse kucchiyā dhāritattā amātā kātuṃ na sakkā, macchaṃ gaṇhantāpi vakkayakanādīni[8] bahi katvā gaṇhantā nāma natthīti macchakucchiyaṃ laddhattā ayampi amātā kātuṃ na sakkā, dārako ubhinnampi kulānaṃ dāyādo hotu, ubhopi naṃ jaggathā”ti ubhopi jaggiṃsu.
Gia đình (trưởng giả ở Kosambī) nghe tin rằng: “Nghe rằng một gia đình trưởng giả trong thành Bārāṇasī nhận được một đứa bé trai trong bụng cá.” Họ liền đi đến nơi đó. Khi ấy, mẹ ruột của đứa bé, sau khi nhìn thấy đứa bé đã được trang điểm và đang được cho vui chơi, hỏi rằng: “Đứa bé này thật đáng mến,” rồi thuật lại câu chuyện đó. – Người phụ nữ kia (mẹ nuôi) nói rằng: “Đứa bé này là con trai của tôi.” – Mẹ ruột: “Bà có được đứa con từ đâu?” – Mẹ nuôi: “Từ bụng cá.” – Mẹ ruột: “Vậy nó không phải là con của bà, mà là con của tôi.” – Mẹ nuôi: “Bà có được nó từ đâu?” – Mẹ ruột: “Tôi mang thai đến mười tháng; lần đó đứa bé đang chơi giỡn ở dưới sông, thì một con cá đã nuốt lấy.” – Mẹ nuôi: “Con của bà có lẽ đã bị con cá khác nuốt đi; còn đứa bé này là tôi có được từ bụng cá.” Thế là cả hai đã đi Hoàng cung. Đức Vua đã phân xử rằng– “Người phụ nữ này (nếu) nói không phải mẹ thì cũng không được bởi vì (bà) đã mang thai đến mười tháng; còn những người đánh cá dầu bắt được cá, nhưng chỉ gọi là bắt được bên ngoài mà thôi, chứ gan thận, v.v, bên trong là không có; còn về phần người phụ nữ này (nếu) nói rằng không phải mẹ cũng không đúng bởi vì (bà) có được đứa bé trong bụng cá. Chính vì vậy, đứa bé này hãy là người thừa tự của cả hai gia đình, cả hai hãy nuôi dưỡng nó” Thế là cả hai đã cũng nuôi dưỡng nó.
Viññutaṃ pattassa dvīsupi nagaresu pāsādaṃ kāretvā nāṭakāni paccupaṭṭhāpesuṃ. Ekekasmiṃ nagare cattāro cattāro māse vasati, ekasmiṃ nagare cattāro māse vuṭṭhassa saṅghāṭanāvāya maṇḍapaṃ kāretvā tattha naṃ saddhiṃ nāṭakāhi āropenti. So sampattiṃ anubhavamāno itaraṃ nagaraṃ gacchati. Taṃnagaravāsino nāṭakāni upaḍḍhamaggaṃ agamaṃsu. Te paccuggantvā taṃ parivāretvā attano pāsādaṃ nayanti. Itarāni nāṭakāni nivattitvā attano nagarameva gacchanti. Tattha cattāro māse vasitvā teneva niyāmena puna itaraṃ nagaraṃ gacchati. Evamassa sampattiṃ anubhavantassa asīti vassāni paripuṇṇāni.
Từ khi cậu đạt được hiểu biết, hai bên gia đình đã xây dựng ba tòa lâu đài ở hai thành phố, đồng thời sắp xếp các vũ công phục vụ cho cậu. Cậu sống mỗi bốn tháng ở mỗi một thành phố. Khi ở đủ bốn thắng ở mỗi một thành phố họ đã kiến lập một mái đình trên chiếc thuyền hai thân song song rồi cho cậu cùng các vũ công bước xuống đó. Cậu ấy, trong khi tận hưởng sự thành tựu (trên chiếc thuyền hai thân song song) thì di chuyển đến thành phố còn lại (từ thành phố này) trong bốn tháng. Các vũ công sống tại thành phố đó đã đi ra nghênh đón cậu với suy nghĩ rằng: “Cậu sẽ đến nửa chặng đường trong hai tháng,” sau đó tháp tùng rồi đưa cậu đến thành phố của mình thêm hai tháng nữa, còn các vũ công còn lại thì trở về thành phố của mình. Sau khi sống bốn tháng ở tại đó, cậu lại đi đến phố kia theo chính cách thức đã trình bày. Cậu đã tận hưởng sự thành tựu như vậy tròn đủ tám mươi năm.
Atha Bhagavā cārikaṃ caramāno Bārāṇasiṃ patto. So Bhagavato santike dhammaṃ sutvā paṭiladdhasaddho pabbajito. Pabbajitvā sattāhameva puthujjano ahosi, aṭṭhame pana so[9] saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇīti gevamassa dve kulāni ahesuṃ. Tasmā bākuloti saṅkhaṃ agamāsīti.
Bấy giờ Thế Tôn trong khi du hành đến Bārāṇasī. Cậu nghe pháp nơi Thế Tôn, sanh lòng tin và xuất gia. Sau khi xuất gia, chỉ bảy ngày vẫn còn là phàm phu; đến ngày thứ tám, cậu chứng A-la-hán cùng với các tuệ phân tích. Vì có hai gia tộc (cùng là quyến thuộc) nên ngài được gọi là Bākula hay Bakkula.
Purāṇagihisahāyoti pubbe gihikāle sahāyo. Ayampi dīghāyukova theraṃ pabbajitaṃ passituṃ gacchanto asītime vasse gato. Methuno dhammoti bālo naggasamaṇako bālapucchaṃ pucchati, na sāsanavacanaṃ, idāni therena dinnanaye ṭhito imehi pana teti pucchi.
Một người bạn trước kia của Tôn giả Bākula khi còn là cư sĩ: Là người bạn cũ khi còn là cư sĩ. Vị này cũng là người sống thọ; được biết, sau tám mươi năm (kể từ khi Trưởng lão xuất gia), ông mới đến thăm ngài. Pháp hành dâm: Kẻ ngu, một sa-môn lõa thể non dại, hỏi câu hỏi ngu dại, không phải lời lẽ thuộc Chánh pháp. Nay đứng trên phương pháp do Trưởng lão đã nêu, y mới hỏi rằng: “Trong tám mươi năm ấy, Hiền giả đã bao nhiêu lần thực hành chuyện dâm dục?”
210. Yaṃpāyasmātiādīni padāni sabbavāresu Dhammasaṅgāhakattherehi niyametvā ṭhapitāni. Tattha saññā uppannamattāva, vitakko kammapathabhedakoti. thero panāha — “kasmā visuṃ karotha, ubhayampetaṃ kammapathabhedakamevā”ti.
210. Các vị trưởng lão Dhamma-saṅgāhaka xác định các câu như sau: ‘điều mà Hiền giả’ đã đặt ở tất cả các câu, Ở đó, “chỉ vừa khi tưởng khởi lên” và “tầm là phá vỡ nghiệp đạo”. Nhưng Trưởng lão nói: “Vì sao các ngài tách riêng ra? Cả hai điều ấy đều là phá vỡ nghiệp đạo.”
211. Gahapaticīvaranti vassāvāsikaṃ cīvaraṃ. Satthenāti pipphalakena[10]. Sūciyāti sūciṃ gahetvā sibbitabhāvaṃ na sarāmīti attho. Kathine cīvaranti kathinacīvaraṃ, kathinacīvarampi hi vassāvāsikagatikameva. Tasmā tattha “sibbitā nābhijānāmī”ti āha.
211. Y của người gia chủ: y phục của vị Tỳ khưu an cư mùa mưa. Con dao: bao gồm cây kéo. Cây kim: có nghĩa là tôi không nhớ đến điều y phục cần phải may với cây kim. “Y kathina” (kathine cīvara) là y kathina; mà y kathina cũng thuộc cùng một phạm trù “Y của người gia chủ”. Do vậy, ở chỗ ấy Ngài nói: “Tôi không tự nhớ có y đã được khâu.”
Ettakaṃ panassa kālaṃ gahapaticīvaraṃ asādiyantassa chindanasibbanādīni akarontassa kuto cīvaraṃ uppajjatīti. Dvīhi nagarehi. Thero hi mahāyasassī, tassa puttadhītaro nattapanattakā sukhumasāṭakehi cīvarāni kāretvā rajāpetvā samugge pakkhipitvā pahiṇanti. Therassa nhānakāle nhānakoṭṭhake ṭhapenti. Thero tāni nivāseti ceva pārupati ca, purāṇacīvarāni sampattapabbajitānaṃ deti. Thero tāni nivāsetvā ca pārupitvā ca navakammaṃ na karoti, kiñci āyūhanakammaṃ natthi. Phalasamāpattiṃ appetvā appetvā nisīdati. Catūsu māsesu pattesu lomakiliṭṭhāni honti, athassa puna teneva niyāmena pahiṇitvā denti. aḍḍhamāse aḍḍhamāse parivattatītipi vadantiyeva.
Vả lại, đối với vị ấy: đã bấy lâu không thọ nhận y của gia chủ, không làm các việc như cắt, may v.v., vậy y từ đâu mà có? Từ hai đô thị. Vì Trưởng lão rất danh vọng; các con trai, con gái, cháu chắt của Ngài cho người làm y bằng loại sāṭaka mịn, nhuộm xong, bỏ vào tráp hương rồi gửi cúng. Đến lúc Trưởng lão tắm, họ đặt (y) ở phòng tắm; Trưởng lão mặc hạ y và đắp thượng y ấy, còn các y cũ thì cho những vị mới xuất gia gặp duyên đi ngang. Trưởng lão, sau khi mặc và đắp, không làm “việc mới” nào cả; không có bất kỳ việc tích lũy (công việc chuẩn bị) nào. Ngài ngồi, nhiều lần an trú vào quả định. Sau bốn tháng, lông tóc trở nên dơ bẩn; rồi họ lại gửi cúng theo đúng cách ấy. Có vị thì nói rằng: Ngài thay y nửa tháng một lần.
Anacchariyañcetaṃ therassa mahāpuññassa mahābhiññassa[11] satasahassakappe pūritapāramissa, Asokadhammarañño kulūpako Nigrodhatthero divasassa nikkhattuṃ cīvaraṃ parivattesi. Tassa hi ticīvaraṃ hatthikkhandhe ṭhapetvā pañcahi ca gandhasamuggasatehi pañcahi ca mālāsamuggasatehi saddhiṃ pātova āhariyittha, tathā divā ceva sāyañca. Rājā kira divasassa nikkhattuṃ sāṭake parivattento “therassa cīvaraṃ nītan”ti pucchitvā “āma nītan”ti sutvāva parivattesi. Theropi na bhaṇḍikaṃ bandhitvā ṭhapesi, sampattasabrahmacārīnaṃ adāsi. Tadā kira jambudīpe bhikkhusaṅghassa yebhuyyena nigrodhasseva santakaṃ cīvaraṃ ahosi.
Điều này chẳng có gì lạ đối với một Trưởng lão đại phước, đại thần thông, đã viên mãn ba-la-mật suốt một trăm ngàn kiếp. Trưởng lão Nigrodha, vị thân cận tại cung vua Asoka (Asokadhamma), mỗi ngày thay y nhiều lần. Tam y của Ngài được đặt trên lưng voi, mỗi sáng đem đến cùng với năm trăm tráp hương và năm trăm tráp hoa; tương tự cả buổi trưa và buổi chiều. Vua, mỗi khi thay sāṭaka nhiều lần trong ngày, thường hỏi: “Y của Trưởng lão đã được mang đến chưa?” Khi nghe đáp: “Tâu bệ hạ, đã mang đến rồi”, liền thay. Còn Trưởng lão thì không buộc thành bó để cất giữ; Ngài trao ngay cho các bậc đồng phạm hạnh gặp duyên. Tương truyền thuở ấy, y phục của Tăng chúng khắp Jambudīpa phần nhiều là do Trưởng lão Nigrodha cúng dường.
Aho vata maṃ koci nimanteyyāti kiṃ pana cittassa anuppādanaṃ bhāriyaṃ, uppannassa pahānanti. Cittaṃ nāma lahukaparivattaṃ, tasmā anuppādanaṃ bhāriyaṃ, uppannassa pahānampi[12] bhāriyameva. Antaraghareti Mahāsakuludāyisutte (ma. ni. 2.237) indakhīlato paṭṭhāya antaragharaṃ nāma idha nimbodakapatanaṭṭhānaṃ adhippetaṃ. Kuto panassa bhikkhā uppajjitthāti. Thero dvīsu nagaresu abhiññāto, gehadvāraṃ āgatassevassa pattaṃ gahetvā nānārasabhojanassa pūretvā denti. So laddhaṭṭhānato nivattati, bhattakiccakaraṇaṭṭhānaṃ panassa nibaddhameva ahosi. Anubyañjanasoti therena kira rūpe nimittaṃ gahetvā mātugāmo na olokitapubbo. Mātugāmassa dhammanti mātugāmassa chappañcavācāhi dhammaṃ desetuṃ vaṭṭati, pañhaṃ puṭṭhena gāthāsahassampi vattuṃ vaṭṭatiyeva. Thero pana kappiyameva na akāsi. Yebhuyyena hi kulūpakatherānametaṃ kammaṃ hoti. Bhikkhunupassayanti bhikkhuniupassayaṃ. Taṃ pana gilānapucchakena gantuṃ vaṭṭati, thero pana kappiyameva na akāsi. esa nayo sabbattha. Cuṇṇenāti kosambacuṇṇādinā. gattaparikammeti sarīrasambāhanakamme. Vicāritāti payojayitā. Gaddūhanamattanti gāviṃ thane gahetvā ekaṃ khīrabinduṃ dūhanakālamattampi.
Mong rằng có người thỉnh mời tôi: Vậy thì, điều nặng nề là không cho tâm khởi lên, hay là đoạn trừ cái đã khởi? Tâm vốn chuyển biến rất nhanh; bởi vậy, ngăn không cho khởi là việc nặng, mà đoạn trừ cái đã khởi cũng là việc nặng. Trong nhà: trong bài Kinh Mahāsakuludāyi (ma. ni. 2.237) tính từ cột cửa trở vào gọi là “trong nhà”; ở đây, ý chỉ chỗ nước từ mái hiên nhỏ xuống (mé hiên). “Thế thì vật thực đến với Ngài từ đâu?” Trưởng lão nổi danh ở hai đô thị; hễ Ngài đến cửa nhà, người ta liền đón bát, đựng đầy những món ăn đủ vị rồi dâng. Ngài nhận xong thì trở về nơi thường thọ thực; chỗ làm phận sự thọ thực của Ngài vốn cố định như vậy. Thuộc về chi tiết: nghe rằng Trưởng lão, khi thấy sắc, không từng nắm tướng nơi sắc để nhìn nữ nhân. “Pháp thuộc về nữ nhân”: được phép thuyết pháp cho nữ nhân bằng bốn, năm câu; nếu bị hỏi pháp, nói đến cả ngàn kệ cũng vẫn được. Nhưng Trưởng lão đã không làm cả phần “hợp pháp” ấy. Phần lớn, đó là công việc của các Trưởng lão thường lui tới các gia đình. Đến trú xứ của Tỳ khưu ni: được phép đến đó khi có việc thăm bệnh; nhưng Trưởng lão cũng không làm ngay cả điều hợp lệ ấy. Cách hiểu này được áp dụng đồng nhất cho mọi trường hợp tương tự. Với bột Cuṇṇa: bột của hoa của cây hồng hoa v.v. việc xoa bóp tay chân: việc xoa bóp cơ thể. Hoan hỷ: gắn kết. Phút chốc vắt sữa bò: tức như nắm lấy vú bò mà vắt chỉ một giọt sữa, chỉ trong chốc lát.
Kena pana kāraṇena thero nirābādho ahosi. Padumuttare kira Bhagavati satasahassabhikkhuparivāre cārikaṃ caramāne himavati visarukkhā pupphiṃsu. bhikkhusatasahassānampi tiṇapupphakarogo uppajjati. Thero tasmiṃ samaye iddhimā tāpaso hoti, so ākāsena gacchanto bhikkhusaṅghaṃ disvā otaritvā rogaṃ pucchitvā Himavantato osadhaṃ āharitvā adāsi. Upasiṅghanamatteneva rogo vūpasami. Kassapasammāsambuddhakālepi paṭhamavappadivase vappaṃ ṭhapetvā bhikkhusaṅghassa paribhogaṃ aggisālañceva vaccakuṭiñca kāretvā bhikkhusaṅghassa bhesajjavattaṃ nibandhi[13], iminā kammena nirābādho ahosi. Ukkaṭṭhanesajjiko panesa ukkaṭṭhāraññako ca tasmā “nābhijānāmi apassenakaṃ apassayitā”tiādimāha.
“Do nhân gì mà Trưởng lão vô bệnh?” Được biết, thời Đức Phật Padumuttara cùng đoàn một trăm ngàn Tỳ-kheo du hành nơi Hi-mavanta, các cây “vi-sa” trổ hoa; chứng bệnh do phấn cỏ-hoa phát sinh cho cả trăm ngàn vị. Khi ấy, Ngài (về sau là Trưởng lão) là một ẩn sĩ có thần thông; đang đi trên hư không, thấy Tăng chúng liền xuống hỏi bệnh, rồi mang thuốc từ Hi-mavanta về dâng. Chỉ cần ngửi qua là bệnh lắng dịu. Đến thời Đức Phật Kassapa, vào ngày đầu gieo mạ, Ngài tạm gác việc gieo, cho xây nhà bếp và phòng vệ sinh để Tăng thọ dụng, và thiết lập việc thuốc men cho Tăng một cách thường xuyên; nhờ công đức ấy, Ngài được vô bệnh. Lại nữa, vì Ngài theo hạnh Thường tọa bậc thượng và hạnh Ở rừng bậc thượng, nên mới nói phần mở đầu: “Ta không nhớ đã nương vào tấm dựa lưng hay nệm dựa.”
Saraṇoti sakileso. Aññā udapādīti anupasampannassa aññaṃ byākātuṃ na vaṭṭati. Thero kasmā byākāsi? Na thero ahaṃ arahāti āha, aññā udapādīti panāha. Apica thero arahāti pākaṭo, tasmā evamāha.
Người có phiền não: vẫn còn phiền não. “Chánh trí khởi lên” (aññā udapādi): người chưa thọ Cụ túc (anupasampanna) thì không được tuyên bố (quả chứng) cho kẻ ấy. Vì sao Trưởng lão lại tuyên bố? Ngài không nói: “Ta là A-la-hán”, mà chỉ nói: “Aññā đã khởi lên.” Hơn nữa, Trưởng lão vốn hiển nhiên là A-la-hán, nên Ngài nói như vậy.
212. Pabbajjanti thero sayaṃ neva pabbājesi, na upasampādesi aññehi pana bhikkhūhi evaṃ kārāpesi. Avāpuraṇaṃ ādāyāti kuñcikaṃ gahetvā.
212. Được xuất gia: trưởng lão không tự mình cho du sĩ Celakassapa xuất gia và tu lên bậc trên, nhưng ngài để nhóm Tỳ khưu khác xuất gia cho vị ấy. Cầm lấy chìa khóa: Cầm lấy chìa khóa.
Nisinnakova parinibbāyīti ahaṃ dharamānopi na aññassa bhikkhussa bhāro ahosiṃ, parinibbutassāpi me sarīraṃ bhikkhusaṅghassa palibodho mā ahosīti tejodhātuṃ samāpajjitvā parinibbāyi. sarīrato jālā uṭṭhahi, chavimaṃsalohitaṃ sappi viya jhāyamānaṃ parikkhayaṃ gataṃ, sumanamakulasadisā dhātuyova avasesiṃsu. Sesaṃ sabbattha pākaṭameva. Idaṃ pana suttaṃ dutiyasaṅgahe saṅgītanti.
Ngài viên tịch trong tư thế đang ngồi. Ngài nghĩ: “Khi còn sống, ta cũng không là gánh nặng cho bất kỳ Tỳ-kheo nào; khi viên tịch, mong thân này cũng chớ trở thành chướng ngại cho Tăng chúng.” Rồi Ngài nhập định hỏa đại và viên tịch. Từ thân Ngài, các ngọn lửa bốc lên; da, thịt, máu bị thiêu cháy như mỡ tan, hoại tận; chỉ còn lại các xá-lợi, giống như những đóa hoa lài Sumanā của loài Makula. Phần còn lại ở mọi chỗ đều đã rõ. Bài kinh này được tụng trong lần Kết tập thứ hai.
Giải Thích Kinh Bākula Kết Thúc