Translations [28]
English
- Bhikkhu Bodhi (2009)
- Bhikkhu Sujato
- Bhikkhuni Upalavanna
- Suddhāso Bhikkhu (2018)
繁體字
- 莊春江
日本語
- 関西パーリ語実習会 (2023)
Français
- Christian Maës
- Claude Le Ninan, Chandhana Le Ninan (2023)
- Môhan Wijayaratna (2010)
Deutsch
- Mettiko Bhikkhu (2001)
- Sabbamitta (2019)
Italiano
- De Lorenzo, Pier Antonio Morniroli, Enrico Federici (2007)
- Giovanni Zappa (2025)
Español
- Anton P. Baron
Português
- Michael Beisert (2013)
Русский
- SV theravada.ru (2023)
Norsk
- Kåre A. Lie (2013)
Magyar
- Vekerdi József (2014)
Srpski
- Branislav Kovačević (2014)
Slovenščina
- Bojan Božič (2023)
हिंदी
- Rahul Sankrityayan
বাংলা
- বিনয়েন্দ্রনাথ চৌধুরী
Việt Ngữ
- Thích Minh Châu
Bahasa Indonesia
- Indra Anggara
සිංහල
- A.P. de Zoysa
ပြန်သွားရန်
- Pitaka Myanmar Translation
ภาษาไทย
- Siam Rath
पाळिभासा (Pāli)
- Mahāsaṅgīti Tipiṭaka
Reference
- Sutta Central
Commentaries [3]
English
Việt Ngữ
342. Evaṃ me sutanti dhātuvibhaṅgasuttaṃ. Tattha cārikanti turitagamanacārikaṃ. Sace te Bhaggava agarūti sace tuyhaṃ bhāriyaṃ aphāsukaṃ kiñci natthi. Sace so anujānātīti bhaggavassa kira etadahosi — “pabbajitā nāma nānāajjhāsayā, eko gaṇābhirato hoti, eko ekābhirato. sace so ekābhirato bhavissati, ‘āvuso, mā pāvisi, mayā sālā laddhā’ti vakkhati. Sace ayaṃ ekābhirato bhavissati, ‘āvuso, nikkhama, mayā sālā laddhā’ti vakkhati. Evaṃ sante ahaṃ ubhinnaṃ vivādakāretā nāma bhavissāmi, dinnaṃ nāma dinnameva vaṭṭati, kataṃ katamevā”ti. tasmā evamāha.
342. Kinh Giới Phân Biệt được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, đi du hành: du hành một cách nhanh chóng. Này Bhaggava, nếu không gì phiền phức cho ông: nghĩa là nếu không có gì nặng nề (bhāriya) hay bất tiện (aphāsuka) cho ông. Nếu vị ấy cho phép: Nghe nói vị thợ gốm Bhaggava đã nghĩ như vầy: “Các bậc xuất gia vốn có khuynh hướng (ajjhāsaya) khác nhau, vị thì ưa thích hội chúng, vị thì ưa thích độc cư. Nếu vị [đang ở trong] là người ưa thích độc cư, vị ấy sẽ nói: ‘Này hiền giả, chớ vào, tôi đã nhận được nhà này rồi’. Nếu vị [mới đến] này là người ưa thích độc cư, vị ấy sẽ nói: ‘Này hiền giả, hãy ra ngoài, tôi đã nhận được trú xá này rồi’. Nếu sự việc xảy ra như vậy, ta sẽ trở thành người gây ra tranh cãi giữa cả hai; trong khi cái gì đã cho thì đúng là đã cho, cái gì đã làm thì đúng là đã làm”. Vì thế, ông ấy mới nói như vậy.
Kulaputtoti jātikulaputtopi ācārakulaputtopi. Vāsūpagatoti vāsaṃ upagato. Kuto āgantvāti? Takkasīlanagarato.
Thiện nam tử: thiện nam tử do sanh chủng, thiện nam tử do hạnh kiểm. Đi vào nghỉ ngơi: đã đi đến ở rồi. Thiện nam tử ấy đến từ đâu? Đến từ thành phố Takkasīla.
Tatrāyaṃ anupubbikathā — Majjhimappadese kira Rājagahanagare Bimbisāre rajjaṃ kārente paccante Takkasīlanagare Pukkusāti rājā rajjaṃ kāresi. Atha Takkasīlato bhaṇḍaṃ gahetvā vāṇijā Rājagahaṃ āgatā paṇṇākāraṃ gahetvā rājānaṃ addasaṃsu. rājā te vanditvā ṭhite “katthavāsino tumhe”ti pucchi. Takkasīlavāsino devāti. Atha ne rājā janapadassa khemasubhikkhatādīni nagarassa ca pavattiṃ pucchitvā “ko nāma tumhākaṃ rājā”ti pucchi. Pukkusāti nāma devāti. Dhammikoti? Āma deva dhammiko. Catūhi saṅgahavatthūhi janaṃ saṅgaṇhāti, lokassa mātāpitiṭṭhāne ṭhito, aṅge nipannadārakaṃ viya janaṃ tosetīti. Katarasmiṃ vaye vattatīti? athassa vayaṃ ācikkhiṃsu. Vayesupi Bimbisārena samavayo jāto. Atha te rājā āha — “tātā tumhākaṃ rājā dhammiko, vayena ca me samāno, sakkuṇeyyātha tumhākaṃ rājānaṃ mama mittaṃ kātun”ti. Sakkoma devāti. Rājā tesaṃ suṅkaṃ vissajjetvā gehañca dāpetvā — “gacchatha bhaṇḍaṃ vikkiṇitvā gamanakāle maṃ disvā gaccheyyāthā”ti āha. Te tathā katvā gamanakāle rājānaṃ addasaṃsu. “Gacchatha tumhākaṃ rājānaṃ mama vacanena punappunaṃ ārogyaṃ pucchitvā ‘rājā tumhehi saddhiṃ mittabhāvaṃ icchatī’ti vadathā”ti āha.
Đây là thứ tự câu chuyện: Tương truyền rằng, vào thời vua Bimbisāra đang trị vì tại thành Rājagaha thuộc vùng Trung Xứ (Majjhimappadesa), thì tại thành Takkasīla thuộc vùng Biên Địa (Paccanta), vua Pukkusāti cũng đang trị vì. Khi ấy, có những thương buôn mang theo hàng hóa từ Takkasīla đến Rājagaha, họ mang theo lễ vật đến yết kiến đức vua. Sau khi họ đảnh lễ và đứng sang một bên, đức vua hỏi: “Các khanh cư ngụ ở đâu?”. “Tâu Đại vương, chúng thần cư ngụ ở Takkasīla”.
Sau đó, đức vua hỏi thăm về sự an ổn, thái bình và sự sung túc về lương thực của xứ sở ấy, cũng như tình hình của thành phố, rồi hỏi rằng: “Đức vua của các khanh tên là gì?”. “Tâu Đại vương, tên là Pukkusāti”. “Vị ấy có trị vì đúng Pháp (Dhammika) không?”. “Tâu Đại vương, vị ấy rất đúng Pháp. Ngài nhiếp phục nhân tâm bằng Bốn Nhiếp Pháp (Saṅgahavatthu), ngài đứng ở vị trí như cha mẹ của thế gian, khiến thần dân hân hoan tựa như đứa trẻ đang nằm trong lòng mẹ”.
“Vị ấy đang ở độ tuổi nào?”. Sau đó, họ thưa về số tuổi của vị vua ấy. Hóa ra vua Pukkusāti có cùng độ tuổi với vua Bimbisāra. Đức vua bèn phán rằng: “Này các khanh, đức vua của các khanh là người trị vì đúng Pháp, lại bằng tuổi với ta. các khanh có thể giúp đức vua của các khanh trở thành bạn của ta chăng?”. “Tâu Đại vương, chúng thần có thể”. Đức vua bèn miễn thuế cho họ, ban cho nơi ở và bảo rằng: “Hãy đi bán hết hàng hóa đi, khi nào sắp trở về hãy đến gặp ta rồi hãy đi”. Họ làm theo như vậy, và đến lúc khởi hành đã đến yết kiến đức vua. Ngài phán: “Các khanh hãy về vấn an sức khỏe đức vua của các khanh thay lời ta, và hãy thưa rằng: ‘Đức vua [Bimbisāra] mong muốn được kết tình bằng hữu với ngài’”.
Te sādhūti paṭissuṇitvā gantvā bhaṇḍaṃ paṭisāmetvā bhuttapātarāsā rājānaṃ upasaṅkamitvā vandiṃsu. Rājā “kahaṃ bhaṇe tumhe ettake ime divase na dissathā”ti pucchi. Te sabbaṃ pavattiṃ ārocesuṃ. Rājā — “sādhu, tātā, tumhe nissāya mayā majjhimappadese rājā mitto laddho”ti attamano ahosi. Aparabhāge Rājagahavāsinopi vāṇijā Takkasīlaṃ agamaṃsu. te paṇṇākāraṃ gahetvā āgate Pukkusāti rājā “kuto āgatatthā”ti pucchitvā “Rājagahato”ti sutvā “mayhaṃ sahāyassa nagarato āgatā tumhe”ti. Āma devāti. Ārogyaṃ me sahāyassāti ārogyaṃ pucchitvā “ajja paṭṭhāya ye mayhaṃ sahāyassa nagarato jaṅghasatthena vā sakaṭasatthena vā vāṇijā āgacchanti, sabbesaṃ mama visayaṃ paviṭṭhakālato paṭṭhāya vasanagehāni, rājakoṭṭhāgārato nivāpañca dentu, suṅkaṃ vissajjentu, kiñci upaddavaṃ mā karontū”ti bheriṃ carāpesi. Bimbisāropi attano nagare tatheva bheriṃ carāpesi.
Những người thương buôn ấy đã tiếp nhận chỉ dụ của đức vua, đã đi thu gom hàng hóa, sau khi dùng điểm tâm sáng, đã đi đến yết kiến đức vua.
Đức vua hỏi: “Này các khanh, bao nhiêu ngày nay các khanh đi đâu mà trẫm không thấy?”. Họ liền tâu trình mọi sự việc. Đức vua vô cùng hoan hỷ: “Lành thay, các khanh ạ! Nhờ các khanh mà ta đã kết giao được với đức vua ở Trung Xứ (Majjhimappadesa)”.
Về sau, những thương buôn từ Rājagaha cũng đi đến Takkasīla. Khi họ mang lễ vật đến yết kiến, vua Pukkusāti hỏi: “Các khanh từ đâu đến?”. Nghe đáp là “Từ Rājagaha”, Ngài nói: “Vậy là các khanh đến từ thành phố của bạn ta”. “Tâu vâng, đại vương”. Đức vua liền hỏi thăm sức khỏe của bạn mình, rồi cho đánh trống ban lệnh truyền khắp nơi rằng: “Kể từ hôm nay, bất kể thương buôn nào đến từ thành phố của bạn ta, dù là đoàn lữ hành đi bộ (jaṅghasattha) hay đoàn lữ hành bằng xe (sakaṭasattha), ngay khi họ vừa bước vào địa giới của ta, hãy cấp nhà ở và khẩu phần lương thực từ kho lẫm hoàng gia, hãy miễn thuế và chớ gây ra bất kỳ điều gì phiền nhiễu cho họ”. Vua Bimbisāra cũng cho đánh trống ban lệnh tương tự như vậy tại thành phố của mình.
Atha Bimbisāro Pukkusātissa paṇṇaṃ pahiṇi — “paccantadese nāma maṇimuttādīni ratanāni uppajjanti, yaṃ mayhaṃ sahāyassa rajje dassanīyaṃ vā savanīyaṃ vā ratanaṃ uppajjati, tattha me mā maccharāyatū”ti. Pukkusātipi — “majjhimadeso nāma mahājanapado, yaṃ tattha evarūpaṃ ratanaṃ uppajjati, tattha me sahāyo mā maccharāyatū”ti paṭipaṇṇaṃ pahiṇi. Evaṃ te gacchante gacchante kāle aññamaññaṃ adisvāpi daḷhamittā ahesuṃ.
Sau đó, vua Bimbisāra gửi một bức thư đến vua Pukkusāti với nội dung: “Tại vùng biên địa thường sản sinh các loại trân bảo như ngọc ma-ni, ngọc trai… Nếu có loại trân bảo nào đáng xem, đáng nghe phát sanh trong vương quốc của bạn ta, xin bạn đừng hẹp hòi (maccharāyati) về những thứ ấy với ta”. Vua Pukkusāti cũng gửi thư đáp lễ rằng: “Vùng Trung Xứ là một đại quốc, nếu có loại trân bảo tương tự như thế phát sanh tại đó, xin bạn ta cũng chớ hẹp hòi với ta”. Cứ như vậy, thời gian trôi qua, dù chưa từng gặp mặt nhau, họ đã trở thành những người bạn tâm giao bền chặt.
Evaṃ tesaṃ katikaṃ katvā vasantānaṃ paṭhamataraṃ Pukkusātissa paṇṇākāro uppajji. Rājā kira aṭṭha pañcavaṇṇe anagghakambale labhi. So — “atisundarā ime kambalā, ahaṃ sahāyassa pesissāmī”ti lākhāguḷamatte aṭṭha sārakaraṇḍake likhāpetvā tesu te kambale pakkhipitvā lākhāya vaṭṭāpetvā setavatthena veṭhetvā samugge pakkhipitvā vatthena veṭhetvā rājamuddikāya lañchetvā “mayhaṃ sahāyassa dethā”ti amacce pesesi. Sāsanañca adāsi — “ayaṃ paṇṇākāro nagaramajjhe amaccādiparivutena daṭṭhabbo”ti. Te gantvā Bimbisārassa adaṃsu.
Sau khi đã lập giao ước và duy trì tình bang giao như vậy, lễ vật từ vua Pukkusāti đã được gửi đến trước. Tương truyền, đức vua nhận được tám tấm chăn len (kambala) năm màu vô giá. Ngài nghĩ rằng: “Những tấm chăn này cực kỳ tuyệt mỹ, ta sẽ gửi tặng chúng cho bạn ta”.
Ngài bèn truyền làm tám chiếc hộp bằng gỗ lõi (sārakaraṇḍaka) kích cỡ bằng khối nhựa cánh kiến (lākhāguḷa). Ngài đặt những tấm chăn len vào trong đó, dùng nhựa cánh kiến bọc tròn bên ngoài, quấn lại bằng vải trắng, rồi đặt vào trong rương lớn (samugga). Sau đó, ngài lại quấn vải bên ngoài rương, đóng ấn triện hoàng gia rồi giao cho các đại thần và dặn rằng: “Hãy dâng quà này cho bạn ta”. Ngài còn gửi kèm thông điệp: “Lễ vật này nên được đức vua đích thân xem xét giữa thành phố, với sự hiện diện của các đại thần”. Các vị sứ thần đi đến và dâng lễ vật lên vua Bimbisāra.
So sāsanaṃ sutvā amaccādayo sannipatantūti bheriṃ carāpetvā nagaramajjhe amaccādiparivuto setacchattena dhāriyamānena pallaṅkavare nisinno lañchanaṃ bhinditvā vatthaṃ apanetvā samuggaṃ vivaritvā anto bhaṇḍikaṃ muñcitvā lākhāguḷe disvā “mayhaṃ sahāyo Pukkusāti ‘jutavittako[1] me sahāyo’ti maññamāno maññe imaṃ paṇṇākāraṃ pahiṇī”ti ekaṃ guḷaṃ gahetvā hatthena vaṭṭetvā tulayantova anto dussabhaṇḍikaṃ atthīti aññāsi.
Sau khi nghe thông điệp, vua Bimbisāra cho đánh trống loan báo: “Các đại thần hãy tập hợp lại”. Tại trung tâm thành phố, giữa sự vây quanh của quần thần, đức vua ngự trên bảo tọa rực rỡ dưới lọng trắng che nghiêng. Ngài phá ấn triện, mở lớp vải bọc, mở rương lớn, cởi bỏ bọc hàng bên trong và nhìn thấy những khối nhựa cánh kiến.
Ngài thầm nghĩ: “Bạn ta – vua Pukkusāti – chắc hẳn nghĩ rằng: ‘Bạn ta là một kẻ thích đùa (jutavittako)’ nên mới gửi món quà [trông như món đồ chơi] này chăng?”. Nhưng khi ngài cầm một khối nhựa lên, xoay vần trong lòng bàn tay và ước lượng sức nặng, ngài nhận ra rằng bên trong chắc chắn có chứa vật phẩm bằng vải.
Atha naṃ pallaṅkapāde paharitvā tāvadeva lākhā paripati, so nakhena karaṇḍakaṃ vivaritvā anto kambalaratanaṃ disvā itarepi vivarāpesi, sabbepi kambalā ahesuṃ. Atha ne pattharāpesi, te vaṇṇasampannā phassasampannā dīghato soḷasahatthā tiriyaṃ aṭṭhahatthā ahesuṃ. Mahājano disvā aṅguliyo poṭhesi, celukkhepaṃ akāsi, — “amhākaṃ rañño adiṭṭhasahāyo Pukkusāti adisvāva evarūpaṃ paṇṇākāraṃ pesesi, yuttaṃ evarūpaṃ mittaṃ kātun”ti attamano ahosi. rājā ekamekaṃ kambalaṃ agghāpesi, sabbe anagghā ahesuṃ. tesu cattāro sammāsambuddhassa pesesi, cattāro attano ghare akāsi. Tato cintesi — “pacchā pesentena paṭhamaṃ pesitapaṇṇākārato atirekaṃ pesetuṃ vaṭṭati, sahāyena ca me anaggho paṇṇākāro pesito, kiṃ nu kho pesemī”ti?
Kế đó, ngài đập nhẹ khối nhựa ấy vào chân bảo tọa (pallaṅkapāde), ngay lập tức lớp nhựa bong ra. Ngài dùng móng tay mở hộp gỗ ra và nhìn thấy tấm chăn quý (kambalaratana) bên trong, rồi truyền lệnh mở tất cả các hộp còn lại; tất cả đều là chăn len. Ngài cho trải những tấm chăn ấy ra; chúng thật hoàn hảo về màu sắc, tuyệt hảo về độ mịn khi chạm vào, chiều dài mười sáu hắc tay, chiều rộng tám hắc tay.
Dân chúng nhìn thấy liền búng ngón tay (tán thưởng) và tung y phục lên (reo hò): “Đức vua Pukkusāti dù chưa từng gặp mặt, chưa từng quen biết đức vua của chúng ta, vậy mà đã gửi món quà như thế này; thật xứng đáng để kết tình bằng hữu với một người như vậy!”. Đức vua cho định giá từng tấm chăn, và tất cả đều là hàng vô giá. Trong số đó, ngài gửi cúng dường đến đức Thế Tôn bốn tấm, bốn tấm còn lại ngài giữ trong hoàng cung. Sau đó ngài suy nghĩ: “Theo lẽ thường, người gửi quà sau phải gửi món quà vượt trội hơn món quà đã nhận trước đó. Bạn ta đã gửi món quà vô giá, vậy ta nên gửi gì đây?”.
Kiṃ pana Rājagahe tato adhikaṃ ratanaṃ natthīti? no natthi, mahāpuñño rājā, apica kho panassa sotāpannakālato paṭṭhāya ṭhapetvā tīṇi ratanāni aññaṃ ratanaṃ somanassaṃ janetuṃ samatthaṃ nāma natthi. So ratanaṃ vicinituṃ āraddho — ratanaṃ nāma saviññāṇakaṃ aviññāṇakanti duvidhaṃ. Tattha aviññāṇakaṃ suvaṇṇarajatādi, saviññāṇakaṃ indriyabaddhaṃ. Aviññāṇakaṃ saviññāṇakasseva alaṅkārādivasena paribhogaṃ hoti, iti imesu dvīsu ratanesu saviññāṇakaṃ seṭṭhaṃ. Saviññāṇakampi duvidhaṃ tiracchānaratanaṃ manussaratananti. Tattha tiracchānaratanaṃ hatthiassaratanaṃ, tampi manussānaṃ upabhogatthameva nibbattati, iti imesupi dvīsu manussaratanaṃ seṭṭhaṃ. Manussaratanampi duvidhaṃ itthiratanaṃ purisaratananti. Tattha cakkavattino rañño uppannaṃ itthiratanampi purisasseva upabhogaṃ. Iti imesupi dvīsu purisaratanameva seṭṭhaṃ.
Phải chăng ở thành Rājagaha không có châu báu nào hơn thế? Không phải vậy, đức vua vốn là người đại phước đức; tuy nhiên, kể từ khi chứng đắc thánh quả Tu-đà-hoàn, ngoại trừ Tam Bảo (tīṇi ratanāni) ra, không có loại châu báu nào khác có khả năng làm khởi sinh hỷ lạc nơi ngài. Ngài bắt đầu phân loại để chọn lựa châu báu:
Châu báu có hai loại là Hữu thức (saviññāṇaka) và Vô thức (aviññāṇaka).
Châu báu vô thức là vàng, bạc…
Châu báu hữu thức là những chúng sinh có căn quyền (indriyabaddha).
Vì châu báu vô thức chỉ dùng làm đồ trang sức phục vụ cho châu báu hữu thức, nên trong hai loại này, châu báu hữu thức là tối thượng.
Châu báu hữu thức lại có hai loại: Bàng sanh báu (tiracchānaratana) và Nhân loại báu (manussaratana).
Bàng sanh báu là voi báu, ngựa báu; nhưng chúng cũng chỉ xuất hiện vì lợi ích sử dụng của con người. Do đó, nhân loại báu là tối thượng.
Nhân loại báu lại có hai loại: Nữ nhân báu (itthiratana) và Nam nhân báu (purisaratana).
Nữ nhân báu (như của vua Chuyển Luân) cũng chỉ để phục vụ cho nam nhân.
Vì vậy, trong tất cả, nam nhân báu là tối thượng.
Purisaratanampi duvidhaṃ agāriyaratanaṃ anagāriyaratanañca. Tattha agāriyaratanesupi cakkavattirājā[2] ajja pabbajitasāmaṇeraṃ pañcapatiṭṭhitena vandati, iti imesupi dvīsu anagāriyaratanameva seṭṭhaṃ. Anagāriyaratanampi duvidhaṃ sekkharatanañca asekkharatanañca. Tattha satasahassampi sekkhānaṃ asekkhassa padesaṃ na pāpuṇāti, iti imesupi dvīsu asekkharatanameva seṭṭhaṃ. Tampi duvidhaṃ buddharatanaṃ sāvakaratananti. Tattha satasahassampi sāvakaratanānaṃ buddharatanassa padesaṃ na pāpuṇāti, iti imesupi dvīsū buddharatanameva seṭṭhaṃ.
Nam nhân báu (Purisaratana) cũng có hai loại: Gia chủ báu (Agāriya-ratana) và Xuất gia báu (Anagāriya-ratana). Trong đó, ngay cả một vị vua Chuyển luân (bậc tối cao của hàng tại gia) cũng phải đảnh lễ bằng năm vóc sát đất (pañcapatiṭṭhitena)[3] trước một vị Sa-di vừa mới xuất gia ngay trong ngày hôm đó. Do vậy, trong hai loại này, Xuất gia báu là tối thượng.
Xuất gia báu lại có hai loại: Bậc Hữu học báu (Sekkha-ratana) và Bậc Vô học báu (Asekkha-ratana). Ở đây, dù có hàng trăm ngàn bậc Hữu học cũng không sánh bằng một phần của bậc Vô học (A-la-hán). Vì thế, trong hai loại này, bậc Vô học báu là tối thượng.
Buddharatanampi duvidhaṃ paccekabuddharatanaṃ sabbaññubuddharatananti. tattha satasahassampi paccekabuddhānaṃ sabbaññubuddhassa padesaṃ na pāpuṇāti, iti imesupi dvīsu sabbaññubuddharatanaṃyeva seṭṭhaṃ. Sadevakasmiñhi loke buddharatanasamaṃ ratanaṃ nāma natthi. Tasmā asadisameva ratanaṃ mayhaṃ sahāyassa Pesessāmīti cintetvā Takkasīlavāsino pucchi — “tātā tumhākaṃ janapade buddho dhammo saṅghoti imāni tīṇi ratanāni dissantī”ti[4]. Ghosopi so mahārāja tāva tattha natthi, dassanaṃ pana kutoti.
Bậc Vô học báu lại có hai loại: Phật báu (Buddha-ratana) và Thinh văn báu (Sāvaka-ratana). Ở đây, dù có hàng trăm ngàn vị Thinh văn (A-la-hán) cũng không sánh bằng một phần của Phật báu. Vì thế, trong hai loại này, Phật báu là tối thượng.
Phật báu cũng có hai loại: Phật Độc Giác báu (Paccekabuddha-ratana) và Phật Toàn Giác báu (Sabbaññubuddha-ratana). Ở đây, dù có hàng trăm ngàn đức Phật Độc Giác cũng không sánh bằng một phần của đức Phật Toàn Giác. Vì thế, trong hai loại này, Phật Toàn Giác báu là tối thượng.
Trong thế gian gồm cả chư Thiên này, không có loại trân bảo nào có thể sánh ngang với Phật báu.
Vì thế, đức vua [Bimbisāra] nghĩ rằng: “Ta sẽ gửi tặng một báu vật vô song cho bạn ta”. Ngài bèn hỏi những thương buôn từ Takkasīla: “Này các khanh, ở xứ sở của các khanh, có hiện hữu Tam bảo là Phật, Pháp, Tăng chăng?”. “Tâu Đại vương, ngay cả danh hiệu (ghoso) của Tam Bảo còn chưa được nghe đến ở đó, thì làm sao có thể nói đến việc nhìn thấy được?”.
“Sundaraṃ tātā”ti rājā tuṭṭho cintesi — “sakkā bhaveyya janasaṅgahatthāya mayhaṃ sahāyassa vasanaṭṭhānaṃ sammāsambuddhaṃ pesetuṃ, buddhā pana paccantimesu janapadesu na aruṇaṃ uṭṭhapenti. Tasmā satthārā gantuṃ na sakkā. Sāriputtamoggallānādayo mahāsāvake pesetuṃ sakkā bhaveyya[5]. Mayā pana ‘therā paccante vasantī’ti sutvāpi manusse pesetvā te attano samīpaṃ āṇāpetvā upaṭṭhātumeva yuttaṃ. Tasmā na therehipi sakkā gantuṃ. Yena panākārena sāsane pesite satthā ca mahāsāvakā ca gatā viya honti, tenākārena sāsanaṃ pahiṇissāmī”ti. Cintetvā caturatanāyāmaṃ vidatthimattaputhulaṃ nātitanuṃ nātibahalaṃ suvaṇṇapaṭṭaṃ kārāpetvā “tattha ajja akkharāni likhissāmī”ti. pātova sīsaṃ nhāyitvā uposathaṅgāni adhiṭṭhāya bhuttapātarāso apanītagandhamālābharaṇo suvaṇṇasarakena jātihiṅgulikaṃ ādāya heṭṭhato paṭṭhāya dvārāni pidahanto pāsādamāruyha pubbadisāmukhaṃ sīhapañjaraṃ vivaritvā ākāsatale nisīditvā suvaṇṇapaṭṭe akkharāni likhanto — “idha tathāgato loke uppanno arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā”ti. buddhaguṇe tāva ekadesena likhi.
Đức vua hoan hỷ bảo rằng: “Này các khanh, tốt lắm!”. Ngài thầm nghĩ: “Ta rất muốn cung thỉnh đức Chánh Đẳng Chánh Giác đến ngự tại nơi ở của bạn ta vì lợi ích của dân chúng ở đó. Tuy nhiên, chư Phật thường không đón ánh bình minh (aruṇaṃ uṭṭhapenti) tại vùng biên địa. Vì thế, bậc Đạo Sư không thể đi được. Ta cũng có thể thỉnh các vị đại Thinh văn như trưởng lão Sāriputta hay Moggallāna đi; nhưng nếu ta nghe nói rằng ‘các bậc trưởng lão đang sống ở vùng biên địa’, thì theo lẽ thường, ta nên sai người thỉnh các ngài về gần mình để tiện bề hộ độ. Do vậy, các vị trưởng lão cũng không nên đi. Ta sẽ gửi một bức thông điệp theo cách mà khi bức thông điệp ấy đến nơi, cũng giống như bậc Đạo Sư và các đại Thinh văn đã đích thân đến vậy”.
Nghĩ đoạn, ngài cho làm một tấm vàng (suvaṇṇapaṭṭa) dài bốn hắc tay, rộng một gang tay, độ dày vừa phải (không quá mỏng cũng không quá dày) và tự nhủ: “Hôm nay ta sẽ đích thân viết các văn tự lên đây”. Từ sáng sớm, ngài tắm gội sạch sẽ, phát nguyện thọ trì các chi phần của ngày trai giới (uposatha), dùng điểm tâm xong, ngài cởi bỏ các loại hương hoa và trang sức. Ngài dùng một cái bát vàng đựng chu sa nguyên chất (jātihiṅgulika), truyền lệnh đóng các cửa từ tầng dưới rồi đi lên lầu cao. Ngài mở cửa sổ sư tử (sīhapañjara) hướng về phía Đông, ngồi trên sàn cao rồi bắt đầu viết các văn tự lên tấm vàng.
Trước tiên, ngài viết một phần về ân đức Phật như sau: “Nay đức Như Lai đã xuất hiện ở thế gian, Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
Tato “evaṃ dasa pāramiyo pūretvā Tusitabhavanato cavitvā mātukucchimhi paṭisandhiṃ gaṇhi, evaṃ lokavivaraṇaṃ ahosi, mātukucchiyaṃ vasamāne idaṃ nāma ahosi, agāramajjhe vasamāne idaṃ nāma ahosi, evaṃ mahābhinikkhamanaṃ nikkhanto evaṃ mahāpadhānaṃ padahi, evaṃ dukkarakārikaṃ katvā mahābodhimaṇḍaṃ āruyha aparājitapallaṅke nisinno sabbaññutaññāṇaṃ paṭivijjhi, sabbaññutaññāṇaṃ paṭivijjhantassa evaṃ lokavivaraṇaṃ ahosi. Sadevake loke aññaṃ evarūpaṃ ratanaṃ natthīti.
Yaṃkiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā,
Saggesu vā yaṃ ratanaṃ paṇītaṃ.
Na no samaṃ atthi tathāgatena,
Idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ.
Etena saccena suvatthi hotū”ti.[6] —
Từ đó, viết rằng: “Đức Phật thực hành mười pháp ba-la-mật như vậy, tử ở cõi Tusita, tục sanh vào bụng mẹ, việc khai mở thế gian đã xảy ra như vậy. Khi ở trong bụng mẹ, Ngài có danh hiệu này; khi sống đời sống tại gia, Ngài có danh hiệu này; Ngài thực hiện cuộc xuất ly vĩ đại như vậy; Ngài bắt đầu tinh tấn vĩ đại như vậy; sau khi thực hành khổ hạnh như vậy, Ngài bước lên đạo tràng Đại Bồ-đề, ngồi trên kim cương tòa bất khả chiến bại, chứng đắc Nhất thiết trí. Khi chứng đắc Nhất thiết trí, việc khai mở thế gian đã xảy ra như vậy. Trong thế gian bao gồm chư thiên, không có châu báu nào khác giống như vậy.”
(Đức vua) đã viết toàn bộ ân đức của đức Phật theo từng phần (ekadesa) như sau:
“Bất cứ của cải nào ở đời này hay đời sau,
hoặc châu báu hảo hạng nào ở các cõi trời,
thật vậy, không có gì sánh bằng đức Như Lai.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở đức Phật;
do sự chân thật này, mong rằng có sự an lạc.”
Evaṃ ekadesena Buddhaguṇepi likhitvā dutiyaṃ dhammaratanaṃ thomento — “svākkhāto bhagavatā dhammo … pe … paccattaṃ veditabbo viññūhī”ti. “cattāro satipaṭṭhānā … pe … ariyo aṭṭhaṅgiko maggo”ti. “Satthārā desitadhammo nāma evarūpo ca evarūpo cā”ti sattatiṃsa bodhipakkhiye ekadesena likhitvā —
“yaṃ buddhaseṭṭho parivaṇṇayī suciṃ,
samādhimānantarikaññamāhu.
samādhinā tena samo na vijjati,
idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ.
etena saccena suvatthi hotū”ti.[7] —
Sau khi viết ân đức của đức Phật theo từng phần (ekadesa) như vậy, trong khi tán dương Pháp bảo thứ hai, (đức vua viết rằng): “Giáo Pháp do đức Thế Tôn khéo thuyết giảng …nt… mà bậc trí tự mình chứng nghiệm”; “Bốn niệm xứ …nt… Thánh đạo tám ngành”. “Pháp do bậc Đạo Sư thuyết giảng có hình thức như thế và như thế”. Sau khi viết ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần theo từng phần, (đức vua viết):
“Điều mà đức Phật tối thắng ca ngợi là trong sạch,
được gọi là định dẫn đến quả không gián đoạn,
không có pháp định nào sánh bằng định ấy.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở Giáo Pháp;
do sự chân thật này, mong rằng có sự an lạc.”
Evaṃ ekadesena dhammaguṇe likhitvā tatiyaṃ saṅgharatanaṃ thomento — “suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho … pe … puññakkhettaṃ lokassā”ti. “kulaputtā nāma satthu dhammakathaṃ sutvā evaṃ nikkhamitvā pabbajanti, keci setacchattaṃ pahāya pabbajanti, keci uparajjaṃ, keci senāpatiṭṭhānādīni pahāya pabbajanti. pabbajitvā ca pana imañca paṭipattiṃ pūrentī”ti cūḷasīlamajjhimasīlamahāsīlādīni ekadesena likhitvā chadvārasaṃvaraṃ satisampajaññaṃ catupaccayasantosaṃ navavidhaṃ senāsanaṃ, nīvaraṇappahānaṃ parikammaṃ jhānābhiññā aṭṭhatiṃsa kammaṭṭhānāni yāva āsavakkhayā ekadesena likhi, soḷasavidhaṃ ānāpānassatikammaṭṭhānaṃ vitthāreneva likhitvā “satthu sāvakasaṅgho nāma evarūpehi ca guṇehi samannāgato.
ye puggalā aṭṭhasataṃ pasaṭṭhā,
cattāri etāni yugāni honti.
te dakkhiṇeyyā sugatassa sāvakā,
etesu dinnāni mahapphalāni.
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ,
etena saccena suvatthi hotū”ti.[8] —
Sau khi viết ân đức của đức Pháp theo từng phần như vậy, trong khi tán dương Tăng bảo thứ ba, (đức vua viết rằng): “Tăng đệ tử của đức Thế Tôn là bậc thiện hành …nt… là ruộng phước của thế gian.” (Ngài viết): “Các thiện nam tử sau khi nghe Pháp thoại của bậc Đạo Sư đều xuất gia như vậy: một số từ bỏ lọng trắng mà xuất gia, một số từ bỏ chức phó vương, một số từ bỏ vị trí tướng quân v.v. mà xuất gia. Sau khi xuất gia, các vị ấy thực hành đạo lộ này.” Sau khi viết theo từng phần về tiểu giới, trung giới, đại giới v.v., (ngài viết về) sự phòng hộ sáu căn, chánh niệm tỉnh giác, sự biết đủ với bốn vật dụng, chín loại trú xứ, sự đoạn trừ năm triền cái, tướng sơ khởi (parikamma), thiền và thắng trí, ba mươi tám đề mục thiền định, cho đến sự đoạn tận các lậu hoặc theo từng phần. (Ngài) viết chi tiết mười sáu phần niệm hơi thở vào ra, rồi (viết): “Tăng đệ tử của bậc Đạo Sư được gọi là bậc thành tựu đầy đủ với các công đức có hình thức như thế.”
“Tám hạng người được ca ngợi,
bốn đôi này là những vị ấy;
họ là đệ tử của đấng Thiện Thệ, xứng đáng nhận lễ vật,
các vật bố thí cho họ đem lại quả lớn lao.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở Tăng chúng;
do sự chân thật này, mong rằng có sự an lạc.”
Evaṃ ekadesena saṅghaguṇe likhitvā — “Bhagavato sāsanaṃ svākkhātaṃ niyyānikaṃ, sace mayhaṃ sahāyo sakkoti, nikkhamitvā pabbajatū”ti likhitvā suvaṇṇapaṭṭaṃ saṃharitvā sukhumakambalena veṭhetvā sārasamugge pakkhipitvā taṃ samuggaṃ suvaṇṇamaye, suvaṇṇamayaṃ, rajatamaye rajatamayaṃ maṇimaye, maṇimayaṃ pavāḷamaye, pavāḷamayaṃ lohitaṅkamaye, lohitaṅkamayaṃ masāragallamaye, masāragallamayaṃ phalikamaye, phalikamayaṃ dantamaye, dantamayaṃ sabbaratanamaye, sabbaratanamayaṃ kilañjamaye, kilañjamayaṃ samuggaṃ sārakaraṇḍake ṭhapesi.
Sau khi viết ân đức của đức Tăng theo từng phần như vậy, (đức vua) viết rằng: “Giáo Pháp của đức Thế Tôn được khéo thuyết giảng, dẫn đến giải thoát. Nếu bạn hữu của trẫm có khả năng, xin hãy xuất gia.” Rồi (ngài) cuốn tấm vàng lại, bọc bằng vải len mịn, đặt vào trong hộp gỗ tốt. Đặt hộp ấy vào trong hộp bằng vàng, (hộp) bằng vàng vào trong (hộp) bằng bạc, (hộp) bằng bạc vào trong (hộp) bằng ma-ni, (hộp) bằng ma-ni vào trong (hộp) bằng san hô, (hộp) bằng san hô vào trong (hộp) bằng hồng ngọc, (hộp) bằng hồng ngọc vào trong (hộp) bằng cẩm thạch, (hộp) bằng cẩm thạch vào trong (hộp) bằng pha lê, (hộp) bằng pha lê vào trong (hộp) bằng ngà voi, (hộp) bằng ngà voi vào trong (hộp) bằng đủ các loại châu báu, (hộp) bằng đủ các loại châu báu vào trong (hộp) tre đan, (hộp) tre đan vào trong rương gỗ tốt.
Puna sārakaraṇḍakaṃ suvaṇṇakaraṇḍaketi purimanayeneva haritvā sabbaratanamayaṃ karaṇḍakaṃ kilañjamaye karaṇḍake ṭhapesi. Tato kilañjamayaṃ karaṇḍakaṃ sāramayapeḷāyāti puna vuttanayeneva haritvā sabbaratanamayaṃ peḷaṃ kilañjamayapeḷāya ṭhapetvā bahi vatthena veṭhetvā rājamuddikāya lañchetvā amacce āṇāpesi — “mama āṇāpavattiṭṭhāne maggaṃ alaṅkārāpetha maggo aṭṭhusabhavitthato hotu, catūsabhaṭṭhānaṃ sodhitamattakameva hotu, majjhe catūsabhaṃ rājānubhāvena paṭiyādethā”ti. Tato maṅgalahatthiṃ alaṅkārāpetvā tassa upari pallaṅkaṃ paññapetvā setacchattaṃ ussāpetvā nagaravīthiyo sittasammaṭṭhā[9] samussitaddhajapaṭākā kadalipuṇṇaghaṭagandhadhūmapupphādīhi suppaṭimaṇḍitā kāretvā “attano attano visayappadese evarūpaṃ pūjaṃ kārentū”ti antarabhogikānaṃ javanadūte pesetvā sayaṃ sabbālaṅkārena alaṅkaritvā — “sabbatāḷāvacarasammissabalakāyaparivuto paṇṇākāraṃ pesemī”ti attano visayapariyantaṃ gantvā amaccassa mukhasāsanaṃ adāsi — “Tāta mayhaṃ sahāyo Pukkusāti imaṃ paṇṇākāraṃ paṭicchanto orodhamajjhe apaṭicchitvā pāsādaṃ āruyha paṭicchatū”ti. Evaṃ sāsanaṃ datvā paccantadesaṃ satthā gacchatīti pañcapatiṭṭhitena vanditvā nivatti. Antarabhogikā teneva niyāmena maggaṃ paṭiyādetvā paṇṇākāraṃ nayiṃsu.
Lại đặt rương gỗ tốt vào trong hộp vàng, đem đi theo cách thức như trước, đặt hộp bằng đủ các loại châu báu vào trong hộp tre đan. Từ đó, đặt hộp tre đan vào trong rương gỗ tốt, lại đem đi theo cách thức đã nói, đặt rương bằng đủ các loại châu báu vào trong rương tre đan, bên ngoài bọc bằng vải rồi đóng ấn với ấn triện của vua. (Đức vua) truyền cho các đại thần: “Hãy trang hoàng con đường trong địa phận của trẫm. Đường phải rộng tám usabha, khu vực bốn usabha (hai bên) chỉ cần quét dọn sạch sẽ, khu vực bốn usabha ở giữa hãy chuẩn bị với oai lực của đế vương.” Từ đó, (ngài) cho trang hoàng voi cát tường, sắp đặt tòa trên lưng voi ấy, dựng lọng trắng lên, cho rải cát quét dọn các con đường trong thành, dựng cờ phướn, trang trí đẹp đẽ bằng cây chuối, bình đầy, hương thơm, khói hương, hoa v.v. Rồi (ngài) sai sứ giả nhanh chóng đến các lãnh chủ (truyền rằng): “Hãy thực hiện lễ bái như vậy ở mỗi khu vực của các ngươi.” Còn chính ngài thì trang sức đầy đủ mọi anh lạc, nghĩ rằng: “Ta sẽ gửi quà biếu, được hộ tống bởi quân đội kèm theo các loại nhạc cụ.” (Ngài) đi đến biên giới lãnh thổ của mình, truyền miệng cho đại thần rằng: “Này khanh, Pukkusāti bạn hữu của trẫm, khi nhận quà biếu này, đừng nhận ở giữa hậu cung mà hãy lên cung điện rồi mới nhận.” Sau khi ban khẩu sấm như vậy, nghĩ rằng “Đức Đạo Sư đến xứ biên địa,” (ngài) đảnh lễ bằng năm chi rồi quay về. Còn các lãnh chủ thì trang trí con đường theo đúng cách thức ấy rồi mang quà biếu đi.
Pukkusātipi attano rajjasīmato paṭṭhāya teneva niyāmena maggaṃ paṭiyādetvā nagaraṃ alaṅkārāpetvā paṇṇākārassa paccuggamanaṃ akāsi. Paṇṇākāro Takkasīlaṃ pāpuṇanto uposathadivase pāpuṇi, paṇṇākāraṃ gahetvā gatāmaccopi rañño vuttasāsanaṃ ārocesi. Rājā taṃ sutvā paṇṇākārena saddhiṃ āgatānaṃ kattabbakiccaṃ vicāretvā paṇṇākāraṃ ādāya pāsādaṃ āruyha “mā idha koci pavisatū”ti dvāre ārakkhaṃ kāretvā sīhapañjaraṃ vivaritvā paṇṇākāraṃ uccāsane ṭhapetvā sayaṃ nīcāsane nisinno lañchanaṃ bhinditvā nivāsanaṃ apanetvā kilañjapeḷato paṭṭhāya anupubbena vivaranto sāramayaṃ samuggaṃ disvā cintesi — “mahāparihāro nāyaṃ[10] aññassa ratanassa bhavissati, addhā majjhimadese sotabbayuttakaṃ ratanaṃ uppannan”ti. Atha taṃ samuggaṃ vivaritvā rājalañchanaṃ bhinditvā sukhumakambalaṃ ubhato viyūhitvā suvaṇṇapaṭṭaṃ addasa.
Còn Pukkusāti cũng cho chuẩn bị con đường theo cách thức tương tự từ biên giới vương quốc của mình, cho trang hoàng thành phố để đón tiếp quà biếu. Quà biếu đến Takkasilā vào ngày bố-tát. Đại thần mang quà biếu đến cũng trình lại lời truyền của vua. Vua nghe xong, cân nhắc việc cần làm đối với những người đến cùng quà biếu, rồi cầm quà biếu lên cung điện. (Ngài) cho canh giữ cửa (truyền rằng): “Đừng để ai vào đây.” Rồi mở song cửa sổ, đặt quà biếu lên chỗ ngồi cao, còn chính ngài ngồi ở chỗ thấp. (Ngài) bẻ ấn, gỡ bỏ lớp bọc, mở ra theo thứ tự bắt đầu từ rương tre đan, khi thấy rương gỗ tốt, (ngài) suy nghĩ: “Sự trọng thị lớn lao này chắc không phải vì châu báu gì khác; chắc chắn có châu báu xứng đáng nghe đã xuất hiện ở vùng Trung Xứ.” Rồi mở rương ấy ra, bẻ ấn vua, mở tấm vải len mịn ra hai bên, thấy tấm vàng.
So taṃ pasāretvā[11] — “manāpāni vata[12] akkharāni samasīsāni samapantīni caturassānī”tiādito paṭṭhāya vācetuṃ ārabhi. Tassa — “Idha Tathāgato loke uppanno”ti buddhaguṇe vācentassa balavasomanassaṃ uppajji, navanavutilomakūpasahassāni uddhaggalomāni ahesuṃ. Attano ṭhitabhāvaṃ vā nisinnabhāvaṃ vā na jānāti. Athassa — “Kappakoṭisatasahassehipi etaṃ dullabhasāsanaṃ sahāyaṃ nissāya sotuṃ labhāmī”ti[13] bhiyyo balavapīti udapādi. So hi upari vācetuṃ asakkonto yāva pītivegapassaddhiyā nisīditvā parato[14] — “Svākkhāto bhagavatā dhammo”ti dhammaguṇe ārabhi. Tatrāpissa tatheva ahosi. So puna yāva pītivegapassaddhiyā nisīditvā parato “suppaṭipanno”ti saṅghaguṇe ārabhi. Tatrāpissa tatheva ahosi. Atha sabbapariyante ānāpānassatikammaṭṭhānaṃ vācetvā catukkapañcakajjhānāni nibbattesi, so jhānasukheneva vītināmesi. Añño koci daṭṭhuṃ na labhati, ekova cūḷupaṭṭhāko pavisati. Evaṃ addhamāsamattaṃ vītināmesi.
Ngài mở tấm vàng ấy ra và bắt đầu đọc. Ngay từ đầu, ngài đã thầm khen ngợi: “Nét chữ thật đẹp thay, hàng lối đều đặn, vuông vức và ngay ngắn”.
Khi ngài đọc đến phần ân đức Phật: “Nay đức Như Lai đã xuất hiện ở thế gian…”, một niềm hỷ lạc (Somanassa) mãnh liệt phát sinh, khiến chín mươi chín ngàn lỗ chân lông trên toàn thân ngài đều dựng ngược (sởn gai ốc). Ngài chìm đắm trong trạng thái ấy đến mức không còn nhận thức được mình đang đứng hay đang ngồi. Kế đó, một niềm phỉ lạc (Pīti) càng dâng trào mạnh mẽ hơn khi ngài nghĩ: “Nhờ nương nơi người bạn của ta mà ta được nghe Giáo pháp khó gặp dù trải qua trăm ngàn ức kiếp (Kappakoṭisatasahassa)”.
Vì niềm xúc động quá lớn khiến ngài không thể đọc tiếp ngay được, ngài phải ngồi chờ cho đến khi cơn hỷ lạc lắng dịu (Pītivegapassaddhi) rồi mới bắt đầu đọc tiếp đến ân đức Pháp: “Giáo Pháp đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng…”. Ngài cũng trải qua trạng thái hỷ lạc tương tự như vậy đối với ân đức Pháp. Sau khi chờ cho niềm phỉ lạc lắng dịu, ngài lại đọc tiếp đến ân đức Tăng: “Bậc Diệu Hạnh là hàng Thinh văn đệ tử của đức Thế Tôn…”, và ngài cũng cảm nhận sự hỷ lạc tương tự.
Cuối cùng, ở phần cuối bức thư, ngài đọc đến đề mục Thiền niệm hơi thở (Ānāpānassati) và thực hành cho đến khi chứng đắc các tầng Thiền thứ tư và thứ năm (Catukkapañcakajjhāna). Ngài sống trọn thời gian trong niềm an lạc của Thiền định. Không một ai được phép vào gặp ngài, ngoại trừ một vị thị giả thân cận (Cūḷupaṭṭhāko). Ngài đã trải qua khoảng nửa tháng như vậy.
Nāgarā rājaṅgaṇe sannipatitvā ukkuṭṭhiṃ akaṃsu “paṇṇākāraṃ paṭicchitadivasato paṭṭhāya baladassanaṃ vā nāṭakadassanaṃ vā natthi, vinicchayadānaṃ natthi, rājā sahāyena pahitaṃ paṇṇākāraṃ yassicchati[15], tassa dassetu[16], rājāno nāma ekaccassa paṇṇākāravasenapi vañcetvā rajjaṃ attano kātuṃ vāyamanti. Kiṃ nāma amhākaṃ rājā karotī”ti? Rājā ukkuṭṭhisaddaṃ sutvā — “rajjaṃ nu kho dhāremi, udāhu satthāran”ti cintesi. Athassa etadahosi — “rajjakāritāttabhāvo nāma neva gaṇakena, na gaṇakamahāmattena gaṇetuṃ sakko. Satthusāsanaṃ dhāressāmī”ti Sayane ṭhapitaṃ asiṃ gahetvā kese chinditvā sīhapañjaraṃ vivaritvā — “etaṃ gahetvā rajjaṃ kārethā”ti saddhiṃ cūḷāmaṇinā kesakalāpaṃ parisamajjhe pātesi, mahājano taṃ ukkhipitvā — “sahāyakasantikā laddhapaṇṇākārā nāma rājāno tumhādisā honti devā”ti ekappahāreneva viravi. Raññopi dvaṅgulamattaṃ kesamassu ahosi. Bodhisattassa pabbajjāsadisameva kira jātaṃ.
Dân chúng tụ tập tại sân chầu và tạo nên một sự náo động (ukkuṭṭhiṃ): “Kể từ ngày tiếp nhận lễ vật, đức vua không còn xem duyệt binh, không xem múa hát, cũng không xét xử kiện tụng. Đức vua hãy cho chúng tôi xem món quà mà bạn ngài đã gửi đến! Các vị vua thường dùng lễ vật để lừa dối người khác hòng chiếm đoạt vương quốc. Phải chăng đức vua của chúng ta đang làm điều tương tự?”.
Nghe tiếng náo động, đức vua suy nghĩ: “Ta nên giữ vương quyền hay giữ lấy lời dạy của bậc Đạo Sư?”. Rồi ngài tự nhủ: “Cái thân làm vua này, ngay cả các quan kế toán (gaṇaka) hay vị thượng quan ngân khố (gaṇakamahāmatta) cũng không thể tính đếm hết những gánh nặng của nó. Ta sẽ giữ lấy Giáo pháp của bậc Đạo Sư thôi!”.
Ngài bèn cầm lấy thanh gươm đặt nơi đầu giường, tự cắt đứt mái tóc, rồi mở cửa sổ sư tử và ném búi tóc cùng chiếc vương miện quý (cūḷāmaṇi) xuống giữa đám đông dân chúng: “Các khanh hãy cầm lấy thứ này mà trị vì vương quốc!”. Đại chúng đỡ lấy búi tóc ấy và đồng thanh gào khóc: “Tâu Đại vương, những vị vua nhận được quà từ bạn hữu đều sẽ trở nên giống như ngài sao?”. Lúc bấy giờ, tóc và râu của đức vua chỉ còn lại độ dài khoảng hai lóng tay, trông hệt như tướng trạng xuất gia của một vị Bồ-tát.
Tato cūḷupaṭṭhākaṃ pesetvā antarāpaṇā dve kāsāyavatthāni mattikāpattañca āharāpetvā — “ye loke arahanto, te uddissa mayhaṃ pabbajjā”ti satthāraṃ uddissa ekaṃ kāsāvaṃ nivāsetvā ekaṃ pārupitvā pattaṃ vāmāṃsakūṭe katvā kattaradaṇḍaṃ gahetvā — “sobhati nu kho me pabbajjā no vā”ti mahātale katipayavāre aparāparaṃ caṅkamitvā — “sobhati me pabbajjā”ti dvāraṃ vivaritvā pāsādā otari. Otarantaṃ pana naṃ tīsu dvāresu[17] ṭhitanāṭakādīni disvāpi na sañjāniṃsu. “eko paccekabuddho amhākaṃ rañño dhammakathaṃ kathetuṃ āgato”ti kira cintayiṃsu. uparipāsādaṃ pana āruyha rañño ṭhitanisinnaṭṭhānāni disvā rājā gatoti ñatvā samuddamajjhe osīdamānāya nāvāya jano viya ekappahāreneva viraviṃsu. kulaputtaṃ bhūmitalaṃ otiṇṇamattaṃ aṭṭhārasaseniyo sabbe nāgarā balakāyā ca parivāretvā mahāviravaṃ viraviṃsu. Amaccāpi taṃ etadavocuṃ — “deva majjhimadesarājāno nāma bahumāyā, sāsanaṃ pesetvā buddharatanaṃ nāma loke uppannaṃ vā no vāti ñatvā gamissatha, nivattatha devā”ti. saddahāmahaṃ mayhaṃ sahāyakassa, tassa mayā saddhiṃ dvejjhavacanaṃ nāma natthi, tiṭṭhatha tumheti. Te anugacchantiyeva.
Sau đó, ngài sai vị thị giả đi ra chợ mua hai tấm y hoại sắc (kāsāya) và một bình bát đất. Ngài hướng tâm về bậc Đạo Sư và phát nguyện: “Bất luận vị nào là bậc A-la-hán ở trên đời, con xin xuất gia hướng về các Ngài!”. Ngài mặc một tấm y, đắp một tấm y, đeo bình bát lên vai trái, tay cầm chiếc gậy chống (kattaradaṇḍaṃ). Ngài đi kinh hành tới lui vài lần trên lầu cao để tự kiểm tra: “Tướng trạng xuất gia này có hợp với ta không?”. Ngài tự thấy: “Rất phù hợp!”, rồi mở cửa bước xuống cung điện.
Khi ngài đi xuống, những cung nữ và vũ công đang đứng ở các cửa cung cũng không nhận ra ngài. Họ cứ ngỡ rằng: “Đây là một vị Phật Độc Giác đến để thuyết pháp cho đức vua của chúng ta”. Nhưng khi họ lên lầu, thấy nơi vua thường đứng, thường ngồi đều trống không, họ nhận ra đức vua đã đi mất. Họ đồng thanh gào khóc như những hành khách trên con tàu đang chìm giữa đại dương. Mười tám hội đoàn lữ đoàn (seniyo), toàn thể dân chúng và quân đội bao quanh vị thiện nam tử vừa mới đặt chân xuống đất ấy và khóc than thảm thiết.
Các đại thần thưa rằng: “Tâu Đại vương, các vị vua vùng Trung Xứ vốn rất xảo quyệt (bahumāyā). Xin ngài hãy gửi thư đi xác minh xem đức Phật thực sự đã xuất hiện ở đời chưa rồi hãy đi; xin ngài hãy quay lại!”. Vua đáp: “Ta tin tưởng bạn ta. Giữa ta và bạn ta không bao giờ có lời nói hai lòng (dvejjhavacanaṃ). Các khanh hãy dừng lại!”. Nhưng họ vẫn cứ tiếp tục đi theo ngài.
Kulaputto kattaradaṇḍena lekhaṃ katvā — “idaṃ rajjaṃ kassā”ti āha? Tumhākaṃ devāti. yo imaṃ lekhaṃ antaraṃ karoti, rājāṇāya kāretabboti. Mahājanakajātake bodhisattena katalekhaṃ Sīvalidevī antaraṃ kātuṃ avisahantī vivattamānā agamāsi. Tassā gatamaggena mahājano agamāsi. Taṃ pana lekhaṃ mahājano antaraṃ kātuṃ na visahi, lekhaṃ ussīsakaṃ katvā vivattamānā viraviṃsu. kulaputto “ayaṃ me gataṭṭhāne dantakaṭṭhaṃ vā mukhodakaṃ vā dassatī”ti antamaso ekaceṭakampi aggahetvā pakkāmi. Evaṃ kirassa ahosi “mama satthā ca mahābhinikkhamanaṃ nikkhamitvā ekakova pabbajito”ti ekakova agamāsi. “Satthu lajjāmī”ti ca — “satthā kira me pabbajitvā yānaṃ nāruḷho”ti ca antamaso ekapaṭalikampi upāhanaṃ nāruhi, paṇṇacchattakampi na dhāresi. Mahājano rukkhapākāraṭṭālakādīni āruyha esa amhākaṃ rājā gacchatīti olokesi. Kulaputto — “dūraṃ gantabbaṃ, na sakkā ekena maggo nittharitun”ti ekaṃ satthavāhaṃ anubandhi. sukhumālassa kulaputtassa kaṭhinatattāya pathaviyā gachantassa pādatalesu phoṭā uṭṭhahitvā bhijjanti, dukkhā vedanā uppajjanti. Satthavāhe khandhāvāraṃ bandhitvā nisinne kulaputto maggā okkamma ekasmiṃ rukkhamūle nisīdati. Nisinnaṭṭhāne pādaparikammaṃ vā piṭṭhiparikammaṃ vā kattā nāma natthi, kulaputto ānāpānacatutthajjhānaṃ samāpajjitvā maggadarathakilamathapariḷāhaṃ vikkhambhetvā jhānaratiyā vītināmeti.
Vị thiện nam tử [vua Pukkusāti] dùng cây gậy chống vạch một đường xuống đất và hỏi: “Vương quốc này thuộc về ai?”. “Tâu Đại vương, thuộc về ngài”. “Kẻ nào bước qua ranh giới này sẽ bị xử lý theo vương pháp!”. (Tương tự như trong Bổn sanh Mahājanaka, khi Bồ-tát vạch một đường như vậy, hoàng hậu Sīvalī vì không dám bước qua ranh giới đó nên đã đứng lại rồi quay đi; dân chúng đi theo con đường của bà cũng không dám bước qua vạch kẻ, họ nằm lăn ra đất và gào khóc bên cạnh vạch kẻ ấy).
Vị thiện nam tử ra đi mà không mang theo dù chỉ một người hầu, vì ngài nghĩ rằng: “Nếu mang theo người hầu, họ sẽ lại phục dịch ta từ cây tăm xỉa răng đến nước rửa mặt tại những nơi ta đi qua”. Ngài tự nhủ: “Bậc Đạo Sư của ta khi thực hiện cuộc Đại xuất gia cũng chỉ đi một mình”, nên ngài cũng đi một mình. Ngài lại nghĩ: “Ta hổ thẹn với bậc Đạo Sư nếu ta còn đi xe, vì được biết khi Ngài xuất gia Ngài đã không dùng xe cộ”. Vì thế, ngay cả một đôi dép một lớp da ngài cũng không mang, một chiếc dù lá ngài cũng không che. Dân chúng leo lên cây, lên tường thành và các tháp canh để nhìn theo: “Đức vua của chúng ta đang đi kìa!”.
Vị thiện nam tử nghĩ rằng: “Đường còn xa, không thể đi một mình mà xong hành trình được”, nên ngài đi theo sau một đoàn thương buôn. Vốn là một người khuê các (sukhumāla), nay phải đi bộ trên mặt đất nóng bỏng và khô cứng, lòng bàn chân ngài nổi mụn nước rồi vỡ ra, gây đau đớn vô cùng. Khi đoàn thương buôn dừng lại hạ trại nghỉ ngơi, ngài rời khỏi đường đi và ngồi xuống dưới một gốc cây. Tại đó, không có ai xoa bóp chân hay xoa bóp lưng cho ngài cả; vị thiện nam tử bèn nhập vào Tứ thiền bằng pháp Niệm hơi thở (ānāpāna-catutthajjhāna), dùng định lực để chế ngự sự mệt mỏi, nóng bức và đau đớn của cuộc hành trình, rồi sống trọn thời gian trong niềm hỷ lạc của Thiền.
Punadivase uṭṭhite aruṇe sarīrapaṭijagganaṃ katvā puna satthavāhaṃ anubandhati. Pātarāsakāle kulaputtassa pattaṃ gahetvā khādanīyaṃ bhojanīyaṃ patte pakkhipitvā denti. Taṃ uttaṇḍulampi hoti kilinnampi samasakkharampi aloṇātiloṇampi, kulaputto pavisanaṭṭhānaṃ paccavekkhitvā amataṃ viya paribhuñjitvā etena niyāmena aṭṭhahi ūnakāni dve yojanasatāni gato. Jetavanadvārakoṭṭhakassa pana samīpena gacchantopi — “Kahaṃ satthā vasatī”ti nāpucchi. Kasmā? Satthugāravena ceva rañño pesitasāsanavasena ca. Rañño hi — “idha Tathāgato loke uppajjatī”ti Satthāraṃ Rājagahe uppannaṃ viya katvā sāsanaṃ pesitaṃ, tasmā naṃ apucchitvāva pañcacattālīsayojanamattaṃ maggaṃ atikkanto. So sūriyatthaṅgamanavelāya Rājagahaṃ patvā satthā kahaṃ vasatīti pucchi. Kuto nu, bhante, āgatoti? Ito Uttaratoti. Satthā tuyhaṃ āgatamagge ito pañcacattālīsayojanamatte Sāvatthi nāma atthi, tattha vasatīti. Kulaputto cintesi — “idāni akālo na sakkā gantuṃ, ajja idheva vasitvā sve satthu santikaṃ gamissāmī”ti. Tato — “vikāle sampattapabbajitā kahaṃ vasantī”ti pucchi. Imāya kumbhakārasālāya, bhanteti. Atha so taṃ kumbhakāraṃ yācitvā tattha vāsatthāya pavisitvā nisīdi.
Sáng hôm sau khi bình minh vừa hé rạng, ngài làm vệ sinh cá nhân rồi lại tiếp tục đi theo đoàn thương buôn. Đến giờ điểm tâm, họ nhận lấy bình bát của ngài và sớt vào đó các loại vật thực. Những món ăn đó khi thì sống sượng (uttaṇḍula), khi thì nhão nát (kilinna), khi thì lẫn đầy sạn đá, khi thì lạt lẽo hoặc quá mặn. Nhưng vị thiện nam tử, sau khi quán chiếu về mục đích của việc thụ dụng, đã ăn những món ấy như thể là cam lộ (amata). Bằng cách đó, ngài đã vượt qua quãng đường 192 do-tuần (hai trăm do-tuần thiếu tám).
Dù đi ngang qua gần cổng vòm của tu viện Kỳ Viên (Jetavana), ngài cũng không hỏi: “Bậc Đạo Sư ngự ở đâu?”. Tại sao? Vì lòng tôn kính và vì tin vào nội dung bức thư của vua Bimbisāra. Trong thư, vua Bimbisāra viết như thể đức Phật đang ngự tại Rājagaha, vì vậy ngài không hỏi mà đi thẳng tiếp 45 do-tuần nữa. Khi mặt trời lặn, ngài đến Rājagaha và hỏi: “Bậc Đạo Sư ngự ở đâu?”. – “Thưa ngài, ngài từ đâu đến?”. – “Ta từ phương Bắc (Uttara) đến đây”. – “Thưa ngài, trên con đường ngài vừa đi qua, cách đây 45 do-tuần có một thành phố tên là Sāvatthī, bậc Đạo Sư đang ngự tại đó”.
Vị thiện nam tử nghĩ: “Bây giờ đã quá muộn, không thể đi tiếp được. Ta sẽ nghỉ lại đây đêm nay, sáng mai sẽ đi đến chỗ đức Phật”. Ngài hỏi: “Những vị xuất gia lỡ đường thường nghỉ ở đâu?”. – “Thưa ngài, thường nghỉ tại xưởng thợ gốm này”. Ngài bèn xin phép người thợ gốm cho trú lại, rồi đi vào trong ngồi xuống.
Bhagavāpi taṃdivasaṃ paccūsakāle lokaṃ volokento Pukkusātiṃ disvā cintesi — “ayaṃ kulaputto sahāyena pesitaṃ sāsanamattakaṃ vācetvā atirekatiyojanasatikaṃ mahārajjaṃ pahāya maṃ uddissa pabbajitvā aṭṭhahi ūnakāni dve yojanasatāni atikkamma Rājagahaṃ pāpuṇissati, mayi agacchante pana tīṇi sāmaññaphalāni appaṭivijjhitvā ekarattivāsena anāthakālakiriyaṃ karissati, mayi pana gate tīṇi sāmaññaphalāni paṭivijjhissati. Janasaṅgahatthāyeva pana mayā satasahassakappādhikāni cattāri asaṅkhyeyyāni pāramiyo pūritā, karissāmi tassa saṅgahan”ti pātova sarīrapaṭijagganaṃ katvā bhikkhusaṅghaparivuto sāvatthiyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātappaṭikkanto gandhakuṭiṃ pavisitvā muhuttaṃ attadarathakilamathaṃ[18] paṭipassambhetvā — “Kulaputto mayi gāravena dukkaraṃ akāsi, atirekayojanasataṃ[19] rajjaṃ pahāya antamaso mukhadhovanadāyakampi ceṭakaṃ aggahetvā ekakova nikkhanto”ti Sāriputtamahāmoggallānādīsu kañci anāmantetvā sayameva attano pattacīvaraṃ gahetvā ekakova nikkhanto. Gacchanto ca neva ākāse uppati, na pathaviṃ saṃkhipi, — “kulaputto mama lajjamāno hatthiassarathasuvaṇṇasivikādīsu ekayānepi anisīditvā antamaso ekapaṭalikaṃ upāhanampi anāruyha paṇṇacchattakampi aggahetvā nikkhanto, mayāpi padasāva gantuṃ vaṭṭatī”ti pana cintetvā padasāva agamāsi.
Vào ngày hôm ấy, lúc rạng đông, Đức Thế Tôn quán xét thế gian và nhìn thấy Pukkusāti. Ngài thầm nghĩ: “Vị thiện nam tử này chỉ mới đọc bức thư từ người bạn gửi đến mà đã từ bỏ vương quốc rộng lớn hơn ba trăm do-tuần (ti-yojana-satikaṃ), vì lòng tôn kính ta mà xuất gia, vượt qua quãng đường một trăm chín mươi hai do-tuần để đến Rājagaha. Nếu ta không đến, vị ấy sẽ mạng chung vào ngay đêm nay mà không chứng đắc được ba Sa-môn quả (tīṇi sāmaññaphalāni), thật là một cái chết không nơi nương tựa (anātha). Nhưng nếu ta đến, vị ấy sẽ chứng đắc ba quả vị ấy. Ta đã viên mãn các pháp Ba-la-mật suốt bốn tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp chính là vì mục đích tế độ (saṅgaha) chúng sinh; vậy ta sẽ thực hiện việc tế độ cho vị ấy”.
Từ sáng sớm, Ngài làm vệ sinh thân thể, có chúng Tỳ-kheo vây quanh, Ngài đi khất thực tại Sāvatthī. Sau bữa ăn, Ngài trở về tinh xá, vào trong Hương Thất nghỉ ngơi giây lát để xoa dịu sự mệt mỏi của thân. Ngài lại nghĩ: “Vị thiện nam tử ấy đã làm một việc khó làm vì lòng tôn kính ta; từ bỏ vương quốc rộng lớn, ra đi một mình không mang theo ngay cả một người hầu rửa mặt”.
Vì vậy, Ngài không gọi bất kỳ vị đại đệ tử nào như Sāriputta hay Mahāmoggallāna, mà tự mình cầm lấy y bát, đơn độc lên đường. Trên hành trình ấy, Ngài không bay lên không trung, cũng không dùng thần thông thu ngắn mặt đất. Ngài nghĩ rằng: “Vị thiện nam tử ấy vì lòng tôn kính ta nên đã không ngồi lên bất kỳ phương tiện nào như voi, ngựa, xe hay kiệu vàng; đến cả đôi dép một lớp da ngài cũng không mang, chiếc dù lá cũng không che. Vậy nên, ta cũng nên đi bộ (padasā) để gặp vị ấy”. Và như thế, Đức Thế Tôn đã đi bằng chính đôi chân của mình.
So asīti anubyañjanāni byāmappabhā bāttiṃsa mahāpurisalakkhaṇānīti imaṃ buddhasiriṃ paṭicchādetvā valāhakapaṭicchanno puṇṇacando viya aññatarabhikkhuvesena gacchanto ekapacchābhatteneva pañcacattālīsa yojanāni atikkamma sūriyatthaṅgamalīvelāya kulaputte paviṭṭhamatteyeva taṃ kumbhakārasālaṃ pāpuṇi. Taṃ sandhāya vuttaṃ — “Tena kho pana samayena, Pukkusāti, nāma kulaputto bhagavantaṃ uddissa saddhāya agārasmā anagāriyaṃ pabbajito, so tasmiṃ kumbhakārāvesane paṭhamaṃ vāsūpagato hotī”ti.
Ngài đã che giấu vẻ rực rỡ của vị Phật này là 80 tướng phụ, hào quang một sải tay và ba mươi hai tướng đại nhân; Ngài bước đi trong hình tướng của một vị Tỳ-kheo bình thường, tựa như vầng trăng rằm bị mây che phủ. Chỉ trong một buổi chiều sau bữa ăn, Ngài đã vượt qua quãng đường bốn mươi lăm do-tuần và đến xưởng thợ gốm ngay khi vị thiện nam tử [Pukkusāti] vừa mới bước vào. Về sự kiện này, kinh văn chép rằng: “Lúc bấy giờ, thiện nam tử Pukkusāti vì lòng tin đã rời bỏ gia đình, xuất gia hướng về Thế Tôn, và vị ấy đã đến trú ngụ tại xưởng thợ gốm trước tiên”.
Evaṃ gantvāpi pana bhagavā — “ahaṃ sammāsambuddho”ti pasayha kumbhakārasālaṃ apavisitvā dvāre ṭhitova kulaputtaṃ okāsaṃ kārento sace te bhikkhūtiādimāha. Urundanti[20] vivittaṃ asambādhaṃ. Viharatāyasmā yathāsukhanti yena yena iriyāpathena phāsu hoti, tena tena yathāsukhaṃ āyasmā viharatūti okāsaṃ akāsi. Atirekatiyojanasatañhi rajjaṃ pahāya pabbajito kulaputto parassa chaḍḍitapatitaṃ kumbhakārasālaṃ kiṃ aññassa sabrahmacārino maccharāyissati[21]. Ekacce pana moghapurisā sāsane pabbajitvā āvāsamacchariyādīhi abhibhūtā attano vasanaṭṭhāne mayhaṃ kuṭi mayhaṃ pariveṇanti aññesaṃ avāsāya parakkamanti. Nisīdīti accantasukhumālo lokanātho devavimānasadisaṃ gandhakuṭiṃ pahāya tattha tattha vippakiṇṇachārikāya bhinnabhājanatiṇapalāsakukkuṭasūkaravaccādisaṃkiliṭṭhāya saṅkāraṭṭhānasadisāya kumbhakārasālāya tiṇasanthāraṃ santharitvā paṃsukūlacīvaraṃ paññapetvā devavimānasadisaṃ dibbagandhasugandhaṃ gandhakuṭiṃ pavisitvā nisīdanto viya nisīdi.
Dù đến với tư cách đó, Đức Thế Tôn cũng không hề áp đặt quyền uy (pasayha) rằng: “Ta là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác”, mà Ngài đứng ở cửa hỏi ý vị thiện nam để được nhường chỗ: “Này Tỳ khưu, nêu không làm phiền…”. Rộng rãi: yên tĩnh, không chật hẹp. Xin mời Tôn giả ngài có thể ở, tùy theo sở thích: Vị thiện nam này vốn đã từ bỏ vương quốc rộng lớn hơn ba trăm do-tuần để xuất gia, thì lẽ nào ngài lại hẹp hòi (maccharāyissati) về chỗ trú ngụ tại xưởng thợ gốm bỏ hoang này với một người bạn đồng tu (sabrahmacārī)? Thế nhưng, có những kẻ rỗng tuếch (moghapurisa) sau khi xuất gia trong Giáo pháp lại bị tâm keo kiệt về trú xứ (āvāsamacchariya) chi phối; họ luôn cố giữ chỗ ở cho riêng mình: “Đây là liêu của tôi, đây là khu vực của tôi” và tìm cách ngăn cản người khác cư ngụ.
Ngồi: Đức Thế Tôn vốn là bậc vô cùng thanh quý (accantasukhumālo), vậy mà Ngài đã rời bỏ Hương Thất rực rỡ như thiên cung để đến ngồi trong xưởng thợ gốm đầy tro bụi vương vãi, bẩn thỉu với những mảnh bát vỡ, cỏ khô, lá mục và cả phân gà, phân heo… chẳng khác nào một bãi rác. Tại đó, Ngài trải tấm thảm cỏ, đặt tấm y phấn tảo lên và ngồi xuống; nhưng phong thái của Ngài vẫn tĩnh tại như thể đang ngự trong Hương Thất thơm ngát hương trời nơi thiên cung vậy.
Iti Bhagavāpi asambhinnamahāsammatavaṃse uppanno, kulaputtopi khattiyagabbhe vaḍḍhito. Bhagavāpi abhinīhārasampanno, kulaputtopi abhinīhārasampanno. Bhagavāpi rajjaṃ pahāya pabbajito, kulaputtopi. bhagavāpi suvaṇṇavaṇṇo, kulaputtopi. Bhagavāpi samāpattilābhī, kulaputtopi. Iti dvepi khattiyā dvepi abhinīhārasampannā dvepi rājapabbajitā dvepi suvaṇṇavaṇṇā dvepi samāpattilābhino kumbhakārasālaṃ pavisitvā nisinnāti tehi kumbhakārasālā ativiya sobhati, dvīhi sīhādīhi paviṭṭhaguhādīhi āharitvā dīpetabbaṃ. Tesu pana dvīsu bhagavā — “sukhumālo ahaṃ paramasukhumālo ekapacchābhattena pañcacattālīsa yojanāni āgato, muhuttaṃ tāva sīhaseyyaṃ kappetvā maggadarathaṃ paṭipassambhemī”ti cittampi anuppādetvā nisīdantova phalasamāpattiṃ samāpajji. kulaputtopi — “dvānavutiyojanasataṃ āgatomhi, muhuttaṃ tāva nipajjitvā maggadarathaṃ vinodemī”ti cittaṃ anuppādetvā nisīdamānova ānāpānacatutthajjhānaṃ samāpajji. Idaṃ sandhāya atha kho bhagavā bahudeva rattintiādi vuttaṃ.
Như vậy, Đức Thế Tôn vốn sinh ra trong dòng dõi Mahāsammata thuần khiết (asambhinnavaṃse), và vị thiện nam tử [Pukkusāti] cũng được nuôi dưỡng trong bào thai của dòng tộc Sát-đế-lỵ (Khattiya). Đức Thế Tôn đã thành tựu phát nguyện ban đầu (abhinīhāra), và vị thiện nam tử cũng đã thành tựu phát nguyện ban đầu. Đức Thế Tôn từ bỏ vương quyền để xuất gia, và vị thiện nam tử cũng vậy. Đức Thế Tôn có làn da màu vàng ròng (suvaṇṇavaṇṇo), và vị thiện nam tử cũng có làn da màu vàng ròng. Đức Thế Tôn là bậc đắc các Thiền chứng (samāpatti), và vị thiện nam tử cũng là bậc đắc các Thiền chứng.
Cả hai đều là bậc Sát-đế-lỵ, cả hai đều thành tựu phát nguyện từ quá khứ, cả hai đều là những vị vua xuất gia, cả hai đều có sắc thân hoàng kim và cùng đắc các tầng định. Khi cả hai cùng bước vào và ngồi trong xưởng thợ gốm, nơi ấy trở nên rực rỡ vô ngần; điều này nên được minh họa bằng hình ảnh hai con sư tử cùng bước vào trong một hang động.
Tuy nhiên, trong hai vị ấy, Đức Thế Tôn dù là bậc vô cùng thanh quý (paramasukhumālo), vừa vượt qua quãng đường 45 do-tuần chỉ sau một bữa ăn, nhưng Ngài không hề khởi lên ý nghĩ: “Ta sẽ nằm theo dáng sư tử (sīhaseyyaṃ) một lát để xoa dịu sự mệt mỏi của thân đường xa”; thay vào đó, Ngài chỉ ngồi và nhập ngay vào Quả Định (phalasamāpatti). Về phía vị thiện nam tử, dù đã đi bộ suốt 192 do-tuần, ngài cũng không hề khởi ý: “Ta sẽ nằm nghỉ một lát để xua tan mệt nhọc”, mà chỉ ngồi và nhập vào Tứ thiền niệm hơi thở. Vì muốn đề cập đến việc cả hai vị cùng nhập định suốt đêm như vậy nên kinh văn mới chép rằng: “Ngài đã ngồi trải qua gần trọn đêm…”.
Nanu ca bhagavā kulaputtassa dhammaṃ desessāmīti āgato, kasmā na desesīti? kulaputtassa maggadaratho appaṭipassaddho, na sakkhissati dhammadesanaṃ sampaṭicchituṃ, so tāvassa paṭipassambhatūti na desesi. Apare — “Rājagahaṃ nāma ākiṇṇamanussaṃ avivittaṃ dasahi saddehi, so saddo diyaḍḍhayāmamattena sannisīdati, taṃ āgamento na desesī”ti vadanti. Taṃ akāraṇaṃ, brahmalokappamāṇampi hi saddaṃ bhagavā attano ānubhāvena vūpasametuṃ sakkoti, maggadarathavūpasamaṃ āgamentoyeva pana na desesi.
Chẳng phải Đức Thế Tôn đi đến đó với ý định thuyết Pháp cho vị thiện nam tử sao? Vậy tại sao Ngài chưa thuyết ngay? Đó là vì sự mệt mỏi đường xa (maggadaratha) của vị thiện nam tử vẫn chưa lắng dịu, vị ấy sẽ chưa thể tiếp nhận Giáo Pháp một cách trọn vẹn; Ngài chờ cho sự mệt mỏi ấy tiêu tan nên chưa thuyết.
Một số vị thầy khác lại nói rằng: “Thành Rājagaha vốn náo nhiệt, không yên tĩnh với mười loại âm thanh (dasahi saddehi). Phải mất khoảng một canh rưỡi (diyaḍḍhayāma – khoảng 4-5 tiếng), những âm thanh ấy mới lắng xuống, nên Ngài chờ đợi sự yên tĩnh đó”. Nhưng đó không phải là lý do chính, bởi vì Đức Thế Tôn có thể dùng oai lực của mình để dập tắt cả những âm thanh vang động đến tận cõi Phạm thiên. Thực sự, Ngài chỉ chờ cho sự mệt mỏi của Pukkusāti tiêu tan mà thôi.
Tattha bahudeva rattinti diyaḍḍhayāmamattaṃ. Etadahosīti bhagavā phalasamāpattito vuṭṭhāya suvaṇṇavimāne maṇisīhapañjaraṃ vivaranto viya pañcapasādappaṭimaṇḍitāni akkhīni ummīletvā olokesi, athassa hatthakukkucca-pādakukkucca-sīsakampana-virahitaṃ sunikhātaindakhīlaṃ viya niccalaṃ avibbhantaṃ suvaṇṇapaṭimaṃ viya nisinnaṃ kulaputtaṃ disvā etaṃ — “pāsādikaṃ kho”tiādi ahosi. Tattha pāsādikanti pasādāvahaṃ. Bhāvanapuṃsakaṃ panetaṃ, pāsādikena iriyāpathena iriyati. Yathā iriyato iriyāpatho pāsādiko hoti, evaṃ iriyatīti ayamettha attho. Catūsu hi iriyāpathesu tayo iriyāpathā na sobhanti. gacchantassa hi bhikkhuno hatthā calanti, pādā calanti, sīsaṃ calati, ṭhitassa kāyo thaddho[22] hoti, nipannassāpi iriyāpatho amanāpo hoti, pacchābhatte pana divāṭṭhānaṃ sammajjitvā cammakhaṇḍaṃ paññapetvā sudhotahatthapādassa catusandhikapallaṅkaṃ ābhujitvā nipannasseva iriyāpatho sobhati. Ayañca kulaputto pallaṅkaṃ ābhujitvā ānāpānacatutthajjhānaṃ appetvā nisīdi. Itissa iriyāpatheneva pasanno Bhagavā — “pāsādikaṃ kho”ti parivitakkesi.
Ở đây, phần lớn đêm: khoảng hai canh rưỡi. Suy nghĩ như vậy: đức Thế Tôn xuất khỏi Quả định, mở mắt được tô điểm với năm loại tịnh sắc (pañcapasāda) như thể mở cánh cửa sổ bằng ngọc ma-ni của một tòa thiên cung bằng vàng để quan sát. Khi ấy, Ngài thấy vị thiện nam tử ngồi tĩnh tại, không hề có sự máy động tay chân (hattha-pāda-kukkucca) hay rung lắc đầu, vững chãi như một trụ đá (indakhīla) được chôn sâu, bất động như một pho tượng vàng. Ngài bèn khởi nghĩ: “Thật đáng tịnh tín” v.v. Đáng tịnh tín: mang lại từ sự tin tưởng. Lời này thuộc thể trung tính hóa của động từ bhāveti [bhāvanapuṃsakaṃ]; nghĩa là: “Vị ấy đang vận hành trong một oai nghi đáng tịnh tín”. Thật vậy, trong bốn oai nghi, ba oai nghi không đẹp. Vì khi vị Tỳ-kheo đi, tay đung đưa, chân xê dịch, đầu rung lắc; khi đứng, thân thể cứng đờ; ngay cả oai nghi nằm cũng không đẹp. Tuy nhiên, sau bữa ăn, quét sạch chỗ nghỉ ban ngày, trải tấm da, rửa sạch tay chân, ngồi kiết già đầy đủ bốn chi tiết thì oai nghi mới đẹp. Và thiện nam tử này ngồi kiết già, chứng đắc tứ thiền niệm hơi thở rồi ngồi. Như vậy, Đức Thế Tôn hoan hỷ với chính oai nghi của vị ấy nên suy xét rằng: “Thật đáng tịnh tín”.
Yaṃnūnāhaṃ puccheyyanti kasmā pucchati? Kiṃ bhagavā attānaṃ uddissa pabbajitabhāvaṃ na jānātīti? no na jānāti, apucchite pana kathā na patiṭṭhāti, apatiṭṭhitāya kathāya kathā na sañjāyatīti kathāpatiṭṭhāpanatthaṃ pucchi.
Tại sao Đức Thế Tôn lại nghĩ: “Ta nên hỏi vị ấy xem” (Yaṃnūnāhaṃ puccheyyaṃ)? Chẳng lẽ Ngài không biết vị ấy xuất gia là vì Ngài sao? Không phải Ngài không biết, nhưng nếu không hỏi thì câu chuyện sẽ không có điểm khởi đầu (kathā na patiṭṭhāti); và nếu câu chuyện không được khởi đầu thì buổi thuyết giảng sẽ không thể diễn ra. Do đó, Ngài hỏi là để thiết lập đầu câu chuyện (kathā-patiṭṭhāpana).
Disvā ca pana jāneyyāsīti Tathāgataṃ Buddhasiriyā virocantaṃ ayaṃ Buddhoti sabbe jānanti. Anacchariyametaṃ jānanaṃ, Buddhasiriṃ pana paṭicchādetvā aññatarapiṇḍapātikavesena caranto dujjāno hoti. Iccāyasmā, Pukkusāti, “na jāneyyan”ti sabhāvameva katheti. Tathā hi naṃ ekakumbhakārasālāya nisinnampi na jānāti.
Về câu hỏi: “Nếu thấy, ông có nhận ra Ngài chăng?”. Khi Đức Như Lai tỏa sáng với vẻ uy nghiêm của một vị Phật (Buddhasiri), ai cũng có thể nhận ra “Đây là Phật”. Việc nhận ra khi ấy chẳng có gì lạ. Nhưng khi Ngài che giấu Phật diện, đi khất thực trong hình tướng một vị tăng bình thường thì rất khó để nhận diện. Vì thế, tôn giả Pukkusāti đã trả lời rất thật lòng: “Tôi sẽ không nhận ra”. Thực tế chứng minh điều đó là đúng, vì ngay cả khi đang ngồi chung trong một xưởng thợ gốm, vị ấy vẫn không hề biết đó chính là Ngài.
Etadahosīti maggadarathassa vūpasamabhāvaṃ ñatvā ahosi. Evamāvusoti kulaputto sahāyena pesitaṃ sāsanamattaṃ[23] vācetvā rajjaṃ pahāya pabbajamāno — “Dasabalassa madhuradhammadesanaṃ sotuṃ labhissāmī”ti. Pabbajito, pabbajitvā ettakaṃ addhānaṃ āgacchanto — “dhammaṃ te bhikkhu desessāmī”ti padamattassa vattāraṃ nālattha, so “dhammaṃ te bhikkhu desessāmī”ti vuttaṃ kiṃ[24] sakkaccaṃ na suṇissati. Pipāsitasoṇḍo viya hi pipāsitahatthī viya cāyaṃ, tasmā sakkaccaṃ savanaṃ paṭijānanto “evamāvuso”ti āha.
Đã có suy nghĩ như vầy: Sau khi biết được sự mệt nhọc trong việc đi đường đã tan biến (đức Thế Tôn) có suy nghĩ như thế. Như vậy này hiền giả: Vị thiện nam này sau khi đọc bức thư từ người bạn gửi đến, từ bỏ vương quốc đi xuất gia với suy nghĩ rằng: “Ta sẽ được lắng nghe Pháp thoại êm dịu của đấng Thập Lực”. Sau khi xuất gia, đi một quãng đường xa như vậy mà không gặp được bậc Đạo Sư nói dù chỉ một câu “Này Tỳ-kheo, ta sẽ thuyết pháp cho ông”. Vị ấy há sẽ không chăm chú lắng nghe lời được nói rằng “Này Tỳ-kheo, ta sẽ thuyết pháp cho ông” sao? Thiện nam tử này như một kẻ nghiện rượu bị khát, và con voi đang bị khát. Vì thế, vị ấy trong khi thừa nhận việc lắng nghe bằng sự tôn kính đã nói rằng: “Như vậy này hiền giả…”.
343. Chadhāturo ayanti bhagavā kulaputtassa pubbabhāgapaṭipadaṃ akathetvā āditova arahattassa padaṭṭhānabhūtaṃ accantasuññataṃ vipassanālakkhaṇameva ācikkhituṃ āraddho. Yassa hi pubbabhāgapaṭipadā aparisuddhā hoti, tassa paṭhamameva sīlasaṃvaraṃ indriyesu guttadvārataṃ bhojane mattaññutaṃ jāgariyānuyogaṃ satta saddhamme cattāri jhānānīti imaṃ pubbabhāgapaṭipadaṃ ācikkhati. Yassa panesā parisuddhā, tassa taṃ[25] akathetvā arahattassa padaṭṭhānabhūtaṃ vipassanameva ācikkhati. kulaputtassa ca pubbabhāgapaṭipadā parisuddhā. Tathā hi anena sāsanaṃ vācetvā pāsādavaragateneva ānāpānacatutthajjhānaṃ nibbattitaṃ, yadassa[26] dvānavutiyojanasabhaṃ āgacchantassa yānakiccaṃ sādhesi, sāmaṇerasīlampissa paripuṇṇaṃ. tasmā pubbabhāgapaṭipadaṃ akathetvā arahattassa padaṭṭhānabhūtaṃ accantasuññataṃ vipassanālakkhaṇamevassa ācikkhituṃ āraddho.
343. Người này có sáu giới: Đức Thế Tôn không thuyết pháp hành sơ khởi cho thiện nam tử, tuy nhiên bắt đầu thuyết về trạng thái Minh sát có sự rỗng không tuyệt đối [accantasuññata] làm nguyên nhân gần của vị A-ra-hán từ ban đầu. Thật vậy, Pháp hành sơ khởi của người nào không thanh tịnh, đức Thế Tôn sẽ thuyết Pháp hành sơ khởi này là thu thúc giới, việc phòng vệ các giác quan, việc biết chừng mực về vật thực, chú tâm tỉnh giác, Bảy diệu pháp (satta saddhammā) và bốn tầng Thiền. Nhưng pháp hành sơ khởi ấy của người nào thanh tịnh, đức Thế Tôn không thuyết Pháp hành sơ khởi đó, nhưng sẽ nói về trạng thái Minh sát làm nền tảng của vị A-ra-hán cho vị ấy ngay. Nhưng pháp hành sơ khởi của thiện nam tử ấy đã thanh tịnh. Thật vậy, thiện nam tử ấy đọc được chiếu thư lập tức bước lên cung điện cao thượng đó làm cho đề mục niệm hơi thở tứ thiền được sanh khởi mới đi quãng đường xuyên suốt 192 do-tuần, vẫn làm phận sự đi đường được hoàn tất. Thâm chí, giới Sa-di của thiện nam tử ấy cũng thanh tịnh, vì thế đức Thế Tôn mới không thuyết pháp hành sơ khởi, nhưng bắt đầu thuyết trạng thái Minh sát chỉ có sự rỗng không tuyệt đối làm nguyên nhân gần của vị A-ra-hán ấy cho thiện nam tử đó.
Tattha chadhāturoti dhātuyo vijjamānā, puriso avijjamāno. Bhagavā hi katthaci vijjamānena avijjamānaṃ dasseti, katthaci avijjamānena vijjamānaṃ, katthaci vijjamānena vijjamānaṃ, katthaci avijjamānena avijjamānanti sabbāsave vuttanayeneva vitthāretabbaṃ. Idha pana vijjamānena avijjamānaṃ dassento evamāha. Sace hi bhagavā purisoti paṇṇattiṃ vissajjetvā dhātuyo icceva vatvā cittaṃ upaṭṭhāpeyya[27], kulaputto sandehaṃ kareyya, sammohaṃ āpajjeyya, desanaṃ sampaṭicchituṃ na sakkuṇeyya. tasmā tathāgato anupubbena purisoti paṇṇattiṃ pahāya “sattoti vā purisoti vā puggaloti vā paṇṇattimattameva, paramatthato satto nāma natthi, dhātumatteyeva cittaṃ ṭhapāpetvā tīṇi phalāni paṭivijjhāpessāmī”ti Anaṅgaṇasutte[28] vuttabhāsantarakusalo tāya tāya bhāsāya[29] sippaṃ uggaṇhāpento ācariyo viya evamāha.
Ở đây ‘có sáu giới-dhātu’ gồm 6 giới có tồn tại, người đàn ông không tồn tại. Thật vậy, đức Thế Tôn đôi khi dùng cái có tồn tại để chỉ cái không tồn tại, đôi khi dùng cái không tồn tại để chỉ cái có tồn tại, đôi khi dùng cái có tồn tại để chỉ cái có tồn tại, đôi khi dùng cái không tồn tại để chỉ cái không tồn tại – điều này nên giải thích chi tiết theo phương thức đã nói trong kinh Sabbāsava. Nhưng ở đây, đức Thế Tôn dùng cái có tồn tại để chỉ cái không tồn tại, nên Ngài thuyết như vầy. Vì nếu đức Thế Tôn từ bỏ danh xưng “người đàn ông” rồi chỉ nói “các giới” và để tâm (thiện nam tử) hướng đến (các giới), thiện nam tử sẽ sinh nghi ngờ, rơi vào mê lầm, và không thể tiếp nhận lời thuyết pháp. Vì thế, đấng Như Lai từ từ dẫn dắt, từ bỏ danh xưng “người đàn ông” (với ý nghĩ): “Chúng sanh, người đàn ông, hay cá nhân chỉ là danh xưng mà thôi; theo nghĩa chân đế không có cái gọi là chúng sanh; Ta sẽ để tâm (vị ấy) chỉ hướng vào các giới rồi khiến vị ấy chứng ngộ ba Thánh quả”. Ngài thuyết như vậy giống như người thầy thông thạo nhiều ngôn ngữ khác nhau được đề cập trong kinh Anaṅgaṇa (ma. ni. 1.57 ādayo), dạy nghề cho học trò bằng ngôn ngữ này hay ngôn ngữ khác (tùy theo khả năng của học trò).
Tattha cha dhātuyo assāti chadhāturo. Idaṃ vuttaṃ hoti — Yaṃ tvaṃ purisoti sañjānāsi, so chadhātuko[30], na cettha paramatthato puriso atthi, purisoti pana paṇṇattimattamevāti. Sesapadesupi eseva nayo. Caturādhiṭṭhānoti ettha adhiṭṭhānaṃ vuccati patiṭṭhā, catupatiṭṭhānoti attho. Idaṃ vuttaṃ hoti — Svāyaṃ bhikkhu puriso chadhāturo chaphassāyatano aṭṭhārasamanopavicāro, so ettova vivaṭṭitvā uttamasiddhibhūtaṃ arahattaṃ gaṇhamāno imesu catūsu ṭhānesu patiṭṭhāya gaṇhātīti caturādhiṭṭhānoti. Yattha ṭhitanti yesu adhiṭṭhānesu patiṭṭhitaṃ. Maññassa vā nappavattantīti maññassa vā mānassa vā nappavattanti. Muni santoti vuccatīti khīṇāsavamuni upasanto nibbutoti vuccati. Paññaṃ nappamajjeyyāti arahattaphalapaññāya paṭivijjhanatthaṃ āditova samādhivipassanāpaññaṃ nappamajjeyya. Saccamanurakkheyyāti paramatthasaccassa nibbānassa sacchikiriyatthaṃ āditova vacīsaccaṃ rakkheyya. Cāgamanubrūheyyāti arahattamaggena sabbakilesapariccāgakaraṇatthaṃ āditova kilesapariccāgaṃ brūheyya. Santimeva so sikkheyyāti arahattamaggena sabbakilesavūpasamanatthaṃ āditova kilesavūpasamanaṃ sikkheyya. Iti paññādhiṭṭhānādīnaṃ adhigamatthāya imāni samathavipassanāpaññādīni pubbabhāgādhiṭṭhānāni vuttāni.
Ở đây, “có sáu giới” nghĩa là “có sáu giới”. Ý nghĩa được nói như sau: Cái mà ngươi nhận biết là “người đàn ông”, đó là (pháp) có sáu giới; ở đây, theo nghĩa chân đế không có người đàn ông tồn tại, mà “người đàn ông” chỉ là danh xưng mà thôi. Đối với các từ còn lại cũng có cùng phương thức này.
“Bốn sự thiết lập” – ở đây, “thiết lập” (adhiṭṭhāna) được gọi là “nền tảng” (patiṭṭhā), nghĩa là “bốn nền tảng”. Ý nghĩa được nói như sau: Này Tỳ-kheo, người đàn ông này có sáu giới, có sáu xúc xứ, có mười tám ý hành. Vị ấy chỉ quay về đây (sáu giới này), nắm lấy quả A-la-hán là thành tựu tối thượng, nắm lấy (quả A-la-hán) bằng cách nương tựa vào bốn chỗ này, vì thế gọi là “bốn sự thiết lập”.
“Tại nơi vị ấy an trú”: Nghĩa là dựa trên những nền tảng đã được thiết lập. Mạn hoặc tưởng chấp ngã không khởi lên: nghĩa là tưởng chấp ngã (maññā) hoặc mạn (māna) không khởi lên. Bậc trí gọi vị ấy là ẩn sĩ tịch tịnh: bậc hiền thánh lậu tận được gọi là đã tịch tịnh, đã niết-bàn. Không nên xao lãng về trí tuệ: Không nên xao lãng về Định tuệ và Minh sát tuệ ngay từ ban đầu để thấu triệt A-la-hán Quả Tuệ. Hãy gìn giữ Chân Lý: Nên gìn giữ lời nói chân thật từ đầu để tác chứng Chân Đế là Nibbāna. Nên làm tăng trưởng sự xả bỏ: Nên tích lũy việc buông bỏ ô nhiễm ngay từ đầu để thực hiện việc từ bỏ tất cả mọi nhiễm ô bằng Thánh Đạo A-la-hán. Hãy học tập sự tịch tịnh: Nên học tập việc vắng lặng ô nhiễm ngay từ đầu để an tịnh tất cả mọi nhiễm ô bằng Thánh Đạo A-ra-hán. Như vậy, để đạt được bốn nền tảng cứu cánh (Trí tuệ, Chân lý, Xả ly, An tịnh), Đức Thế Tôn đã thuyết về các nền tảng tiền đề bao gồm các loại trí tuệ Thiền định và Minh sát này.
345. Phassāyatananti phassassa āyatanaṃ, ākaroti attho. Paññādhiṭṭhānantiādīni pubbe vuttānaṃ arahattaphalapaññādīnaṃ vasena veditabbāni.
345. Xúc xứ [Phassāyatana]: xứ của xúc, có nghĩa là nơi sinh khởi (của xúc). Có tuệ là pháp nên được an trú trong tâm v.v, nên được hiểu theo A-la-hán quả tuệ v.v. đã được nói trước đây.
348. Idāni nikkhittamātikāvasena “yattha ṭhitaṃ maññassa vā nappavattantī”ti vattabbaṃ bhaveyya, arahatte pana patte puna “paññaṃ nappamajjeyyā”tiādīhi kiccaṃ natthi. Iti Bhagavā mātikaṃ uppaṭipāṭidhātukaṃ ṭhapetvāpi yathādhammavaseneva[31] vibhaṅgaṃ vibhajanto paññaṃ nappamajjeyyātiādimāha. Tattha ko paññaṃ pamajjati, ko nappamajjati? Yo tāva imasmiṃ sāsane pabbajitvā vejjakammādivasena ekavīsatividhāya anesanāya jīvikaṃ kappento pabbajjānurūpena cittuppādaṃ ṭhapetuṃ na sakkoti, ayaṃ paññaṃ pamajjati nāma. Yo pana sāsane pabbajitvā sīle patiṭṭhāya buddhavacanaṃ uggaṇhitvā sappāyaṃ dhutaṅgaṃ samādāya cittarucitaṃ kammaṭṭhānaṃ gahetvā vivittaṃ senāsanaṃ nissāya kasiṇaparikammaṃ katvā samāpattiṃ patvā ajjeva arahattanti vipassanaṃ vaḍḍhetvā vicarati, ayaṃ paññaṃ nappamajjati nāma. imasmiṃ pana sutte dhātukammaṭṭhānavasena esa paññāya appamādo vutto. Dhātukammaṭṭhāne panettha yaṃ vattabbaṃ, taṃ heṭṭhā Hatthipadopamasuttādīsu vuttameva.
348. Bây giờ, theo mātikā đã đặt ra, lẽ ra phải nói “đã được thiết lập ở đâu, mạn hoặc tưởng chấp ngã không khởi lên”, nhưng khi đã chứng đắc A-la-hán rồi thì không còn việc gì phải làm với “không nên buông lung về trí tuệ” v.v. nữa. Như vậy, Đức Thế Tôn đã đặt mātikā không theo thứ tự các giới, nhưng khi phân tích từng phần thì lại phân tích theo đúng pháp, nên mới nói “không nên buông lung về trí tuệ” v.v.
Ở đây, ai là người buông lung về trí tuệ? Ai là người không buông lung về trí tuệ? Người nào xuất gia trong giáo pháp này mà kiếm sống bằng hai mươi mốt loại tà mạng như làm nghề thầy thuốc v.v., không thể thiết lập tâm niệm phù hợp với người xuất gia, người này được gọi là buông lung về trí tuệ. Còn người nào xuất gia trong giáo pháp, được an trú trong giới, học tập lời Phật dạy, thọ trì pháp từ khước [dhutaṅga] thích hợp, nắm lấy nghiệp xứ thiền định ưa thích, nương tựa vào chỗ ở thanh vắng, thực hành sơ hành thiền định kasiṇa, chứng đạt thiền định, rồi phát triển minh sát với ý nghĩ “ngay hôm nay sẽ chứng A-la-hán”, người này được gọi là không buông lung về trí tuệ. Nhưng trong bài kinh này, sự không buông lung về trí tuệ được nói theo nghiệp xứ về giới (dhātukammaṭṭhāna). Còn điều cần nói về nghiệp xứ về giới ở đây thì đã được nói trong các kinh như Kinh Ví dụ Dấu chân Voi (Hatthipadopama) v.v. ở phần trước.
354. Athāparaṃ viññāṇaṃyeva avasissatīti ayampettha pāṭiyekko anusandhi. heṭṭhato hi rūpakammaṭṭhānaṃ kathitaṃ, idāni arūpakammaṭṭhānaṃ vedanāvasena nibbattetvā[32] dassetuṃ ayaṃ desanā āraddhā. Yaṃ vā panetaṃ imassa bhikkhuno pathavīdhātuādīsu āgamaniyavipassanāvasena kammakārakaviññāṇaṃ, taṃ viññāṇadhātuvasena bhājetvā dassentopi imaṃ desanaṃ ārabhi. Tattha avasissatīti kimatthāya avasissati? Satthu kathanatthāya kulaputtassa ca paṭivijjhanatthāya avasissati. Parisuddhanti nirupakkilesaṃ. Pariyodātanti pabhassaraṃ. sukhantipi vijānātīti sukhavedanaṃ vedayamāno sukhavedanaṃ vedayāmīti pajānāti. sesapadadvayesupi eseva nayo. sace panāyaṃ vedanākathā heṭṭhā na kathitā bhaveyya, idha ṭhatvā kathetuṃ vaṭṭeyya. Satipaṭṭhāne panesā kathitāvāti tattha kathitanayeneva veditabbā. Sukhavedaniyanti evamādi paccayavasena udayatthaṅgamanadassanatthaṃ vuttaṃ. Tattha sukhavedaniyanti sukhavedanāya paccayabhūtaṃ. Sesapadesupi eseva nayo.
354. “từ đó, những thứ còn lại là thức”: – đây là một điểm nối riêng biệt trong bài kinh này.
Bởi vì phần trước đã thuyết về Sắc nghiệp xứ (đề mục thiền về sắc pháp), giờ đây để chuyển sang thuyết về Vô sắc nghiệp xứ (đề mục thiền về pháp vô sắc) thông qua thọ, nên Đức Phật mới bắt đầu phần thuyết pháp này. Hoặc có thể hiểu rằng: thức tạo tác nghiệp (kammakāraka-viññāṇa) mà vị tỳ-kheo này có được thông qua tuệ minh sát hướng đến các giới như địa giới v.v., giờ đây Đức Phật phân tích và chỉ dạy thức ấy qua góc độ thức giới, nên mới bắt đầu phần thuyết pháp này.
Ở đây, “còn lại” (avasissati) có nghĩa là còn lại để làm gì? Còn lại để Đức Thế Tôn thuyết giảng và để thiện nam tử thấu triệt.
Thanh tịnh: xa lìa tùy phiền não. Trong sáng: chói sáng. Biết rõ được lạc: Nghĩa là khi đang cảm nghiệm một lạc thọ, vị ấy tuệ tri rằng “ta đang cảm nghiệm một lạc thọ”. Hai câu còn lại (về khổ và xả) cũng tương tự như vậy.
Nếu phần giảng về thọ này chưa được thuyết ở phần trước, thì đáng lẽ nên thuyết tại đây. Nhưng vì đã được thuyết trong Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta) rồi, nên nên hiểu theo cách đã được thuyết ở đó.
Các cụm từ như ‘là nơi thiết lập của lạc thọ’ được nói đến là để chỉ rõ sự sanh khởi và đoạn diệt của chúng theo duyên tố (paccaya).. Ở đây ‘là nơi thiết lập của lạc thọ’ nghĩa là những yếu tố đóng vai trò làm duyên cho lạc thọ phát sanh. Các phần còn lại cũng giải thích theo phương thức tương tự.
360. Upekkhāyeva avasissatīti ettāvatā hi yathā nāma chekena maṇikārācariyena vajirasūciyā vijjhitvā cammakhaṇḍe pātetvā pātetvā dinnamuttaṃ antevāsiko gahetvā gahetvā suttagataṃ karonto muttolambakamuttajālādīni karoti, evameva Bhagavatā kathetvā kathetvā dinnaṃ kammaṭṭhānaṃ ayaṃ kulaputto manasikaronto manasikaronto paguṇaṃ akāsīti rūpakammaṭṭhānampissa arūpakammaṭṭhānampi paguṇaṃ jātaṃ, atha bhagavā “athāparaṃ upekkhāyeva avasissatī”ti āha.
360. Những thứ còn lại là xả: Ví như một người học trò của bậc thầy thợ ngọc thiện xảo, anh ta nhận lấy những viên ngọc trai đã được thầy dùng kim cương khoan lỗ và đặt trên tấm da, rồi xâu chúng lại bằng chỉ để tạo thành những chuỗi ngọc hay lưới ngọc trang sức. Cũng vậy, vị thiện nam tử này [Pukkusāti] đã liên tục tác ý và rèn luyện những đề mục nghiệp xứ mà Đức Thế Tôn ban cho, khiến cho cả Sắc nghiệp xứ và Danh nghiệp xứ (Vô sắc) của vị ấy đều trở nên thuần thục (paguṇa). Vì lý do đó, Đức Thế Tôn mới nói: “hơn nữa, những thứ còn lại là xả”.
Kimatthaṃ pana avasissatīti? Satthu kathanatthaṃ. Kulaputtassa paṭivijjhanatthantipi vadanti, taṃ na gahetabbaṃ. kulaputtena hi sahāyassa sāsanaṃ vācetvā pāsādatale ṭhiteneva ānāpānacatutthajjhānaṃ nibbattitaṃ, yadassa[33] ettakaṃ maggaṃ āgacchantassa yānakiccaṃ sādheti. Satthu kathanatthaṃyeva avasissati. imasmiñhi ṭhāne satthā kulaputtassa rūpāvacarajjhāne vaṇṇaṃ kathesi. idañhi vuttaṃ hoti “bhikkhu paguṇaṃ tava idaṃ rūpāvacaracatutthajjhānan”ti. Parisuddhātiādi tassāyeva upekkhāya vaṇṇabhaṇanaṃ. Ukkaṃ bandheyyāti aṅgārakapallaṃ sajjeyya. Ālimpeyyāti tattha aṅgāre pakkhipitvā aggiṃ datvā nāḷikāya dhamento aggiṃ jāleyya. Ukkāmukhe pakkhipeyyāti aṅgāre viyūhitvā aṅgāramatthake vā ṭhapeyya, tattake vā pakkhipeyya. Nīhaṭanti[34] nīhaṭadosaṃ. Ninnītakasāvanti apanītakasāvaṃ. Evameva khoti yathā taṃ suvaṇṇaṃ icchiticchitāya piḷandhanavikatiyā saṃvattati, evameva ayaṃ tāva catutthajjhānupekkhā vipassanā abhiññā nirodho bhavokkantīti imesu yaṃ icchati, tassatthāya[35] hotīti vaṇṇaṃ kathesi.
Tại sao lại nói là “còn lại”? Đó là để làm cơ sở cho lời thuyết giảng của bậc Đạo Sư. Có ý kiến cho rằng “còn lại” là để vị thiện nam thấu triệt, nhưng quan điểm này không nên chấp nhận. Bởi lẽ, ngay khi còn ở trên lầu cao sau khi đọc thư, vị ấy đã chứng đắc Tứ thiền niệm hơi thở và định lực đó đã đóng vai trò như phương tiện giúp vị ấy vượt qua quãng đường dài mà không mệt mỏi. Do đó, “còn lại” ở đây thuần túy là để Đức Thế Tôn có điểm tựa để thuyết giảng.
Trong đoạn này, bậc Đạo Sư muốn tán dương công đức (guṇa) của Tứ thiền Sắc giới cho vị ấy. Ý Ngài muốn nói: “Này Tỳ-kheo, Tứ thiền Sắc giới này của ông đã được thuần thục”. Các từ như “Thanh tịnh”… là lời tán dương chính trạng thái Xả đó.
Đốt lửa miệng lò: chuẩn bị khuôn đúc lò. Chất đống: đặt than đốt vào trong khuôn đúc ấy rồi đốt lửa, dùng bơm thổi làm cho lửa cháy lên. Đặt khuôn đúc: gắp than đốt đặt lên than đốt, hoặc đặt than đốt lên than đốt ấy. Phủi sạch tạp chất: là loại bỏ cặn bã, tạp chất. Hết tỳ vết: là các vết đục, vết bẩn, phần cứng, phần chát… đều được loại bỏ. Tương tự như thế: Giống như vàng sau khi luyện xong có thể uốn nắn thành bất kỳ món trang sức nào theo ý muốn; cũng vậy, trạng thái Xả của Tứ thiền này rất hữu dụng cho bất cứ mục tiêu nào mà hành giả mong muốn, dù là Minh sát, Thần thông (Thắng trí), Diệt tận định, hay thậm chí là tái sinh vào các cõi hữu (bhavokkanti).
Kasmā pana bhagavā imasmiṃ rūpāvacaracatutthajjhāne nikantipariyādānatthaṃ avaṇṇaṃ akathetvā vaṇṇaṃ kathesīti. Kulaputtassa hi catutthajjhāne nikantipariyuṭṭhānaṃ balavaṃ. Sace avaṇṇaṃ katheyya, — “mayhaṃ pabbajitvā dvānavutiyojanasataṃ āgacchantassa imaṃ catutthajjhānaṃ yānakiccaṃ sādhesi, ahaṃ ettakaṃ maggaṃ āgacchanto jhānasukhena jhānaratiyā āgato, evarūpassa nāma paṇītadhammassa avaṇṇaṃ katheti, jānaṃ nu kho katheti ajānan”ti kulaputto saṃsayaṃ sammohaṃ āpajjeyya, tasmā bhagavā vaṇṇaṃ kathesi.
Tại sao Đức Phật lại tán dương mà không chỉ ra lỗi lầm (sự bất cập) của Tứ thiền? Vì sự ái luyến (nikanti) của vị thiện nam đối với Tứ thiền này còn rất mạnh. Nếu Đức Thế Tôn chê trách nó ngay lập tức, vị ấy có thể nảy sinh nghi ngờ hoặc mê mờ: “Khi ta xuất gia và đi bộ suốt 192 do-tuần, chính Tứ thiền này đã hộ trì ta, giúp ta hưởng niềm vui và hỷ lạc suốt dọc đường. Vậy mà Ngài lại chê trách một pháp cao thượng như thế này, chẳng hay Ngài nói vậy là vì biết rõ hay là không biết?”. Để tránh sự hoài nghi đó, Đức Thế Tôn đã chọn cách tán dương trước.
361. Tadanudhammanti ettha arūpāvacarajjhānaṃ dhammo nāma, taṃ anugatattā rūpāvacarajjhānaṃ anudhammoti vuttaṃ. Vipākajjhānaṃ vā dhammo, kusalajjhānaṃ anudhammo. Tadupādānāti taggahaṇā. Ciraṃ dīghamaddhānanti vīsatikappasahassāni. Vipākavasena hetaṃ vuttaṃ. ito uttarimpi eseva nayo.
361. Có Pháp phù hợp cho thiền ấy: thiền Vô sắc gọi là Dhamma [Pháp]. còn thiền Sắc giới (vốn là bước đệm) được gọi là Tùy Pháp (Anudhamma) vì nó đi theo hỗ trợ cho thiền Vô sắc. Hoặc một cách giải thích khác: Thiền Quả (Vipākajjhāna) được gọi là Pháp, còn thiền Thiện (Kusalajjhāna) được gọi là Tùy Pháp. Chấp thủ Không vô biên xứ: việc chấp thủ Không vô biên xứ ấy. Trong một thời gian dài: Con số này được đưa ra dựa trên mãnh lực của Dị thục quả (Vipākavasena) (tức thọ mạng của vị phạm thiên ở tầng Không vô biên xứ). Đối với các tầng thiền cao hơn tiếp theo, phương thức giải thích cũng tương tự như vậy.
362. Evaṃ catūhi vārehi arūpāvacarajjhānassa vaṇṇaṃ kathetvā idāni tasseva ādīnavaṃ dassento so evaṃ pajānātītiādimāha. Tattha saṅkhatametanti kiñcāpi ettha vīsatikappasahassāni āyu atthi, etaṃ pana saṅkhataṃ pakappitaṃ āyūhitaṃ, karontena karīyati, aniccaṃ adhuvaṃ asassataṃ tāvakālikaṃ, cavanaparibhedana[36] viddhaṃsanadhammaṃ, jātiyā anugataṃ, jarāya anusaṭaṃ, maraṇena abbhāhataṃ, dukkhe patiṭṭhitaṃ, atāṇaṃ aleṇaṃ asaraṇaṃ asaraṇībhūtanti. viññāṇañcāyatanādīsupi eseva nayo.
362. Sau khi đã tán dương thiền Vô sắc giới qua bốn chặng như vậy, nay để chỉ ra tính bất toàn (ādīnava) của chính chúng, Đức Thế Tôn mới thuyết: “vị ấy biết rõ như vậy v.v.” Ở đây, cụm từ ‘tâm này cũng là Hữu vi’: Dù thọ mạng ở cõi này [Không vô biên xứ] dài đến hai mươi ngàn đại kiếp là thật, nhưng thọ mạng ấy vẫn là hữu vi (saṅkhata), bị tạo tác (pakappita), do tích lũy nghiệp (āyūhita) mà thành. Ngài giải thích rằng: Thọ mạng ấy là vô thường, không bền vững, không trường tồn, chỉ có tính tạm thời; bản chất của nó là biến đổi, tan rã và tiêu diệt; nó bị chi phối bởi sinh, bị đuổi theo bởi già, bị hành hạ bởi chết; nó thiết lập trong khổ, không có nơi che chở, không có nơi trú ẩn, không có nơi nương tựa thực sự. Đối với các tầng Thức vô biên xứ… phương thức giải thích cũng tương tự như vậy.
Idāni arahattanikūṭena desanaṃ gaṇhanto so neva taṃ abhisaṅkharotītiādimāha. Yathā hi cheko bhisakko visavikāraṃ disvā vamanaṃ kāretvā visaṃ ṭhānato cāvetvā upari āropetvā khandhaṃ vā sīsaṃ vā gahetuṃ adatvā visaṃ otāretvā pathaviyaṃ pāteyya, evameva Bhagavā kulaputtassa arūpāvacarajjhāne vaṇṇaṃ kathesi. Taṃ sutvā kulaputto rūpāvacarajjhāne nikantiṃ pariyādāya arūpāvacarajjhāne patthanaṃ ṭhapesi.
Bấy giờ, để đưa Pháp thoại đến đỉnh cao A-la-hán (arahattanikūṭa), Ngài thuyết: “Vị ấy không còn tạo tác (abhisaṅkharoti)…”.
Ví như một vị thầy thuốc tài giỏi, khi thấy triệu chứng trúng độc liền cho bệnh nhân uống thuốc nôn để trục chất độc ra khỏi vị trí của nó, đưa nó lên trên, không để chất độc thấm vào vai hay đầu, rồi khiến bệnh nhân nôn chất độc ấy ra mặt đất như thế nào; thì Đức Thế Tôn cũng làm tương tự như thế khi Ngài tán dương thiền Vô sắc giới trước vị thiện nam tử. Sau khi nghe tán dương về thiền Vô sắc, vị thiện nam tử đã đoạn trừ được sự ái luyến (nikanti) trong thiền Sắc giới và hướng tâm đến thiền Vô sắc.
Bhagavā taṃ ñatvā taṃ asampattassa appaṭiladdhasseva bhikkhuno “atthesā ākāsānañcāyatanādīsu sampatti nāma. tesañhi paṭhamabrahmaloke vīsatikappasahassāni āyu, dutiye cattālīsaṃ, tatiye saṭṭhi, catutthe caturāsīti kappasahassāni āyu. Taṃ pana aniccaṃ adhuvaṃ asassataṃ tāvakālikaṃ, cavanaparibhedanaviddhaṃsanadhammaṃ, jātiyā anugataṃ, jarāya anusaṭaṃ, maraṇena abbhāhataṃ, dukkhe patiṭṭhitaṃ, atāṇaṃ aleṇaṃ asaraṇaṃ asaraṇībhūtaṃ, ettakaṃ kālaṃ tattha sampattiṃ anubhavitvāpi puthujjanakālakiriyaṃ katvā puna catūsu apāyesu patitabban”ti sabbametaṃ ādīnavaṃ ekapadeneva “saṅkhatametan”ti kathesi. kulaputto taṃ sutvā arūpāvacarajjhāne nikantiṃ pariyādiyi, bhagavā tassa rūpāvacarārūpāvacaresu nikantiyā pariyādinnabhāvaṃ ñatvā arahattanikūṭaṃ gaṇhanto “so neva taṃ abhisaṅkharotī”tiādimāha.
Đức Thế Tôn biết rằng vị Tỳ-kheo ấy [Pukkusāti] dù chưa đạt được các tầng thiền Vô sắc, nhưng đã khởi tâm mong cầu chúng sau khi đã đoạn trừ được sự dính mắc vào thiền Sắc giới. Vì vậy, Ngài đã chỉ ra toàn bộ sự bất toàn (ādīnava) của các tầng thiền Vô sắc ấy chỉ bằng một cụm từ: “Cái này là hữu vi” (saṅkhatametaṃ).
Ngài phân tích rằng “trong Không vô biên xứ v.v, tồn tại thì tuổi thọ của chúng sanh có được trong cõi Không vô biên xứ ấy là hai mươi ngàn đại kiếp, ở cõi Phạm thiên Vô sắc thứ 2[37] có bốn mươi ngàn đại kiếp, ở cõi Phạm thiên Vô sắc thứ 3[38] có tuổi thọ sáu mươi ngàn đại kiếp, ở cõi Phạm thiên Vô sắc thứ 4[39] có tuổi thọ tám mươi bốn ngàn đại kiếp,
nhưng tất cả đều là vô thường, không bền vững, không trường tồn, chỉ là tạm thời. Bản chất của chúng là biến đổi, tan rã và tiêu diệt. Chúng bị chi phối bởi sinh, già và chết, được thiết lập trong khổ và không có nơi nương tựa thực sự. Sau khi thọ hưởng hết phước báu ở đó, nếu vẫn còn là phàm phu (puthujjana), một người vẫn có thể mạng chung và rơi vào bốn khổ cảnh (apāya)”.
Sau khi nghe lời này, vị thiện nam tử đã đoạn tận sự ái luyến (nikanti) đối với thiền Vô sắc. Khi biết tâm vị ấy đã không còn dính mắc vào cả thiền Sắc giới lẫn Vô sắc giới, Đức Thế Tôn mới dẫn dắt vị ấy đến đỉnh cao A-la-hán bằng cách thuyết: “Vị ấy không còn tạo tác (abhisaṅkharoti)…”.
Yathā vā paneko mahāyodho ekaṃ rājānaṃ ārādhetvā satasahassuṭṭhānakaṃ gāmavaraṃ labheyya, puna rājā tassānubhāvaṃ saritvā — “mahānubhāvo yodho, appakaṃ tena laddhan”ti — “nāyaṃ tāta gāmo tuyhaṃ anucchaviko, aññaṃ catusatasahassuṭṭhānakaṃ gaṇhāhī”ti dadeyya so sādhu devāti taṃ vissajjetvā itaraṃ gāmaṃ gaṇheyya. Rājā asampattameva ca naṃ pakkosāpetvā — “kiṃ te tena, ahivātarogo ettha uppajjati? asukasmiṃ pana ṭhāne mahantaṃ nagaraṃ atthi, tattha chattaṃ ussāpetvā rajjaṃ kārehī”ti pahiṇeyya, so tathā kareyya.
Điều này cũng giống như một vị đại chiến sĩ sau khi lập công được đức vua ban cho một ngôi làng trị giá một trăm ngàn. Sau đó, nhà vua nhớ lại uy lực của người chiến sĩ và nghĩ: “Người này tài giỏi mà nhận phần thưởng ít thế kia thật không xứng đáng”. Nhà vua bèn bảo: “Này khanh, ngôi làng này không xứng với khanh, hãy nhận lấy ngôi làng khác trị giá bốn trăm ngàn”. Người chiến sĩ thưa: “Lành thay, tâu bệ hạ”, rồi trả lại làng cũ để nhận làng mới.
Nhưng khi vị ấy còn chưa kịp đến ngôi làng mới, đức vua đã cho gọi vị ấy lại và phán: “Ngôi làng đó có ích gì cho khanh đâu? Ở đó đang có dịch bệnh chết người (ahivātarogo) phát khởi. Ở đằng kia có một thành phố lớn, khanh hãy đến đó, dựng lọng trắng và trị vì như một vị vua”. Vị đại chiến sĩ đã làm theo như vậy.
Tattha rājā viya sammāsambuddho daṭṭhabbo, mahāyodho viya pukkusāti kulaputto, paṭhamaladdhagāmo viya ānāpānacatutthajjhānaṃ, taṃ vissajjetvā itaraṃ gāmaṃ gaṇhāhīti vuttakālo viya ānāpānacatutthajjhāne nikantipariyādānaṃ katvā āruppakathanaṃ, taṃ gāmaṃ asampattameva pakkosāpetvā “kiṃ te tena, ahivātarogo ettha uppajjati? asukasmiṃ ṭhāne nagaraṃ atthi, tattha chattaṃ ussāpetvā rajjaṃ kārehī”ti vuttakālo viya arūpe saṅkhatametanti ādīnavakathanena appattāsuyeva tāsu samāpattīsu patthanaṃ nivatthāpetvā upari arahattanikūṭena desanāgahaṇaṃ.
Ở đây, nên thấy bậc Chánh đẳng Chánh giác như đức vua, pukkusāti như đại dũng sĩ, đề mục niệm hơi thở Tứ thiền giống như ngôi làng thứ nhất, việc phá tan sự tham muốn trong đề mục thiền niệm hơi thở, rồi thuyết về thiền Vô sắc giống như việc cho vị đại dũng sĩ bỏ ngôi làng ấy rồi nói rằng “khanh hãy lấy ngôi làng này.” Việc cho thiện nam tử ấy thay đổi sự ước muốn trong những thiền chứng ấy mà vẫn chưa đạt đến bằng việc nói về lỗi lầm ở thiền Vô sắc rằng ‘Tâm đó cũng là Hữu vi’ rồi thuyết giảng về đỉnh cao quả vị A-ra-hán tương tự như thời gian cho gọi vị đại dũng sĩ ấy lúc chưa đi đến ngôi làng kia (ngài) nói rằng: “Có lợi ích gì cho khanh ở ngôi làng ấy, bệnh truyền nhiễm đang phát bộc phát ở ngôi làng ấy, ở đằng kia có thành phố, khanh hãy nâng cây lọng tạo dựng vương quyền ở thành phố ấy.”
Tattha neva abhisaṅkharotīti nāyūhati na rāsiṃ karoti. Na abhisañcetayatīti na kappeti. Bhavāya vā vibhavāya vāti vuddhiyā vā parihāniyā vā, sassatucchedavasenapi yojetabbaṃ. Na kiñci loke upādiyatīti loke rūpādīsu kiñci ekadhammampi taṇhāya na gaṇhāti, na parāmasati. Nāparaṃ itthattāyāti pajānātīti bhagavā attano buddhavisaye ṭhatvā desanāya arahattanikūṭaṃ gaṇhi. Kulaputto pana attano yathopanissayena tīṇi sāmaññaphalāni paṭivijjhi. Yathā nāma rājā suvaṇṇabhājanena nānārasabhojanaṃ bhuñjanto attano pamāṇena piṇḍaṃ vaṭṭetvā aṅke nisinnena rājakumārena piṇḍamhi ālaye dassite taṃ piṇḍaṃ upanāmeyya, kumāro attano mukhappamāṇeneva kabaḷaṃ kareyya, sesaṃ rājā sayaṃ vā bhuñjeyya, pātiyaṃ vā pakkhipeyya, Evaṃ dhammarājā Tathāgato attano pamāṇena arahattanikūṭaṃ gaṇhanto desanaṃ desesi, kulaputto attano yathopanissayena tīṇi sāmaññaphalāni paṭivijjhi.
Ở đây, không bị tạo tác: Nghĩa là không còn tích lũy nghiệp, không còn xây đắp thêm “đống” phiền não. Không nhớ đến: sẽ không suy tư đến. Sự tăng trưởng và sự suy hoại: Nghĩa là không còn tạo tác vì sự tăng trưởng hay suy thoái, hoặc có thể hiểu là không còn rơi vào chấp Thường (Sassata) hay chấp Đoạn (Uccheda). Không chấp thủ bất kỳ thứ gì ở trên đời: Nghĩa là không dùng ái dục để nắm giữ hay bám víu vào bất kỳ pháp nào trong thế gian này (như Sắc…). Biết rõ… không còn phận sự nào khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa: đức Thế Tôn vững trú trong buddhavisaya [cảnh giới của đức Phật] của chính ngài nắm lấy đỉnh cao quả vị A-ra-hán bằng Pháp thoại. Còn thiện nam tử thấu triệt được 3 Quả của Sa-môn[40] theo căn tánh của mình. Giống như đức vua thọ dụng thức ăn có các hương vị khác nhau bằng cái bát vàng. Ngài vắt một nắm cơm lớn theo khẩu phần của mình. Vị vương tử đang ngồi trên đùi thấy nắm cơm liền tỏ ý muốn ăn, đức vua bèn đưa cho. Vương tử chỉ lấy một miếng vừa miệng mình để ăn, phần còn lại đức vua tự dùng hoặc bỏ lại vào đĩa. Cũng vậy, Đức Pháp Vương Như Lai đã thuyết giảng về đỉnh cao A-la-hán theo tầm mức của Ngài, còn thiện nam tử tùy theo căn cơ của mình mà thấu triệt được ba quả vị đầu.
Ito pubbe panassa khandhā dhātuyo āyatanānīti evarūpaṃ accantasuññataṃ tilakkhaṇāhataṃ kathaṃ kathentassa neva kaṅkhā, na vimati, nāpi — “evaṃ kira taṃ, evaṃ me ācariyena vuttan”ti iti kira na dandhāyitattaṃ na vitthāyitattaṃ atthi. Ekaccesu ca kira ṭhānesu buddhā aññātakavesena vicaranti, Sammāsambuddho nu kho esoti ahudeva saṃsayo, ahu vimati. Yato anena anāgāmiphalaṃ paṭividdhaṃ, atha ayaṃ me satthāti niṭṭhaṃ gato. Yadi evaṃ kasmā accayaṃ na desesīti. Okāsābhāvato. Bhagavā hi yathānikkhittāya mātikāya acchinnadhāraṃ katvā ākāsagaṅgaṃ otārento viya desanaṃ desesiyeva.
Trước đó[41], khi vị ấy thuyết giảng về uẩn, giới, xứ… như vậy, với pháp thoại đánh mạnh vào Tam tướng (tilakkhaṇa) và nêu rõ tánh trống rỗng tuyệt đối (accantasuññatā), thì nơi vị ấy không có nghi ngờ (kaṅkhā), không có do dự (vimati), cũng không có ý nghĩ kiểu như “Xem ra chắc là như vậy, thầy ta cũng dạy ta như vậy”. Ở đây, hoàn toàn không có sự chậm chạp, không có sự lan man rườm rà trong lời nói.
Nghe nói rằng trong một số trường hợp, các đức Phật đi lại với hình tướng không được nhận ra (ẩn tướng, như người lạ), nên đã từng có khởi lên nghi ngờ và do dự: “Có phải đây là bậc Chánh Đẳng Giác hay không?”
Nhưng kể từ khi vị này chứng đắc A-na-hàm quả, thì đã đi đến chỗ quyết định dứt khoát rằng: “Vị này chính là bậc Đạo Sư của ta”.
Nếu như vậy, tại sao (trước đó) vị ấy không tự bày tỏ lỗi lầm (đã phạm) của mình? Là vì không có cơ hội.
Bởi vì Thế Tôn, y theo “mātikā” đã nêu ra trước đó, đã thuyết Pháp liên tục, không gián đoạn, giống như khiến cho dòng sông Hằng trên không trung tuôn chảy xuống vậy.
363. Soti arahā. Anajjhositāti gilitvā pariniṭṭhāpetvā gahetuṃ na yutthāti pajānāti. Anabhinanditāti taṇhādiṭṭhivasena abhinandituṃ na yuttāti pajānāti.
363. Vị ấy: vị A-ra-hán đó. Không đáng bị đắm trước: biết rõ rằng không thích hợp, để nuốt vào, dính mắc, giữ lấy. Không đáng vui mừng: biết rõ rằng không nên hân hoan do tác động của tham ái và tà kiến.
364. Visaṃyutto naṃ vedetīti sace hissa sukhavedanaṃ ārabbha rāgānusayo, dukkhavedanaṃ ārabbha paṭighānusayo, itaraṃ ārabbha avijjānusayo uppajjeyya, saṃyutto vediyeyya nāma. Anuppajjanato pana visaṃyutto naṃ vedeti nissaṭo[42] vippamutto. Kāyapariyantikanti kāyakoṭikaṃ. Yāva kāyapavattā uppajjitvā tato paraṃ anuppajjanavedananti attho. Dutiyapadepi eseva nayo. Anabhinanditāni sītībhavissantīti dvādasasu āyatanesu kilesānaṃ visevanassa[43] natthitāya anabhinanditāni hutvā idha dvādasasuyeva āyatanesu nirujjhissanti. Kilesā hi nibbānaṃ āgamma niruddhāpi yattha natthi, tattha niruddhāti vuccanti. Svāyamattho — “etthesā taṇhā nirujjhamānā nirujjhatī”ti samudayapañhena dīpetabbo. Tasmā Bhagavā nibbānaṃ āgamma sītibhūtānipi idheva sītībhavissantīti āha. Nanu ca idha vedayitāni vuttāni, na kilesāti. Vedayitānipi kilesābhāveneva sītībhavanti. Itarathā nesaṃ sītibhāvo nāma natthīti suvuttametaṃ.
364. Cảm nhận mà không bị ràng buộc: Thông thường, nếu một người cảm nghiệm Lạc thọ mà khởi lên Tham tùy miên, cảm nghiệm Khổ thọ mà khởi lên Sân tùy miên, hoặc cảm nghiệm các thọ khác (Xả thọ) mà khởi lên Si tùy miên, thì người đó được gọi là cảm thọ với tâm bị ràng buộc (Saṃyutto). Nhưng vì các Tùy miên (Anusaya) này không còn sanh khởi nữa, nên vị ấy cảm thọ với tâm không ràng buộc, đã giải thoát và ly khai hoàn toàn khỏi chúng. Có thân là tối hậu: Nghĩa là các cảm thọ này chỉ phát khởi cho đến khi thân xác còn vận hành (Yāva kāyapavattā); sau khi thân này tan rã, chúng sẽ không còn sanh khởi nữa. (Câu thứ hai về thọ mạng cũng giải thích tương tự). Những gì không được hoan hỷ sẽ trở nên thanh lương:
Vì mười hai xứ không còn bị các phiền não thâm nhập, nên các cảm thọ không được hân hoan (không bị dính mắc) sẽ trở nên tịch tĩnh (mát lạnh) ngay tại mười hai xứ này.
Về bản chất, khi các phiền não đã được đoạn tận nhờ đắc Níp-bàn, chúng được gọi là “đã diệt” ở nơi mà chúng không còn hiện hữu nữa. Ý nghĩa này được soi sáng qua câu hỏi về sự Tập khởi: “Tham ái này khi đoạn diệt sẽ đoạn diệt ở chính nơi ấy”. Vì thế, Đức Thế Tôn mới dạy rằng: Dù là trạng thái tịch tĩnh do nương vào Níp-bàn, nhưng chúng sẽ trở nên “mát lạnh” ngay tại đời này (nơi sáu căn sáu trần này).
Phải chăng ở đây đang nói đến các “cảm thọ” (vedayitāni) chứ không phải “phiền não”? Thực tế, chính nhờ sự vắng bóng của phiền não mà các cảm thọ mới trở nên mát lạnh. Nếu không, chúng không bao giờ có được sự tịch tĩnh ấy. Vì vậy, lời dạy này đã được khéo thuyết giảng.
365. Evameva khoti ettha idaṃ opammasaṃsandanaṃ — yathā hi eko puriso telapadīpassa jhāyato tele khīṇe telaṃ āsiñcati, vaṭṭiyā khīṇāya vaṭṭiṃ pakkhipati, evaṃ dīpasikhāya anupacchedova hoti, evameva puthujjano ekasmiṃ bhave ṭhito kusalākusalaṃ karoti, so tena sugatiyañca apāyesu ca nibbattatiyeva, evaṃ vedanānaṃ anupacchedova hoti. Yathā paneko dīpasikhāya ukkaṇṭhito — “imaṃ purisaṃ āgamma dīpasikhā na upacchijjatī”ti nilīno tassa purisassa sīsaṃ chindeyya, evaṃ vaṭṭiyā ca telassa ca anupahārā dīpasikhā anāhārā nibbāyati, evameva vaṭṭe ukkaṇṭhito yogāvacaro arahattamaggena kusalākusalaṃ samucchindati, tassa samucchinnattā khīṇāsavassa bhikkhuno kāyassa bhedā puna vedayitāni na uppajjantīti.
365. Đây là ví dụ so sánh trong câu này “Cũng tương tự như thế” – “Giống như một người đàn ông trong lúc cầm cây đèn dầu, cho đến khi cây đèn dầu hết dầu (vị ấy) sẽ thêm dầu vào, khi tim đèn hết (vị ấy) cũng phải thay tim, chính vì thế mà ngọn đèn không bị tắt như thế nào, thì phàm nhân cũng tương tự như thế ấy vững trú trong một kiếp tạo thiện nghiệp hoặc bất thiện nghiệp, vị ấy cũng sẽ hóa sanh vào các thiên giới và các cõi khổ do thiện nghiệp và bất thiện nghiệp đó, nếu như vậy các cảm thọ hoàn toàn không bị đứt đoạn. Hơn nữa, giống như một người cảm thấy khó chịu với ngọn đèn nghĩ rằng: “Do y cứ người đàn ông này nên ngọn đèn mới tắt” mới ẩn núp chặt đầu người đàn ông ấy. Như vậy, khi không còn được tiếp thêm tim đèn và dầu, ngọn đèn không còn nhiên liệu nên tắt lịm; cũng vậy, hành giả cảm thấy nhàm chán với luân hồi, dùng A-la-hán đạo để đoạn tuyệt cả thiện nghiệp lẫn bất thiện nghiệp,Do tính chất thiện ấy đã bị cắt đứt, sự cảm thọ các đối tượng không sanh khởi nữa đối với vị Tỳ khưu bậc lậu tận, vì sự tan rã của thân.
Tasmāti yasmā ādimhi samādhivipassanāpaññāhi arahattaphalapaññā uttaritarā, tasmā. Evaṃ samannāgatoti iminā uttamena arahattaphalapaññādhiṭṭhānena samannāgato. Sabbadukkhakkhaye ñāṇaṃ nāma arahattamagge ñāṇaṃ, imasmiṃ pana sutte arahattaphale ñāṇaṃ adhippetaṃ. Tenevāha tassa sā vimutti sacce ṭhitā akuppā hotīti.
Vì thế: Do Tuệ A-la-hán Thánh Quả vượt trội hơn Định tuệ và Minh sát tuệ ban đầu. Vị đã thành tựu đầy đủ với sự cảm nhận như vậy: tức là đã thành tựu với sự thiết lập nền tảng vào tuệ A-la-hán quả cao thượng này. Trí về sự đoạn tận tất cả mọi khổ được gọi là trí của A-la-hán đạo, nhưng trong bài kinh này, ý muốn chỉ đến trí của A-la-hán quả. Chính vì lý do đó mới nói rằng: “Sự giải thoát của vị ấy an trú vào chân lý, bất động”.
366. Ettha hi vimuttīti arahattaphalavimutti, saccanti paramatthasaccaṃ nibbānaṃ. Iti akuppārammaṇakaraṇena akuppāti vuttā. Musāti vitathaṃ. Mosadhammanti nassanasabhāvaṃ. Taṃ saccanti taṃ avitathaṃ sabhāvo. Amosadhammanti anassanasabhāvaṃ.
366. Trong câu này, “sự giải thoát” là sự giải thoát của A-la-hán quả. “Chân lý” là chân lý tối thượng, tức Nibbāna. Như vậy, (sự giải thoát đó) được gọi là “bất động” vì lấy cái bất động làm đối tượng. Dối trá: không thật. Có tính chất dối trá: có tính chất tan rã. Điều đó là sự thật: tức là điều đó có bản chất không hư dối. Có tính chất không dối trá: có tính chất không tan rã.
Tasmāti yasmā ādito samathavipassanāvasena vacīsaccato dukkhasaccasamudayasaccehi ca paramatthasaccaṃ nibbānameva uttaritaraṃ, tasmā. Evaṃ samannāgatoti iminā uttamena paramatthasaccādhiṭṭhānena samannāgato.
Do đó: bởi Pháp Chân Đế chính là Nibbāna đó cao quý hơn lời nói chân thật [vacīsacca], (hay) sự thật về khổ và sự thật về nguyên nhân của khổ do mãnh lực của Chỉ tịnh và Minh sát ban đầu. Vị đã thành tựu đầy đủ với sự cảm nhận như vậy: tức là đã thành tựu với sự thiết lập nền tảng vào chân lý tối thượng cao quý này.
367. Pubbeti puthujjanakāle. Upadhī hontīti khandhūpadhi kilesūpadhi abhisaṅkhārūpadhi pañcakāmaguṇūpadhīti ime upadhayo honti. Samattā samādinnāti paripūrā gahitā paramaṭṭhā. Tasmāti yasmā ādito samathavipassanāvasena kilesapariccāgato, sotāpattimaggādīhi ca kilesapariccāgato arahattamaggeneva kilesapariccāgo uttaritaro, tasmā. Evaṃ samannāgatoti iminā uttamena cāgādhiṭṭhānena samannāgato.
367. Trước kia: là trong thời gian còn là phàm như. Bản thể của sự tái sanh: những bản thể của sự tái sanh này – bản thể của sự tái sanh là Uẩn, bản thể của sự tái sanh là phiền não, bản thể của sự tái sanh là sự tạo tác, bản thể của sự tái sanh là sự trói chặt vào năm loại dục. Được đầy đủ, được thọ trì: trọn vẹn, là được nắm lấy, được bám víu. Do đó: bởi Pháp Chân Đế chính là Nibbāna đó cao quý hơn việc xả bỏ ô nhiễm do mãnh lực của Chỉ tịnh và Minh sát ban đầu và cao quý hơn việc xả bỏ phiền não bằng Thánh Đạo Tu-đà-hoàn v.v. Vị thành tựu với việc từ bỏ như vậy: vị thành tựu toàn vẹn với nguyện vọng dứt bỏ cao quý này.
368. Āghātotiādīsu āghātakaraṇavasena āghāto, byāpajjanavasena byāpādo, sampadussanavasena sampadosoti tīhi padehi[44] dosākusalamūlameva vuttaṃ. Tasmāti yasmā ādito samathavipassanāvasena kilesavūpasamato, sotāpattimaggādīhi kilesavūpasamato ca arahattamaggeneva kilesavūpasamo uttaritaro, tasmā. Evaṃ samannāgatoti iminā uttamena upasamādhiṭṭhānena samannāgato.
368. Sự hiềm khích là hiềm hận theo nghĩa tạo ra sân hận. Sân độc: do tác động ác ý. Suy nghĩ làm hại: là theo nghĩa làm ô uế, làm hư hỏng. Bằng ba từ này, chỉ nói đến chính căn bất thiện sân (dosā‑akusalamūla). Vì lý do đó: bởi vì, so với sự lắng dịu (vūpasama) các phiền não do chỉ và quán (samatha‑vipassanā) từ ban đầu, và sự lắng dịu các phiền não do các đạo như Dự lưu đạo v.v., thì sự lắng dịu các phiền não do A‑la‑hán đạo vẫn tối thắng hơn; Vị thành tựu với sự tĩnh lặng như vậy: tức là đã thành tựu với nền tảng an tịnh tối thắng (upasamādhiṭṭhāna cao thượng) này.
369. Maññitametanti taṇhāmaññitaṃ mānamaññitaṃ diṭṭhimaññitanti tividhampi vaṭṭati. Ayamahamasmīti ettha pana ayamahanti ekaṃ taṇhāmaññitameva vaṭṭati. Rogotiādīsu ābādhaṭṭhena rogo, antodosaṭṭhena gaṇḍo, anupaviṭṭhaṭṭhena sallaṃ. Muni santoti vuccatīti khīṇāsavamuni santo nibbutoti vuccati. Yattha ṭhitanti yasmiṃ ṭhāne ṭhitaṃ. Saṃkhittenāti Buddhānaṃ kira sabbāpi dhammadesanā saṃkhittāva, vitthāradesanā nāma natthi, samantapaṭṭhānakathāpi saṃkhittāyeva. Iti Bhagavā desanaṃ yathānusandhiṃ pāpesi. Ugghāṭitaññūtiādīsu pana catūsu puggalesu pukkusāti kulaputto vipañcitaññū, iti vipañcitaññuvasena Bhagavā imaṃ dhātuvibhaṅgasuttaṃ kathesi.
369. Sự tưởng tri (sự chấp) này: có thể được hiểu theo ba cách: chấp do tham ái (taṇhā‑maññita), chấp do ngã mạn (māna‑maññita), chấp do tà kiến (diṭṭhi‑maññita).
Tuy nhiên, trong câu “ta là cái này” (ayaṃ ahamasmi), ở đây chỉ thích hợp theo một nghĩa: đó là chấp do tham ái (taṇhā‑maññita).
Bệnh tật v.v, gọi là bệnh tật bởi ý nghĩa đau đớn. Ung nhọt: bởi ý nghĩa làm tổn thương bên trong. Như mũi tên: với ý nghĩa đâm xuyên thủng. Bậc trí gọi hạng người ấy là bậc ẩn sĩ tịch tịnh: hạng người ấy gọi là bậc ẩn sĩ lậu tận tịch tịnh, tức là vị đã hoàn toàn tịch tịnh, đã đoạn tận khổ đau. Đã được an trú ở chỗ nào: đã được thiết lập ở vị trí nào. Tóm lược: người ta nói rằng, toàn bộ pháp thoại của chư Phật đều là tóm lược; cái gọi là thuyết giảng chi tiết thật sự thì không có; ngay cả phần luận giải về Samantapaṭṭhāna cũng vẫn là tóm lược. Như vậy, Thế Tôn đã triển khai pháp thoại này đúng theo mạch văn (yathānusandhiṃ).
Còn về bốn hạng người (ugghāṭitaññū v.v.): trong bốn hạng người ấy, cư sĩ Pukkusāti là hạng “người hiểu khi được giải thích rộng” (vipañcitaññū). Do vậy, chính căn cơ “người cần được giải thích rộng” này mà đức Thế Tôn đã thuyết bài Kinh Giới Phân Tích (Dhātuvibhaṅga‑sutta).
370. Na kho me, bhante, paripuṇṇaṃ pattacīvaranti kasmā kulaputtassa iddhimayapattacīvaraṃ na nibbattanti. Pubbe aṭṭhannaṃ parikkhārānaṃ adinnattā. kulaputto hi dinnadāno katābhinīhāro, na dinnattāti na vattabbaṃ. Iddhimayapattacīvaraṃ pana pacchimabhavikānaṃyeva nibbattati, ayañca punapaṭisandhiko, tasmā na nibbattanti. Atha bhagavā sayaṃ pariyesitvā kasmā na upasampādesīti. Okāsābhāvato. Kulaputtassa āyu parikkhīṇaṃ, suddhāvāsiko anāgāmī mahābrahmā kumbhakārasālaṃ āgantvā nisinno viya ahosi. Tasmā sayaṃ na pariyesi.
370. Này Tỳ khưu, Ông có đủ y bát không?: Tại sao bình bát và y phục thanh tựu do thần thông không sanh khởi cho thiện nam tử vậy?
Có ý kiến cho rằng vì trong quá khứ vị ấy chưa từng cúng dường tám món vật dụng (aṭṭha parikkhāra). Nhưng điều này không đúng, vì vị ấy là người đã từng bố thí và đã tạo lập nguyện lực ban đầu (abhinīhāra) rất lớn. Lý do thực sự là: y bát thành tựu do thần thông chỉ xuất hiện cho những vị đang ở kiếp sống cuối cùng (pacchimabhavika); trong khi đó, vị thiện nam tử này vẫn còn tái sinh (punapaṭisandhika) thêm một lần nữa [ở cõi Trời]. Do đó, y bát thần thông không hiện ra.
Tại sao Đức Thế Tôn không tự mình đi tìm y bát để truyền giới Cụ túc (Upasampadā) cho vị ấy? Đó là vì không còn thời gian (okāsābhāvato). Tuổi thọ của vị thiện nam này đã cạn kiệt. Lúc bấy giờ, vị ấy ngồi trong xưởng thợ gốm mà phong thái đã hệt như một vị Đại Phạm thiên ở cõi Tịnh Cư (Suddhāvāsa) vậy. Vì biết vị ấy sắp mệnh chung nên Ngài không đi tìm y bát.
Pattacīvarapariyesanaṃ pakkāmīti kāya velāya pakkāmi? Uṭṭhite aruṇe. Bhagavato kira dhammadesanāpariniṭṭhānañca aruṇuṭṭhānañca rasmivissajjanañca ekakkhaṇe ahosi. Bhagavā kira desanaṃ niṭṭhapetvāva chabbaṇṇarasmiyo vissajji, sakalakumbhakāranivesanaṃ ekapajjotaṃ ahosi, chabbaṇṇarasmiyo jālajālā puñjapuñjā hutvā vidhāvantiyo sabbadisābhāge suvaṇṇapaṭapariyonaddhe viya ca nānāvaṇṇakusumaratanavisarasamujjale viya ca akaṃsu. Bhagavā “nagaravāsino maṃ passantū”ti adhiṭṭhāsi. Nagaravāsino bhagavantaṃ disvāva “satthā kira āgato, kumbhakārasālāya kira nisinno”ti aññamaññassa ārocetvā rañño ārocesuṃ.
Thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi tìm y bát:
Vị thiện nam tử đảnh lễ đức Thế Tôn rồi lên đường tìm y bát vào lúc nào? Đó là lúc bình minh vừa ló rạng. Có một sự trùng hợp kỳ diệu: thời điểm Đức Thế Tôn kết thúc Pháp thoại cũng chính là lúc mặt trời mọc và Ngài bắt đầu tỏa hào quang.
Vừa dứt lời giảng, Ngài phóng ra hào quang sáu màu (chabbaṇṇarasmiyo), khiến cả xưởng thợ gốm bừng sáng như một ngọn đèn khổng lồ. Hào quang ấy tỏa ra từng luồng, từng cụm, bao phủ khắp các phương như được dệt bằng gấm vàng, rực rỡ như những đóa hoa quý và ngọc báu đa sắc. Đức Thế Tôn đã nguyện rằng: “Cầu cho dân chúng trong thành nhìn thấy ta”. Khi nhìn thấy hào quang, người dân trong thành truyền tai nhau: “Đức Đạo Sư đã đến, Ngài đang ở xưởng thợ gốm!”, rồi họ vội vã đi báo tin cho đức vua.
Rājā āgantvā satthāraṃ vanditvā, “bhante, kāya velāya āgatatthā”ti pucchi. hiyyo sūriyatthaṅgamanavelāya mahārājāti. Kena kammena bhagavāti? Tumhākaṃ sahāyo Pukkusāti rājā tumhehi pahitaṃ sāsanaṃ sutvā nikkhamitvā pabbajitvā maṃ uddissa āgacchanto sāvatthiṃ atikkamma pañcacattālīsa yojanāni āgantvā imaṃ kumbhakārasālaṃ pavisitvā nisīdi, ahaṃ tassa[45] saṅgahatthaṃ āgantvā dhammakathaṃ kathesiṃ, kulaputto tīṇi phalāni paṭivijjhi mahārājāti. Idāni kahaṃ, bhanteti? upasampadaṃ yācitvā aparipuṇṇapattacīvaratāya pattacīvarapariyesanatthaṃ gato mahārājāti. Rājā kulaputtassa gatadisābhāgena agamāsi. Bhagavāpi ākāsenāgantvā Jetavanagandhakuṭimhiyeva pāturahosi.
Vua Bimbisāra đi đến đảnh lễ bậc Đạo Sư rồi hỏi rằng: “Bạch Thế Tôn, Ngài ngự đến đây từ bao giờ?”. – “Tâu Đại vương, Ta đến đây vào lúc mặt trời lặn ngày hôm qua”. – “Bạch Thế Tôn, vì duyên sự gì mà Ngài ngự đến đây?”. – “Tâu Đại vương, vua Pukkusāti – bạn của ngài – sau khi đọc bức thông điệp ngài gửi đã từ bỏ vương quốc, xuất gia và vì lòng tôn kính Ta mà lặn lội đến đây. Vị ấy đã đi ngang qua Sāvatthi thêm bốn mươi lăm do-tuần nữa để đến xưởng thợ gốm này. Ta đến đây để tế độ (saṅgaha) bạn của ngài và thuyết Pháp thoại cho vị ấy. Tâu Đại vương, vị thiện nam ấy đã thấu triệt được ba Thánh quả”. – “Bạch Thế Tôn, hiện giờ Pukkusāti đang ở đâu?”. – “Vị ấy đã xin Ta được thọ giới cụ túc, nhưng vì y bát chưa đủ nên đã đi tìm kiếm y bát rồi”.
Nghe vậy, vua Bimbisāra lập tức đi theo hướng mà Pukkusāti đã đi. Còn Đức Thế Tôn thì dùng thần thông hiện thân trở lại ngay tại Hương Thất trong tu viện Kỳ Viên (Jetavana).
Kulaputtopi pattacīvaraṃ pariyesamāno neva Bimbisārarañño na takkasīlakānaṃ jaṅghavāṇijānaṃ santikaṃ agamāsi. Evaṃ kirassa ahosi — “na kho me kukkuṭassa viya tattha tattha manāpāmanāpameva vicinitvā pattacīvaraṃ pariyesituṃ yuttaṃ, mahantaṃ nagaraṃ vajjitvā udakatitthasusānasaṅkāraṭṭhānāntaravīthīsu pariyesissāmī”ti antaravīthiyaṃ saṅkārakūṭesu tāva pilotikaṃ pariyesituṃ āraddho.
Về phía Pukkusāti, trong khi đi tìm y bát, ngài đã không tìm đến vua Bimbisāra (dù là bạn thân) cũng không tìm đến những thương buôn đồng hương từ Takkasīla. Vị ấy suy nghĩ rằng: “Ta không nên giống như con gà (kukkuṭa) cứ chạy chỗ này chỗ kia để nhặt nhạnh những thứ vừa ý hay không vừa ý. Ta sẽ tránh khỏi thành phố lớn này, mà đi tìm ở những bến nước, nghĩa trang, đống rác hay các ngõ hẻm”.
Nghĩ đoạn, vị ấy bắt đầu đi tìm những mảnh vải vụn (pilotika) từ các đống rác trong ngõ hẻm để kết thành y phấn tảo.
Jīvitā voropesīti etasmiṃ saṅkārakūṭe pilotikaṃ olokentaṃ vibbhantā taruṇavacchā gāvī upadhāvitvā siṅgena vijjhitvā ghātesi. chātakajjhatto kulaputto ākāseyeva āyukkhayaṃ patvā patito. Saṅkāraṭṭhāne adhomukhaṭṭhapitā suvaṇṇapaṭimā viya ahosi, kālaṅkato ca pana avihābrahmaloke nibbatti, nibbattamattova arahattaṃ pāpuṇi. Avihābrahmaloke kira nibbattamattāva satta janā arahattaṃ pāpuṇiṃsu. vuttañhetaṃ —
Đoạt mất mạng sống (của Tôn giả):
Trong lúc vị thiện nam tử đang mải mê tìm kiếm những mảnh vải vụn giữa đống rác, một con bò cái vừa mới sinh con (taruṇavacchā) đang trong trạng thái hoảng loạn/hung dữ (vibbhantā) đã lao đến và húc sừng vào ngài, khiến ngài tử vong ngay tại chỗ.
Lúc bấy giờ, vị thiện nam tử vốn đang bị cơn đói hành hạ (chātakajjhatto), đã trút hơi thở cuối cùng ngay khi tuổi thọ vừa cạn kiệt. Thân xác ngài nằm sấp trên đống rác trông hệt như một pho tượng bằng vàng bị lật úp. Ngay sau khi thân hoại mạng chung, ngài đã hóa sinh vào tầng trời Vô Phiền (Avihā) thuộc cõi Phạm thiên Tịnh Cư; và vừa khi vừa hóa sinh, ngài đã chứng đắc quả vị A-la-hán.
Được biết, có tất cả bảy vị Thánh cùng hóa sinh vào cõi Vô Phiền và đắc quả A-la-hán ngay lập tức như vậy. Điều này đã được ghi lại trong kệ ngôn:
“avihaṃ upapannāse, vimuttā satta bhikkhavo.
rāgadosaparikkhīṇā, tiṇṇā loke visattikaṃ.
ke ca te ataruṃ paṅkaṃ, maccudheyyaṃ suduttaraṃ.
ke hitvā mānusaṃ dehaṃ[46], dibbayogaṃ upaccaguṃ.
Upako Palagaṇḍo ca, Pukkusāti ca te tayo.
Bhaddiyo Khaṇḍadevo ca, Bāhuraggi ca Siṅgiyo.
Te hitvā mānusaṃ dehaṃ[47], dibbayogaṃ upaccagun”ti. [48]
“Bảy vị Tỳ-kheo hóa sinh cõi Vô Phiền, Đã giải thoát hoàn toàn, tự tại vô biên. Tận trừ tham ái, sạch bóng sân si, Vượt thoát lưới đời, ái dục còn chi.
Họ là những ai đã vượt bùn nhơ? Thoát khỏi tử thần, bến đỗ mong chờ. Bỏ thân nhân loại, vượt cảnh chư thiên, Cắt đứt mọi ràng buộc, chứng đắc đạo huyền?
Đó là Upaka, Palagaṇḍa và Pukkusāti, Cùng với Bhaddiya, Khaṇḍadeva chí tri. Thêm Bāhuraggi và Siṅgiya cao khiết, Bảy vị Thánh nhân, lậu hoặc đoạn diệt. Rời bỏ thân người, vượt trói buộc thiên cung, Giải thoát hoàn toàn, chứng quả tận cùng.”
Bimbisāropi “mayhaṃ sahāyo mayā pesitasāsanamattaṃ vācetvā hatthagataṃ rajjaṃ pahāya ettakaṃ addhānaṃ āgato, dukkaraṃ kataṃ kulaputtena, pabbajitasakkārena taṃ sakkarissāmī”ti “pariyesatha me sahāyakan”ti tattha tattha pesesi. pesitā taṃ addasaṃsu saṅkāraṭṭhāne patitaṃ, disvā āgamma rañño ārocesuṃ. Rājā gantvā kulaputtaṃ disvā — “na vata, bho, labhimhā sahāyakassa sakkāraṃ kātuṃ, anātho me jāto sahāyako”ti. Paridevitvā kulaputtaṃ mañcakena gaṇhāpetvā yuttokāse ṭhapetvā anupasampannassa sakkāraṃ kātuṃ jānanābhāvena nhāpakakappakādayo pakkosāpetvā kulaputtaṃ sīsaṃ nhāpetvā suddhavatthāni nivāsāpetvā rājavesena alaṅkārāpetvā sovaṇṇasivikaṃ āropetvā sabbatāḷāvacaragandhamālādīhi pūjaṃ karonto nagarā nīharitvā bahūhi gandhakaṭṭhehi mahācitakaṃ kāretvā kulaputtassa sarīrakiccaṃ katvā dhātuyo ādāya cetiyaṃ patiṭṭhapesi. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Vua Bimbisāra suy nghĩ: “Bạn ta chỉ vì đọc bức thư trẫm gửi mà đã dứt bỏ vương quyền đang nằm gọn trong lòng bàn tay, lặn lội từ nơi xa xôi nhường ấy đến đây. Vị thiện nam tử ấy quả đã làm được một việc khó làm! Ta sẽ cung kính ngài bằng những lễ tiết trang trọng nhất dành cho một bậc xuất gia (pabbajitasakkārena)”.
Nhà vua bèn sai người đi tìm: “Hãy đi tìm vị bằng hữu của trẫm!”. Đoàn tùy tùng đã tìm thấy ngài nằm gục nơi đống rác; họ vội vã trở về báo tin cho đức vua. Khi đến nơi và nhìn thấy thi thể của Pukkusāti, vua Bimbisāra đã than khóc: “Thật đau xót thay! Trẫm đã không còn cơ hội để đích thân cung kính bạn mình. Bạn trẫm sao lại phải mạng chung cô độc (anātho) như thế này?”.
Sau khi than khóc, nhà vua truyền lệnh đặt thi thể thiện nam tử lên giường cao, dời đến một vị trí thích hợp. Vì Pukkusāti vẫn mang hình tướng cư sĩ (chưa kịp thọ giới cụ túc), nên nhà vua đã cử những người thợ tắm gội và thợ cắt tóc đến để chăm sóc nhục thân ngài. Vị thiện nam tử được tắm gội sạch sẽ, mặc y phục thanh khiết, trang điểm lộng lẫy như một vị vua, rồi được rước lên kiệu vàng.
Dưới sự cử hành của các loại nhạc cụ, cùng hương hoa cúng dường, đám rước được đưa ra khỏi thành. Tại đó, nhà vua cho dựng một giàn hỏa thiêu vĩ đại bằng nhiều loại gỗ thơm để cử hành lễ Trà tỳ (sarīrakicca). Cuối cùng, nhà vua thu nhặt Xá-lợi (dhātuyo) và xây dựng một Bảo tháp (cetiya) để tôn thờ. Những phần còn lại của văn bản đều có ý nghĩa rõ ràng.
Giải Thích Kinh Giới Phân Biệt Kết Thúc.