Translations [24]
English
- Bhikkhu Sujato
- Bhikkhuni Upalavanna
- Ñāṇamoli Thera (1977)
繁體字
- 莊春江
日本語
- 関西パーリ語実習会 (2023)
Français
- Môhan Wijayaratna (2010)
Deutsch
- Mettiko Bhikkhu (2001)
- Sabbamitta (2019)
Italiano
- De Lorenzo, Pier Antonio Morniroli, Enrico Federici (2007)
- Giovanni Zappa (2025)
Español
- Anton P. Baron
Português
- Michael Beisert (2013)
Русский
- SV theravada.ru (2023)
Norsk
- Kåre A. Lie (2013)
Srpski
- Branislav Kovačević (2014)
Slovenščina
- Bojan Božič (2023)
हिंदी
- Rahul Sankrityayan
বাংলা
- বিনয়েন্দ্রনাথ চৌধুরী
Việt Ngữ
- Thích Minh Châu
Bahasa Indonesia
- Indra Anggara
සිංහල
- A.P. de Zoysa
ပြန်သွားရန်
- Pitaka Myanmar Translation
ภาษาไทย
- Siam Rath
पाळिभासा (Pāli)
- Mahāsaṅgīti Tipiṭaka
Reference
- Sutta Central
Commentaries [3]
English
Việt Ngữ
395. Evaṃ me sutanti Puṇṇovādasuttaṃ. Tattha paṭisallānāti ekībhāvā. Taṃ ceti taṃ cakkhuñceva rūpañca. Nandīsamudayā dukkhasamudayoti nandiyā taṇhāya samodhānena pañcakkhandhadukkhassa samodhānaṃ hoti. Iti chasu dvāresu dukkhaṃ samudayoti dvinnaṃ saccānaṃ vasena vaṭṭaṃ matthakaṃ pāpetvā dassesi. dutiyanaye nirodho maggoti dvinnaṃ saccānaṃ vasena vivaṭṭaṃ matthakaṃ pāpetvā dassesi. Iminā ca tvaṃ puṇṇāti pāṭiyekko anusandhi. Evaṃ tāva vaṭṭavivaṭṭavasena desanaṃ arahatte pakkhipitvā idāni puṇṇattheraṃ sattasu ṭhānesu sīhanādaṃ nadāpetuṃ iminā ca tvantiādimāha.
395. Kinh Giáo Giới Puṇṇa được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, từ chỗ thiện tịnh: trạng thái độc cư. Nếu vị ấy: mắt và sắc ấy. Do sự vui thích sanh khởi, (nên) khổ đau mới sanh khởi: Có sự liên kết với khổ trong năm uẩn, do sự liên kết nhờ sự vui mừng, là tham ái. Đức Thế Tôn thuyết giảng đến tận cùng của vòng luân hồi (vaṭṭa) với mãnh lực của 2 Chân lý là Chân lý về khổ và Chân lý về nhân sanh khổ trong 6 Môn là như thế. Trong cách thức thứ 2 ngài thuyết đến tận cùng của vòng Niết bàn (vivaṭṭa) với mãnh lực của 2 Chân lý là Chân lý về sự diệt tận khổ và Chân lý về con đường đưa đến sự diệt tận khổ. Này Puṇṇa, ông sẽ …này: là sự liên kết để tách từng phần ra. Sau khi đã kết hợp giáo pháp theo cách vaṭṭa-vivaṭṭa (luân hồi và giải thoát) để đưa vào bậc A-la-hán như vậy, bây giờ, để khiến Tôn giả Puṇṇa rống lên tiếng rống sư tử (sīhanāda) ở bảy trường hợp [tức bảy cách ứng xử với các đối tượng cảm giác], Ngài mới nói tiếp: Này Puṇṇa…ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt v.v.
396. Caṇḍāti duṭṭhā kibbisā. Pharusāti kakkhaḷā. Akkosissantīti dasahi akkosavatthūhi akkosissanti. Paribhāsissantīti kiṃ samaṇo nāma tvaṃ, idañca idañca te karissāmāti tajjessanti. Evametthāti evaṃ mayhaṃ ettha bhavissati.
396. Hung bạo: xấu xa, hành vi sái quấy. Thô ác: thô bạo. Mắng nhiếc: mắng nhiếc với mười đối tượng chửi rủa – akkosavatthu. Sẽ chửi mắng: đe dọa và quát mắng rằng – Làm sao kẻ này có thể làm Sa-môn? tôi sẽ hăm dọa kẻ ấy như thế này như thế kia. Như vậy trong trường hợp này: ở đây con suy nghĩ như vậy.
Daṇḍenāti catuhatthena daṇḍena vā ghaṭikamuggarena vā. Satthenāti ekatodhārādinā. Satthahārakaṃ pariyesantīti jīvitahārakaṃ satthaṃ pariyesanti. Idaṃ thero tatiyapārājikavatthusmiṃ asubhakathaṃ sutvā attabhāvena jigucchantānaṃ bhikkhūnaṃ satthahārakapariyesanaṃ sandhāyāha. Damūpasamenāti ettha damoti indriyasaṃvarādīnaṃ etaṃ nāmaṃ. “Saccena danto damasā upeto, vedantagū vusitabrahmacariyo”ti[1] ettha hi indriyasaṃvaro damoti vutto. “Yadi saccā damā cāgā, khantyā bhiyyodha vijjatī”ti[2] ettha paññā damoti vutto. “Dānena damena saṃyamena saccavajjenā”ti[3] ettha uposathakammaṃ damoti vuttaṃ. imasmiṃ pana sutte khanti damoti veditabbā. upasamoti tasseva vevacanaṃ.
Với gậy gộc: với cây gậy dài 4 hắc tay, hoặc với cây trượng và với cây côn. Với con dao: với vũ khí chỉ có một bên sắc bén. Đi tìm con dao để tự sát: đi tìm con dao để tự sát. Điều này trưởng lão ám chỉ đến nhóm Tỳ khưu lắng nghe câu chuyện không tốt đẹp về sự việc [vatthu] pārājika thứ 3 khởi lên sự ghê tởm thân thể rồi tìm kiếm con dao để tự sát. Ở đây Sự chế ngự trong cụm từ Sự chế ngự và an tịnh:
Ở đây, dama (chế ngự) là tên gọi của sự thu thúc các căn (indriyasaṃvara) v.v…
Ví như trong câu: “Được thuần phục bằng chân thật, đạt đến sự chế ngự, bậc đã đi đến tận cùng của trí tuệ, đã sống đời Phạm hạnh” → sự thu thúc các căn được gọi là dama.
Hoặc: “Nếu có điều gì vượt trội hơn chân thật, tự chế, xả thí, kham nhẫn” → ở đây trí tuệ được gọi là dama.
Hoặc: “Bằng bố thí, bằng tự chế, bằng kiềm chế, bằng lời chân thật” → ở đây việc thực hành trai giới Uposatha được gọi là dama.
Nhưng trong kinh này, dama nên hiểu là khanti (kham nhẫn).
Sự an tĩnh là từ đồng nghĩa (vevacana) với chính dama ấy.
397. Atha kho āyasmā puṇṇoti ko panesa puṇṇo, kasmā panettha gantukāmo ahosīti. Sunāparantavāsiko eva eso, Sāvatthiyaṃ pana asappāyavihāraṃ sallakkhetvā tattha gantukāmo ahosi.
397. Khi ấy Tôn giả Puṇṇa: (hỏi) ngài Puṇṇa này là ai? và tại sao lại muốn đi đến nơi đó? Và tại sao ngài lại muốn đi đến xứ sở Sunāparanta. (đáp) Chính ngài là người quê ở xứ Sunāparanta. Nhưng khi ở tại Sāvatthī, ngài quan sát thấy rằng nơi an cư ở đây không thích hợp (với mình), nên mới muốn trở về xứ sở Sunāparanta ấy.
Tatrāyaṃ anupubbikathā — sunāparantaraṭṭhe kira ekasmiṃ vāṇijakagāme ete dve bhātaro. Tesu kadāci jeṭṭho pañca sakaṭasatāni gahetvā janapadaṃ gantvā bhaṇḍaṃ āharati, kadāci kaniṭṭho. Imasmiṃ pana samaye kaniṭṭhaṃ ghare ṭhapetvā jeṭṭhabhātiko pañca sakaṭasatāni gahetvā janapadacārikaṃ caranto anupubbena Sāvatthiṃ patvā Jetavanassa nātidūre sakaṭasatthaṃ nivāsetvā bhuttapātarāso parijanaparivuto phāsukaṭṭhāne nisīdi.
Tương truyền rằng, ở xứ Sunāparanta, trong một ngôi làng thương nhân, có hai anh em. Hai anh em ấy thay phiên nhau: lúc thì người anh, lúc thì người em, mang năm trăm cỗ xe chở hàng đi các vùng nông thôn để buôn bán và mang hàng về.
Vào dịp này, người anh để em trai ở nhà trông nom, còn mình dẫn năm trăm cỗ xe đi buôn bán khắp nơi, lần lượt đến Sāvatthī. Ông dừng đoàn xe ở nơi không xa Tịnh xá Jetavana, dùng bữa sáng, rồi cùng đoàn tùy tùng ngồi nghỉ ngơi thoải mái ở chỗ mát mẻ.
Tena ca samayena sāvatthivāsino bhuttapātarāsā uposathaṅgāni adhiṭṭhāya suddhuttarāsaṅgā gandhapupphādihatthā yena buddho yena dhammo yena saṅgho, tanninnā tappoṇā tappābbhārā hutvā dakkhiṇadvārena nikkhamitvā Jetavanaṃ gacchanti. So te disvā “kahaṃ ime gacchanti”ti ekamanussaṃ pucchi. Kiṃ tvaṃ ayyo na jānāsi, loke buddhadhammasaṅgharatanāni nāma uppannāni, iccesa mahājano satthu santike dhammakathaṃ sotuṃ gacchatīti. Tassa buddhoti vacanaṃ chavicammādīni chinditvā aṭṭhimiñjaṃ āhacca aṭṭhāsi. Atha attano parijanaparivuto tāya parisāya saddhiṃ vihāraṃ gantvā satthu madhurassarena dhammaṃ desentassa parisapariyante ṭhito dhammaṃ sutvā pabbajjāya cittaṃ uppādesi. Atha Tathāgatena kālaṃ viditvā parisāya uyyojitāya Satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā svātanāya nimantetvā dutiyadivase maṇḍapaṃ kāretvā āsanāni paññapetvā Buddhappamukhassa saṅghassa mahādānaṃ datvā bhuttapātarāso uposathaṅgāni adhiṭṭhāya bhaṇḍāgārikaṃ pakkosāpetvā, ettakaṃ bhaṇḍaṃ vissajjitaṃ, ettakaṃ na vissajjitanti sabbaṃ ācikkhitvā — “imaṃ sāpateyyaṃ mayhaṃ kaniṭṭhassa dehī”ti sabbaṃ niyyātetvā satthu santike pabbajitvā kammaṭṭhānaparāyaṇo ahosi.
Lúc bấy giờ, dân chúng Sāvatthī sau khi dùng bữa sáng, phát nguyện thọ trì tám chi phần trai giới Uposatha, mặc y phục sạch sẽ thượng hạng (suddhuttarāsaṅgā), tay cầm hương hoa và các thứ cúng dường, hướng tâm chí thành về Đức Phật, Giáo Pháp và chư Tăng, rồi từ cổng Nam thành đi ra, tiến về Tịnh xá Jetavana.
Thấy đoàn người đông đúc ấy, người thương nhân hỏi một người trong đám: “Họ đi đâu vậy?”
Người kia đáp: “Này ông bạn, ông không biết sao? Trên đời này đã xuất hiện ba báu vật: Phật, Pháp, Tăng. Vì thế, đại chúng này mới đi đến chỗ Đức Đạo Sư để nghe thuyết pháp.”
Nghe đến từ “Phật”, lời ấy như cắt qua da thịt, thấm tận xương tủy, khiến ông rung động sâu sắc.
Sau đó, ông cùng đoàn tùy tùng đi theo đại chúng đến Tịnh xá, đứng ở rìa hội chúng, lắng nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp bằng giọng nói ngọt ngào. Nghe xong, ông phát khởi ý muốn xuất gia.
Khi Đức Như Lai biết thời cơ đã đến, Ngài cho hội chúng giải tán. Ông liền đến trước Đức Thế Tôn, đảnh lễ, rồi thỉnh mời Ngài và chư Tăng thọ thực vào ngày hôm sau.
Ngày kế, ông cho dựng lều có mái che (maṇḍapa), sắp đặt chỗ ngồi, cúng dường đại thí đến chư Tăng có Đức Phật đứng đầu. Sau khi cúng dường xong và dùng bữa, ông phát nguyện thọ trì tám chi phần Uposatha.[4], rồi cho gọi người quản kho (bhaṇḍāgārika) đến, bảo rằng: “Chừng này hàng hóa đã bán xong, chừng này chưa bán”, ông chỉ dẫn tất cả rồi giao phó toàn bộ: “Hãy trao tài sản này lại cho em trai ta”. Rồi ông xuất gia nơi bậc Đạo Sư và miệt mài thực hành đề mục nghiệp xứ.
Athassa kammaṭṭhānaṃ manasikarontassa kammaṭṭhānaṃ na upaṭṭhāti. Tato cintesi — “ayaṃ janapado mayhaṃ asappāyo, yaṃnūnāhaṃ satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā sakaṭṭhānameva gaccheyyan”ti. Atha pubbaṇhasamaye piṇḍāya caritvā sāyanhasamaye paṭisallānā vuṭṭhahitvā bhagavantaṃ upasaṅkamitvā kammaṭṭhānaṃ kathāpetvā satta sīhanāde naditvā pakkāmi. Tena vuttaṃ — “Atha kho āyasmā Puṇṇo … pe … viharatī”ti.
Khi ấy, trong khi ngài tác ý thực hành đề mục nghiệp xứ, (tuy nhiên) nghiệp xứ cũng không xuất hiện. Sau đó ngài nghĩ rằng: “Xứ sở này không thích hợp với ta. Hay là ta nên xin thọ nghiệp xứ nơi bậc Đạo Sư rồi trở về quê cũ của ta”. Vậy nên, sau khi đi khất thực vào buổi sáng, và ra khỏi thiền tịnh vào buổi chiều, ngài đến yết kiến Thế Tôn, thỉnh pháp về nghiệp xứ, rồi thốt lên bảy tiếng rống sư tử và ra đi. Bởi vậy (trong Kinh) mới nói: “Khi ấy, Tôn giả Puṇṇa rời khỏi chỗ thiền tịnh v.v.”
Kattha panāyaṃ vihāsīti? catūsu ṭhānesu vihāsi, Sunāparanta-raṭṭhaṃ tāva pavisitvā ajjuhatthapabbate[5] nāma pavisitvā vāṇijagāmaṃ piṇḍāya pāvisi. Atha naṃ kaniṭṭhabhātā sañjānitvā bhikkhaṃ datvā, “bhante, aññattha agantvā idheva vasathā”ti paṭiññaṃ kāretvā tattheva vasāpesi.
Ngài Puṇṇa sống ở đâu? Ngài sống ở 4 chỗ. Đầu tiên ngài đi đến kinh thành Sunāparanta rồi đi đến núi Ajjuhattha, đi vào làng của những người thương buôn đi khất thực. Người em trai nhận ra ngài, cúng dường vật thực, rồi thỉnh: “Bạch ngài, xin ngài đừng đi nơi khác, hãy ở lại đây.” Ngài nhận lời và cư trú ngay tại đó.
Tato Samuddagirivihāraṃ nāma agamāsi. Tattha ayakantapāsāṇehi paricchinditvā katacaṅkamo atthi, taṃ koci caṅkamituṃ samattho nāma natthi. Tattha samuddavīciyo āgantvā ayakantapāsāṇesu paharitvā mahāsaddaṃ karonti. Theronaṃ — “kammaṭṭhānaṃ manasikarontānaṃ phāsuvihāro hotū”ti samuddaṃ nissaddaṃ katvā adhiṭṭhāsi.
Sau đó ngài đi đến Tinh xá Samuddagiri. Ở nơi đó, có chỗ dành cho việc đi kinh hành mà vị ấy cắt lấy từ những tảng đá được xiên sắt giữ lấy ở phần đầu, không một ai có thể đi kinh hành trên đó được. Ở nơi ấy những cơn sóng biển hiện rõ va chạm vào tảng đá được xiên sắt giữ lấy ở phần đầu tạo ra âm thanh rất lớn. Trưởng lão nghĩ rằng: “Mong cho nơi này trở thành nơi trú ngụ an ổn (phāsuvihāro) cho những người tác ý nghiệp xứ”, rồi ngài quyết nguyện (adhiṭṭhāsi) khiến cho biển cả trở nên tĩnh lặng (không còn tiếng ồn).
Tato Mātulagiriṃ nāma agamāsi. Tattha sakuṇasaṅgho ussanno, rattiñca divā ca saddo ekābaddhova hoti, thero imaṃ ṭhānaṃ aphāsukanti tato Makulakārāmavihāraṃ nāma gato. so vāṇijagāmassa nātidūro naccāsanno gamanāgamanasampanno vivitto appasaddo. Thero imaṃ ṭhānaṃ phāsukanti tattha rattiṭṭhānadivāṭṭhānacaṅkamanādīni kāretvā vassaṃ upagacchi. Evaṃ catūsu ṭhānesu vihāsi.
Sau đó ngài đi đến Mātulagiri. Ở nơi đó có rất nhiều bầy chim, âm thanh ầm ĩ cả ngày lẫn đêm. Trưởng lão nghĩ rằng: Ở đây không thoải mái, từ đó đã đi đến Tịnh xá Makulakārāma. Tinh xá ấy không quá xa cũng không quá gần ngôi làng của những người thương buôn, tới lui thuận tiện, không có tiếng ồn. Trưởng lão nghĩ rằng ở đây thoải mái mới cho xây dựng chỗ nghỉ ban đêm và ban ngày cũng với chỗ đi kinh hành v.v, rồi an cư mùa mưa ở nơi ấy. Ngài đã cư trú ở bốn nơi như vậy.
Athekadivasaṃ tasmiṃyeva antovasse pañca vāṇijasatāni parasamuddaṃ gacchāmāti nāvāya bhaṇḍaṃ pakkhipiṃsu. nāvārohanadivase therassa kaniṭṭhabhātā theraṃ bhojetvā therassa santike sikkhāpadāni gahetvā vanditvā gacchanto, — “bhante, mahāsamuddo nāma appameyyo anekantarāyo, amhe āvajjeyyāthā”ti vatvā nāvaṃ āruhi. Nāvā uttamajavena gacchamānā aññataraṃ dīpakaṃ pāpuṇi. Manussā pātarāsaṃ karissāmāti dīpake otiṇṇā. Tasmiṃ dīpe aññaṃ kiñci natthi, candanavanameva ahosi.
Một ngày nọ, ngay trong mùa an cư, năm trăm người thương buôn quyết định đi vùng biển khác, chất hàng lên thuyền. Ngày lên thuyền, em trai Tôn giả cúng dường bữa ăn, thọ trì học giới trước mặt ngài, đảnh lễ rồi nói: “Bạch ngài, đại dương vô lượng và đầy hiểm nguy, xin ngài nhớ nghĩ đến chúng con.” Sau đó họ lên thuyền.
Thuyền đi nhanh và đến một hòn đảo nhỏ. Mọi người lên đảo dùng bữa sáng. Trên đảo chỉ có rừng gỗ đàn hương.
Atheko vāsiyā rukkhaṃ ākoṭetvā lohitacandanabhāvaṃ ñatvā āha — “bho mayaṃ lābhatthāya parasamuddaṃ gacchāma, ito ca uttari lābho nāma natthi, caturaṅgulamattā ghaṭikā satasahassaṃ agghati, hāretabbakayuttaṃ bhaṇḍaṃ hāretvā candanassa pūremā”ti. Te tathā kariṃsu. Candanavane adhivatthā amanussā kujjhitvā — “Imehi amhākaṃ candanavanaṃ nāsitaṃ, ghātessāma ne”ti cintetvā — “Idheva ghātitesu sabbaṃ vanaṃ ekaṃ kuṇapaṃ bhavissati, samuddamajjhe nesaṃ nāvaṃ osīdessāmā”ti āhaṃsu. Atha tesaṃ nāvaṃ āruyha muhuttaṃ gatakāle yeva uppādikaṃ[6] uṭṭhapetvā sayampi te amanussā bhayānakāni rūpāni dassayiṃsu. bhītā manussā attano attano devatā namassanti. Therassa kaniṭṭho Cūḷapuṇṇakuṭumbiko — “mayhaṃ bhātā avassayo hotū”ti therassa namassamāno aṭṭhāsi.
Một người chặt cây, nhận ra là gỗ đàn hương đỏ, nói: “Chúng ta đi vùng biển khác để tìm lợi lộc, nhưng ở đây lợi lộc lớn hơn hết! Một khúc gỗ chỉ bằng bốn ngón tay đã đáng giá hàng trăm ngàn. Hãy vứt bỏ hàng hóa rẻ tiền, chất đầy gỗ đàn hương lên thuyền!” Họ làm theo.
Các vị phi nhân trú trong rừng nổi giận: “Bọn này phá hoại rừng của chúng ta, phải giết chúng!” Nhưng chúng nghĩ: “Nếu giết chúng tại đây thì cả khu rừng sẽ đầy xác chết hôi thối (kuṇapa). Ta sẽ nhận chìm thuyền của chúng giữa biển khơi”
Khi họ vừa lên thuyền và đi được một lát, phi nhân gây gió nổi dữ dội và hiện hình dạng kinh hoàng. Mọi người hoảng loạn, thờ lạy thần hộ mệnh của mình. Riêng gia chủ Cūḷapuṇṇa, em trai của Trưởng lão, thì đứng đảnh lễ và niệm tưởng đến Trưởng lão: “Mong anh trai ta làm chỗ nương tựa cho ta”, rồi đứng tưởng nhớ đến ngài.
Theropi kira tasmiṃyeva khaṇe āvajjitvā tesaṃ byasanuppattiṃ ñatvā vehāsaṃ uppatitvā sammukhe aṭṭhāsi. Amanussā theraṃ disvā “ayyo puṇṇatthero etī”ti pakkamiṃsu, uppādikaṃ sannisīdi. Thero mā bhāyathāti te assāsetvā “kahaṃ gantukāmatthā”ti pucchi. Bhante, amhākaṃ sakaṭṭhānameva gacchāmāti. Thero nāvaṃ phale[7] akkamitvā “etesaṃ icchitaṭṭhānaṃ gacchatū”ti adhiṭṭhāsi. Vāṇijā sakaṭṭhānaṃ gantvā taṃ pavattiṃ puttadārassa ārocetvā “etha theraṃ saraṇaṃ gacchāmā”ti pañcasatā attano pañcamātugāmasatehi saddhiṃ tīsu saraṇesu patiṭṭhāya upāsakattaṃ paṭivedesuṃ. tato nāvāya bhaṇḍaṃ otāretvā therassa ekaṃ koṭṭhāsaṃ katvā — “ayaṃ, bhante, tumhākaṃ koṭṭhāso”ti āhaṃsu. Thero — “mayhaṃ visuṃ koṭṭhāsakiccaṃ natthi, satthā pana tumhehi diṭṭhapubbo”ti. Na diṭṭhapubbo, bhanteti. Tena hi iminā Satthu maṇḍalamāḷaṃ karotha, evaṃ satthāraṃ passissathāti. Te sādhu, bhanteti tena ca koṭṭhāsena attano ca koṭṭhāsehi maṇḍalamāḷaṃ kātuṃ ārabhiṃsu.
Ngay sát na ấy, Trưởng lão hướng tâm quán xét, biết tai nạn đang xảy ra cho họ, liền bay lên hư không và hiện ra trước mặt họ. Các phi nhân thấy Trưởng lão liền nói: “Ngài Trưởng lão Puṇṇa đang đến”, rồi bỏ đi. Cơn ác phong lập tức lắng xuống. Trưởng lão trấn an mọi người: “Đừng sợ!”, rồi hỏi: “Các ông muốn đi đâu?”. “Bạch Ngài, chúng con muốn quay về chỗ cũ (quê nhà) của mình”. Trưởng lão bước lên sàn thuyền (mũi thuyền) và quyết nguyện: “Hãy đi đến nơi những người này mong muốn”.
Các thương buôn về đến quê nhà, kể lại sự việc cho vợ con nghe, rồi bảo: “Nào, chúng ta hãy đến quy y Trưởng lão”. Năm trăm thương buôn cùng với năm trăm người vợ (pañcamātugāmasatehi) đã an trú vào Tam quy và xin làm cận sự nam nữ (upāsaka). Sau đó, họ chuyển hàng hóa từ thuyền xuống, chia ra một phần riêng dâng đến Trưởng lão: “Bạch Ngài, đây là phần của Ngài”. Trưởng lão nói: “Ta không có việc gì cần đến phần chia riêng này. Nhưng các ông đã từng thấy bậc Đạo Sư chưa?”. “Thưa Ngài, chưa từng thấy”. “Vậy hãy dùng phần này xây một ngôi nhà tròn (maṇḍalamāḷa – viên toạ/hương thất) dâng đến bậc Đạo Sư, như vậy các ông sẽ được thấy Ngài”. Họ đáp: “Lành thay, bạch Ngài”, rồi bắt đầu dùng phần tài sản đó cùng với phần tài sản của chính mình để xây dựng ngôi nhà tròn.
Satthāpi kira āraddhakālato paṭṭhāya paribhogaṃ akāsi. Ārakkhamanussā rattiṃ obhāsaṃ disvā “mahesakkhā devatā atthī”ti saññaṃ kariṃsu. Upāsakā maṇḍalamāḷañca bhikkhusaṅghassa ca senāsanāni niṭṭhapetvā dānasambhāraṃ sajjetvā — “Kataṃ, bhante, amhehi attano kiccaṃ, satthāraṃ pakkosathā”ti therassa ārocesuṃ. Thero sāyanhasamaye iddhiyā sāvatthiṃ patvā, “bhante, vāṇijagāmavāsino tumhe daṭṭhukāmā, tesaṃ anukampaṃ karothā”ti bhagavantaṃ yāci. Bhagavā adhivāsesi. Thero Bhagavato adhivāsanaṃ viditvā sakaṭṭhānameva paccāgato.
Tương truyền, ngay từ khi (công trình) bắt đầu khởi công, Bậc Đạo Sư đã thọ dụng nó. Những người canh gác ban đêm thấy hào quang bèn nghĩ: “Có vị chư thiên đại oai lực đang hiện diện”. Các cận sự nam hoàn tất ngôi nhà tròn và các sàng tọa cho chư Tăng, chuẩn bị xong vật thí, bèn thưa với Trưởng lão: “Bạch Ngài, phận sự của chúng con đã làm xong, xin Ngài hãy thỉnh bậc Đạo Sư đến”. Vào buổi chiều, Trưởng lão dùng thần thông đi đến Sāvatthī và thỉnh cầu đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, dân làng thương buôn mong muốn được gặp Thế Tôn, cầu mong Ngài rủ lòng thương xót”. Đức Thế Tôn nhận lời. Trưởng lão biết Đức Thế Tôn đã nhận lời, bèn quay trở về trú xứ của mình.
Bhagavāpi Ānandatheraṃ āmantesi, — “Ānanda, sve Sunāparante Vāṇijagāme piṇḍāya carissāma, tvaṃ ekūnapañcasatānaṃ bhikkhūnaṃ salākaṃ dehī”ti. Thero sādhu, bhanteti bhikkhusaṅghassa tamatthaṃ ārocetvā nabhacārikā[8] bhikkhū salākaṃ gaṇhantūti āha. Taṃdivasaṃ Kuṇḍadhānatthero paṭhamaṃ salākaṃ aggahesi. Vāṇijagāmavāsinopi “sve kira satthā āgamissatī”ti gāmamajjhe maṇḍapaṃ katvā dānaggaṃ sajjayiṃsu. Bhagavā pātova sarīrapaṭijagganaṃ katvā gandhakuṭiṃ pavisitvā phalasamāpattiṃ appetvā nisīdi. Sakkassa paṇḍukambalasilāsanaṃ uṇhaṃ ahosi. So kiṃ idanti āvajjetvā Satthu Sunāparantagamanaṃ disvā vissakammaṃ[9] āmantesi — “Tāta ajja bhagavā timattāni[10] yojanasatāni piṇḍācāraṃ karissati, pañca kūṭāgārasatāni māpetvā Jetavanadvārakoṭṭhamatthake gamanasajjāni katvā ṭhapehī”ti. So tathā akāsi. Bhagavato kūṭāgāraṃ catumukhaṃ ahosi, dvinnaṃ aggasāvakānaṃ dvimukhāni, sesāni ekamukhāni. Satthā gandhakuṭito nikkhamma paṭipāṭiyā ṭhapitakūṭāgāresu dhurakūṭāgāraṃ pāvisi. Dve aggasāvake ādiṃ katvā ekūnapañcabhikkhusatānipi kūṭāgāraṃ gantvā nisinnā ahesuṃ. Ekaṃ tucchakūṭāgāraṃ ahosi, pañcapi kūṭāgārasatāni ākāse uppatiṃsu.
Đức Thế Tôn cho gọi Trưởng lão Ānanda và bảo: “Này Ānanda, ngày mai chúng ta sẽ đi khất thực tại làng thương buôn ở xứ Sunāparanta. Ông hãy phát thẻ (salāka) cho 499 vị Tỳ-khưu”. Trưởng lão vâng lời: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, rồi thông báo sự việc ấy đến chư Tăng và nói: “Chư Tỳ-khưu hãy nhận thẻ [để đi]”. Ngày hôm ấy, Trưởng lão Kuṇḍadhāna là người nhận thẻ đầu tiên. Về phía cư dân làng thương buôn, họ nghĩ: “Nghe nói ngày mai Bậc Đạo Sư sẽ đến”, nên đã dựng trại (rạp) giữa làng và chuẩn bị lễ phẩm cúng dường chu đáo.
Đức Thế Tôn đã vệ sinh thân thể từ sáng sớm, ngài bước vào Hương Thất, ngồi xuống thể nhập thiền diệt Thánh Quả. Ngai vàng Paṇḍukambala của vua trời Sakka đã nóng lên. Vua trời quan sát chuyện gì đang diễn ra mới thấy rằng: bậc Đạo Sư đang đi đến xứ Sunāparanta mới triệu tập vị Vissakamma lực ra lệnh rằng – “Này khanh, ngày hôm nay đức Thế Tôn đi khất thực một quãng đường dài khoảng 300 do-tuần, khanh hãy khéo biến hóa ra 500 căn nhà mái nhọn, sắp xếp sẵn sàng ở ngay cửa lớn Tịnh xá Jetavana để khởi hành”. Vị Vissakamma đã thực hiện theo như thế. Căn nhà mái nhọn dành cho đức Thế Tôn có bốn cửa, của hai vị Tối thượng thanh văn có hai cửa, các tòa còn lại có một cửa. Bậc Đạo Sư rời khỏi Hương Thất đi đến căn nhà mái nhọn xinh đẹp trong khu nhà mái nhọn được kiến tạo theo thứ tự. Còn 499 vị Tỳ khưu bắt đầu từ hai vị đệ nhất Thinh văn ai cũng đi đến 499 căn nhà mái nhọn. Có một căn nhà mái nhọn trống, cả 500 ngôi nhà mái nhọn cùng bay lên hư không.
Satthā Saccabandhapabbataṃ nāma patvā kūṭāgāraṃ ākāse ṭhapesi[11]. Tasmiṃ pabbate Saccabandho nāma micchādiṭṭhikatāpaso mahājanaṃ micchādiṭṭhiṃ uggaṇhāpento lābhaggayasaggappatto hutvā vasati. Abbhantare cassa antocāṭiyaṃ padīpo viya arahattassa upanissayo jalati. Taṃ disvā dhammamassa kathessāmīti gantvā dhammaṃ desesi. Tāpaso desanāpariyosāne arahattaṃ pāpuṇi, maggenevāssa abhiññā āgatā. ehibhikkhu hutvā iddhimayapattacīvaradharo hutvā kūṭāgāraṃ pāvisi.
Đức Thế Tôn đến núi Saccabandhapabbata thì dừng căn lầu lại, đặt nó lơ lửng giữa không trung.
Trên núi ấy có vị đạo sĩ tà kiến tên Saccabandha, chuyên dạy đại chúng theo tà kiến, đạt đến đỉnh cao lợi lộc và danh vọng. duyên lành chứng đắc A-la-hán đang cháy sáng như ngọn đèn trong chiếc lu.
Thấy vậy, Đức Thế Tôn nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ông ấy”, rồi đến gần và thuyết giảng Giáo pháp. Khi pháp thoại kết thúc, vị đạo sĩ chứng quả A-la-hán, các thắng trí cũng đến cùng với Đạo. Ông trở thành vị Tỳ-khưu “ehi-bhikkhu”, mang y bát do thần thông hóa hiện, rồi bước vào căn lầu còn trống.
Bhagavā kūṭāgāragatehi pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ vāṇijagāmaṃ gantvā kūṭāgārāni adissamānāni katvā vāṇijagāmaṃ pāvisi. vāṇijā Buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa mahādānaṃ datvā Satthāraṃ Makulakārāmaṃ nayiṃsu. Satthā maṇḍalamāḷaṃ pāvisi. mahājano yāva satthā bhattadarathaṃ paṭipassambheti, tāva pātarāsaṃ katvā uposathaṅgāni samādāya bahuṃ gandhañca pupphañca ādāya dhammassavanatthāya ārāmaṃ paccāgamāsi. satthā dhammaṃ desesi. Mahājanassa bandhanamokkho jāto, mahantaṃ buddhakolāhalaṃ ahosi.
Đức Thế Tôn cùng với 500 vị Tỳ-khưu ngồi trong lâu các đi đến làng thương buôn. Ngài làm cho các tòa lâu các trở nên vô hình (adissamānāni) và đi vào làng. Các thương buôn dâng đại thí đến chư Tăng có Đức Phật là thượng thủ, rồi thỉnh Bậc Đạo Sư đến tinh xá Makulakārāma. Bậc Đạo Sư bước vào ngôi nhà tròn (maṇḍalamāḷa). Đám đông dân chúng đợi cho đến khi Bậc Đạo Sư tịnh dưỡng xong sau bữa ăn, họ dùng bữa sáng, thọ trì các chi phần Uposatha, mang theo nhiều hương hoa quay trở lại tinh xá để nghe pháp. Bậc Đạo Sư thuyết pháp. Sự giải thoát khỏi trói buộc (phiền não) đã diễn ra cho đại chúng, và một tiếng reo hò lớn lao về Đức Phật vang lên khắp nơi.
Satthā mahājanassa saṅgahatthaṃ katipāhaṃ tattheva vasi, aruṇaṃ pana mahāgandhakuṭiyaṃyeva uṭṭhapesi. Tattha katipāhaṃ vasitvā vāṇijagāme piṇḍāya caritvā “tvaṃ idheva vasāhī”ti puṇṇattheraṃ nivattetvā antare Nammadānadī[12] nāma atthi, tassā tīraṃ agamāsi. Nammadānāgarājā Satthu paccuggamanaṃ katvā nāgabhavanaṃ pavesetvā tiṇṇaṃ ratanānaṃ sakkāraṃ akāsi. Satthā tassa dhammaṃ kathetvā nāgabhavanā nikkhami. So — “mayhaṃ, bhante, paricaritabbaṃ dethā”ti yāci, bhagavā nammadānadītīre padacetiyaṃ dassesi. taṃ vīcīsu āgatāsu pidhīyati, gatāsu vivarīyati[13], mahāsakkārappattaṃ ahosi. Satthā tato nikkhamma Saccabandhapabbataṃ gantvā Saccabandhaṃ āha — “tayā mahājano apāyamagge otārito, tvaṃ idheva vasitvā etesaṃ laddhiṃ vissajjāpetvā nibbānamagge patiṭṭhāpehī”ti. Sopi paricaritabbaṃ yāci. Satthā ghanapiṭṭhipāsāṇe allamattikapiṇḍamhi lañchanaṃ viya padacetiyaṃ dassesi, tato Jetavanameva gato. Etamatthaṃ sandhāya tenevantaravassenātiādi vuttaṃ.
Bậc Đạo Sư tế độ quần chúng và lưu lại đó vài ngày, nhưng rạng đông (aruṇa) thì Ngài lại khiến nó hiện khởi tại chính Đại Hương Thất (tức là ban ngày Ngài ở Sunāparanta, nhưng ban đêm Ngài dùng thần thông về lại Jetavana để ngủ/đón bình minh). Sau khi ở đó vài ngày và đi khất thực tại làng thương buôn, [lúc ra về] Ngài bảo Trưởng lão Puṇṇa dừng lại: “Ông hãy ở lại chính nơi này”, rồi Ngài đi đến bờ sông Nammadā (con sông nằm trên đường về). Vua rồng Nammadā đã nghênh đón Bậc Đạo Sư, rước Ngài vào long cung và làm lễ cúng dường đến Tam Bảo. Bậc Đạo Sư thuyết pháp cho vua rồng rồi rời long cung. Vua rồng khẩn khoản: “Bạch Thế Tôn, xin hãy ban cho con một vật gì để thờ phụng (paricaritabbaṃ)”. Đức Thế Tôn đã in lại Dấu chân tháp (padacetiya) bên bờ sông Nammadā. Dấu chân ấy khi sóng tràn đến thì bị che lấp, khi sóng rút đi thì hiển lộ, trở thành một vật được cúng dường trọng thể.
Bậc Đạo Sư rời khỏi đó, đi đến núi Saccabandha và bảo Tôn giả Saccabandha: “Ông đã từng dẫn dắt quần chúng xuống con đường khổ cảnh. Nay ông hãy ở lại đây, khiến cho họ từ bỏ tà kiến và thiết lập họ vào con đường Níp-bàn”. Vị này (Saccabandha) cũng xin một vật để thờ phụng. Bậc Đạo Sư đã ấn dấu chân lên tảng đá đặc (ghanapiṭṭhipāsāṇe) giống như ấn con dấu lên cục đất sét mềm. Từ đó Ngài đi thẳng về Jetavana. Chính nhằm ám chỉ sự kiện này, nên mới có lời (trong kinh) rằng: “Khi ấy Tôn giả Puṇṇa đã nhiếp phục được khoảng năm trăm nam cư sĩ…cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy”.
Parinibbāyīti anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyi. mahājano therassa satta divasāni sarīrapūjaṃ katvā bahūni gandhakaṭṭhāni samodhānetvā sarīraṃ jhāpetvā dhātuyo ādāya cetiyaṃ akāsi. Sambahulā bhikkhūti therassa āḷāhane ṭhitabhikkhū. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Đã viên tịch Nibbāna: đã viên tịch Nibbāna trong cảnh giới Nibbāna không còn dư sót. Đại chúng đã thực hiện việc lễ bái sắc thân của trưởng lão suốt bảy ngày, dùng nhiều loại gỗ thơm để hỏa táng thân thể (của ngài) cất giữ Xá-lợi rồi xây dựng Bảo điện để đặt (Xá-lợi). Một số đông Tỳ khưu: nhóm Tỳ khưu ở tại lễ hỏa táng của trưởng lão. Từ còn lại ở các câu đều đơn giản.
Giải Thích Kinh Giáo Giới Puṇṇa Kết Thúc