Translations [34]
English
- Bhikkhu Bodhi
- Bhikkhu Sujato
- Bhikkhuni Upalavanna
- I.B. Horner
- Suddhāso Bhikkhu
繁體字
- 莊春江
日本語
- 関西パーリ語実習会
Français
- Christian Maës
- Claude Le Ninan, Chandhana Le Ninan
- Môhan Wijayaratna
Deutsch
- Mettiko Bhikkhu
- Sabbamitta
Italiano
- De Lorenzo, Pier Antonio Morniroli, Enrico Federici
- Giovanni Zappa (2025)
Español
- Anton P. Baron
Català
- Jambudipa
Português
- Michael Beisert
Русский
- SV theravada.ru
Norsk
- Kåre A. Lie
Magyar
- Vekerdi József
Srpski
- Branislav Kovačević
Čeština
- Bhikkhu Gavésakó, Štěpán Chromovský
- Štěpán Chromovský
Polski
- Hubert Kowalewski
Slovenščina
- Bojan Božič
हिंदी
- Rahul Sankrityayan
ಕನ್ನಡ
- Dr. J. Srinivas Murthy (2012)
বাংলা
- ড. বেণীমাধব বড়ুয়া
Việt Ngữ
- Thích Minh Châu
Bahasa Indonesia
- Indra Anggara
සිංහල
- A.P. de Zoysa
ပြန်သွားရန်
- Pitaka Myanmar Translation
ภาษาไทย
- Siam Rath
पाळिभासा (Pāli)
- Mahāsaṅgīti Tipiṭaka
Reference
- Sutta Central
Commentaries [5]
English
Việt Ngữ
STT
Pāḷi
Việt
1
♦ 234. evaṃ me sutanti alagaddūpamasuttaṃ. tattha gaddhe bādhayiṃsūti gaddhabādhino, gaddhabādhino pubbapurisā assāti gaddhabādhipubbo, tassa gaddhabādhipubbassa, gijjhaghātakakulappasutassāti attho. saggamokkhānaṃ antarāyaṃ karontīti antarāyikā. te kammakilesavipākaupavādāaṇāvītikkamavasena pañcavidhā. tattha pañcānantariyadhammā kammantarāyikā nāma. tathā bhikkhunīdūsakakammaṃ, taṃ pana mokkhasseva antarāyaṃ karoti, na saggassa. niyatamicchādiṭṭhidhammā kilesantarāyikā nāma. paṇḍakatiracchānagataubhatobyañjanakānaṃ paṭisandhidhammā vipākantarāyikā nāma. ariyūpavādadhammā upavādantarāyikā nāma, te pana yāva ariye na khamāpenti, tāvadeva, na tato paraṃ. sañcicca vītikkantā satta āpattikkhandhā āṇāvītikkamantarāyikā nāma. tepi yāva bhikkhubhāvaṃ vā paṭijānāti, na vuṭṭhāti vā, na deseti vā, tāvadeva, na tato paraṃ.
[(Điều đó) được nghe bởi tôi như vầy], chỉ đến bài kinh Alagaddūpamasutta. Ở đoạn kinh đó, [những thợ bẫy kền kền – gaddhabādhino], tức: (những người) đã bẫy kền kền. [Người trước đây là thợ bẫy kền kền – gaddhabādhipubba], tức (chỉ đến) những người vào lúc trước là thợ bẫy kền kền. [(Sinh lên) cho vị trước đây là thợ bẫy kền kền đó – tassa gaddhabādhipubbassa], tức: (sinh lên) cho vị xuất thân từ tầng lớp thợ giết kền kền đó. Ý nghĩa là như vậy. [Các tác nhân chướng ngại – antarāyikā], tức: chúng gây chướng ngại cho (việc sinh lên) cõi trời và sự giải thoát. Chúng có 5 loại: (1) nghiệp; (2) phiền não; (3) quả; (4) phỉ báng; (5) phạm quy. Trong chủ đề này, 5 pháp vô gián được gọi là [nghiệp chướng ngại – kammantarāyika]. Còn nghiệp giống như nghiệp làm nhơ uế Tỳ Kheo Ni – nghiệp ấy chỉ gây chướng ngại cho sự giải thoát, (không gây chướng ngại) cho (việc sinh lên) cõi trời. Các loại Tà Kiến cố định được gọi là [phiền não chướng ngại – kilesantarāyika]. Các dạng tái hợp(i) làm người đồng tính, súc sinh, bán nam bán nữ được gọi là [quả chướng ngại – vipākantarāyika]. Các phương thức xúc phạm bậc thánh được gọi là [phỉ báng chướng ngại – upavādantarāyika]. Nhưng trong khi nào họ (những người xúc phạm bậc thánh) chưa xin các bậc thánh thứ lỗi thì chính trong khi đó (họ có phỉ báng chướng ngại); sau khi (họ xin các bậc thánh thứ lỗi) thì (họ) không (còn phỉ báng chướng ngại). 7 nhóm tội bị cố ý vi phạm được gọi là [phạm quy chướng ngại – āṇāvītikkamantarāyika]. Nhưng trong khi nào họ (những người đã phạm tội) chưa cải tội, chưa xưng tội hay còn tuyên bố tư cách Tỳ Kheo (của mình) thì chính trong khi đó (họ có phạm quy chướng ngại); sau khi (họ xưng tội, cải tội) thì (họ) không (còn phạm quy chướng ngại).
—–
(i) Tức tái sinh.
2
♦ tatrāyaṃ bhikkhu bahussuto dhammakathiko sesantarāyike jānāti, vinaye pana akovidattā paṇṇattivītikkamantarāyike na jānāti, tasmā rahogato evaṃ cintesi — ime āgārikā pañca kāmaguṇe paribhuñjantā sotāpannāpi sakadāgāminopi anāgāminopi honti. bhikkhūpi manāpikāni cakkhuviññeyyāni rūpāni passanti … pe … kāyaviññeyye phoṭṭhabbe phusanti, mudukāni attharaṇapāvuraṇādīni paribhuñjanti, etaṃ sabbaṃ vaṭṭati. kasmā itthīnaṃyeva rūpasaddagandharasaphoṭṭhabbā na vaṭṭanti? etepi vaṭṭantīti. evaṃ rasena rasaṃ saṃsandetvā sacchandarāgaparibhogañca nicchandarāgaparibhogañca ekaṃ katvā thūlavākehi saddhiṃ atisukhumasuttaṃ upanento viya, sāsapena saddhiṃ sineruṃ upasaṃharanto viya, pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppādetvā, “kiṃ bhagavatā mahāsamuddaṃ bandhantena viya mahatā ussāhena paṭhamapārājikaṃ paññattaṃ, natthi ettha doso”ti sabbaññutaññāṇena saddhiṃ paṭivirujjhanto vesārajjañāṇaṃ paṭibāhanto ariyamagge khāṇukaṇṭakādīni pakkhipanto methunadhamme doso natthīti jinassa āṇācakke pahāraṃ adāsi. tenāha — “tathāhaṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmī”tiādi.
Ở tình huống này, vị Tỳ Kheo ấy – vốn là người đa văn, bậc thuyết Pháp – biết các chướng ngại còn lại. Nhưng do không am tường về Luật, vị ấy không biết các phạm luật chướng ngại(i). Do đó, khi ở nơi độc cư, vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Các cư sĩ này tuy thọ hưởng 5 loại dục vẫn là các bậc Nhập Lưu, bậc Nhất Lai hay bậc Bất Lai. Các Tỳ Kheo cũng thấy các sắc khả ái, được mắt nhận biết… cũng xúc chạm các xúc chạm khả ái, được thân nhận biết. (Các vị ấy) cũng thọ dụng những tấm trải, mền vân vân êm ái. Mọi việc đó đều phù hợp. Tại sao sắc, thanh, hương, vị, xúc của chính những người nữ lại không phù hợp? Chúng cũng phù hợp vậy.’ Vị ấy so sánh [vị này với vị kia – rasena rasaṃ] như vậy; đánh đồng việc thọ dụng có tham dục với việc thọ dụng không có tham dục giống như sử dụng sợi chỉ cực vi tế chung với sợi vải thô, giống như thu gom núi Sineru chung với hạt cải; (vị ấy) khởi lên ác kiến rằng: ‘Tại sao Đức Thế Tôn quy định điều luật Pārājika thứ nhất với nỗ lực lớn lao giống như người đang chặn đại dương vậy? Trong tình huống này, chẳng có lỗi gì’; (vị ấy) đối nghịch với Toàn Giác Trí, phủ nhận Vô Uý Trí, quẳng gai góc, gậy cọc vân vân vào Thánh Đạo và giáng một đòn vào luật định của Đấng Chiến Thắng với tư duy rằng ‘Không có lỗi đối với việc hành dâm.’ Do đó, (vị ấy) đã nói rằng: ‘Tôi hiểu Pháp được Đức Thế Tôn thuyết như vầy’ vân vân.
—–
(i) Tức phạm quy chướng ngại.
3
♦ evaṃ byā khoti evaṃ viya kho. samanuyuñjantītiādīsu kiṃ
laddhiko tvaṃ, laddhiṃ vadehīti
pucchamānā samanuyuñjanti nāma. diṭṭhiṃ patiṭṭhāpentā
samanuggāhanti nāma. Kena kāraṇena evaṃ vadasīti
kāraṇaṃ pucchantā samanubhāsanti nāma. aṭṭhikaṅkalūpamātiādīsu (ma. ni. 2.42-48) aṭṭhikaṅkalūpamā appassādaṭṭhena. maṃsapesūpamā bahusādhāraṇaṭṭhena. tiṇukkūpamā anudahanaṭṭhena. aṅgārakāsūpamā mahābhitāpanaṭṭhena. supinakūpamā ittarapaccupaṭṭhānaṭṭhena. yācitakūpamā tāvakālikaṭṭhena. rukkhaphalūpamāsabbaṅgapaccaṅgapalibhañjanaṭṭhena. asisūnūpamā adhikuṭṭanaṭṭhena. sattisūlūpamā vinivijjhanaṭṭhena. sappasirūpamā sāsaṅkasappaṭibhayaṭṭhena. thāmasātidiṭṭhithāmena. parāmāsātidiṭṭhiparāmāsena. abhinivissa voharatīti
adhiṭṭhahitvā voharati dīpeti vā.
[Quả thật, như vậy – evaṃ byā kho], tức: quả thật, y như vậy. Ở những câu [họ truy vấn – samanuyuñjanti] vân vân; họ truy vấn bằng cách hỏi rằng: ‘Tại sao ông có quan điểm đó? Ông hãy nói quan điểm đó!’ Họ tra vấn bằng cách xác lập quan điểm. Họ thảo luận bằng cách hỏi nguyên nhân rằng: ‘Ông nói như vậy do nguyên nhân nào?’ Ở cụm từ [ví dụ về bộ xương – aṭṭhikaṅkalūpamā] vân vân (ma. ni. 2.42-48); [ví dụ về bộ xương – aṭṭhikaṅkalūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là ít ngọt ngào. [Ví dụ về miếng thịt – maṃsapesūpamā] – (nên được hiểu) theo nghĩa là của chung cho nhiều người. [Ví dụ về đuốc cỏ – tiṇukkūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là tính cháy. [Ví dụ về hố than – aṅgārakāsūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là sức nóng dữ dội. [Ví dụ về giấc mơ – supinakūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là sự tồn tại ngắn ngủi. [Ví dụ về vật được mượn – yācitakūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là tính chất tạm thời. [Ví dụ về trái cây – rukkhaphalūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là tan vỡ mọi chi phần lớn nhỏ. [Ví dụ về lò mổ – asisūnūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là cái thớt (của đồ tể). [Ví dụ về lao kiếm – sattisūlūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là sự đâm xuyên. [Ví dụ về đầu rắn – sappasirūpamā] (nên được hiểu) theo nghĩa là có sự sợ hãi, có sự kinh sợ. [Với sự cương quyết – thāmasā], tức: với sự cương quyết do tà kiến. [Với sự dính mắc – parāmāsā], tức: với sự dính mắc vào tà kiến. [Chấp giữ mà phát biểu – abhinivissa voharati], tức: chấp giữ mà phát biểu hay giải thích.
4
♦ 235. yato kho te bhikkhūti
yadā te bhikkhū. evaṃ byā kho
ahaṃ, bhante,bhagavatāti idaṃ esa attano ajjhāsayena natthīti
vattukāmopi bhagavato
ānubhāvena sampaṭicchati, buddhānaṃ kira sammukhā dve
kathā kathetuṃ samattho nāma
natthi.
[Khi nào các vị Tỳ Kheo ấy – yato kho te bhikkhū], tức: khi nào những vị Tỳ Kheo ấy. [Quả thật, như vậy. Thưa Ngài! Con… bởi Đức Thế Tôn], tức: mặc dù theo ý muốn của bản thân, vị ấy muốn nói: ‘Không có (việc đó)’, nhưng lại thừa nhận việc đó do uy lực của Đức Thế Tôn. Quả thật, ở trước mặt chư Phật, không có ai có thể nói 2 lời.
5
♦ 236. kassa kho nāma tvaṃ moghapurisāti tvaṃ moghapurisa kassa khattiyassa vā
brāhmaṇassa vā vessassa vā suddassa vā gahaṭṭhassa vā
pabbajitassa vā devassa vā manussassa vā
mayā evaṃ dhammaṃ desitaṃ
ājānāsi. atha kho bhagavā bhikkhū
āmantesīti ayaṃ pāṭiyekko anusandhi.
ariṭṭho kira cintesi —“bhagavā maṃ moghapurisoti
vadati, na kho pana moghapurisāti
vuttamattakena
maggaphalānaṃ upanissayo na
hoti. upasenampi hi vaṅgantaputtaṃ,
‘atilahuṃ kho
tvaṃ, moghapurisa, bāhullāya
āvatto’ti(mahāva. 75) bhagavā
moghapurisavādena ovadi. thero
aparabhāge ghaṭento vāyamanto
cha abhiññā sacchākāsi. ahampi tathārūpaṃ vīriyaṃ
paggaṇhitvā maggaphalāni
nibbattessāmī”ti. athassabhagavā bandhanā
pavuttassa paṇḍupalāsassa viya
aviruḷhibhāvaṃ dassento imaṃ
desanaṃ ārabhi.
[Này kẻ mê muội kia! Ông… của ai? – kassa kho nāma tvaṃ moghapurisa], tức: này kẻ mê muội kia! Ông hiểu Pháp được thuyết như vậy bởi ta (là Pháp) của Sát Đế Lỵ nào, của Bà La Môn nào, của Vessa nào, của Sudda nào, của cư sĩ nào, của người xuất gia nào, của vị trời nào hay của người nào? [Thế rồi, Đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ Kheo], (câu) này là yếu tố kết nối (đoạn văn) tách biệt (với đoạn văn trước). Quả thật, Ariṭṭha đã nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã gọi ta là ‘kẻ mê muội’. Thế nhưng, chỉ bằng lời nói ‘này kẻ mê muội kia!’ thì nền tảng cho Đạo & Quả không phải không còn. Bởi vì Đức Thế Tôn cũng đã chỉ dạy Upasena Vaṅgantaputta bằng lời nói ‘kẻ mê muội’ rằng: ‘Này kẻ mê muội kia! Ngươi đã trở nên tự mãn một cách hấp tấp’ (mahāva. 75). Về sau, trưởng lão ấy đã thực chứng 6 thắng trí nhờ sự nỗ lực, nhờ sự cố gắng. Ta cũng sẽ đạt đến các Đạo & Quả sau khi ra sức tinh tấn như thế.’ Khi đó, Đức Thế Tôn đã khởi đầu lời nói này nhằm cho thấy tình trạng không thể tiến bộ của vị ấy giống như (tình trạng) của chiếc lá vàng đã rời khỏi thân cây.
—–
(i) Tức Pháp này do ta thuyết, ông không hiểu theo ý ta mà hiểu theo ý ai?
6
♦ usmīkatopīti, bhikkhave, tumhe kinti maññatha, ayaṃ ariṭṭho
evaṃladdhiko sabbaññutaññāṇena paṭivirujjhitvā vesārajjañāṇaṃ paṭibāhitvā
tathāgatassa āṇācakke pahāraṃ
dadamāno api nu imasmiṃ
dhammavinaye usmīkatopi? Yathā nibbutepi mahante
aggikkhandhe khajjupanakamattāpi aggipapaṭikā hotiyeva, yaṃ nissāya puna
mahāaggikkhandho bhaveyya. kiṃ nu kho evaṃ
imassa appamattikāpi ñāṇusmā
atthi, yaṃ nissāya vāyamanto
maggaphalāni nibbatteyyāti? No hetaṃ, bhanteti, bhante,
evaṃladdhikassa kuto evarūpā
ñāṇusmāti? maggaphalānaṃ paccayasamatthāya ñāṇusmāya usmīkatabhāvaṃ paṭikkhipantā
vadanti. maṅkubhūtoti nittejabhūto. pattakkhandhoti patitakkhandho. appaṭibhānoti kiñci paṭibhānaṃ
apassanto bhinnapaṭibhāno evarūpampi nāma niyyānikasāsanaṃ labhitvā
aviruḷhidhammo kiramhi
samugghātitapaccayo jātoti attano abhabbataṃ
paccavekkhanto
pādaṅguṭṭhakena bhūmiṃ
khaṇamāno nisīdi.
[Có nhiệt khí – usmīkatopi], tức: này các Tỳ Kheo! Các ông nghĩ gì? Vị Ariṭṭha này với quan điểm như vậy, đối nghịch với Toàn Giác Trí, phủ nhận Vô Uý Trí và giáng một đòn vào luật định của Đức Như Lai thì liệu còn có nhiệt khí trong Pháp và Luật này chăng? Giống như một khối lửa lớn dù đã tắt, mà còn có một miếng vỏ cây bén lửa dù kích cỡ chỉ bằng con đom đóm; thì dựa vào đó khối lửa lớn vẫn có thể xuất hiện trở lại. Tương tự, liệu vị này có nhiệt trí(i) dầu ít ỏi hay không; mà dựa vào đó vị ấy có thể nỗ lực đạt đến các Đạo & Quả? [Quả thật, điều đó không có, thưa Ngài! – no hetaṃ, bhante], tức: thưa Ngài! Người có quan điểm như vậy thì có nhiệt trí như thế từ đâu? (Các vị Tỳ Kheo ấy) nói như vậy để bác bỏ trạng thái tồn tại nhiệt khí của nhiệt trí (của vị đó) có khả năng làm duyên cho các Đạo & Quả. [Trở nên bối rối – maṅkubhūta], tức: [trở nên lúng túng – nittejabhūta]. [Ủ rũ – pattakkhandha], tức: [ủ rũ – patitakkhandha]. [Mất tự tin – appaṭibhāna], tức: do không thấy sự tự tin nào, tiêu tan sự tự tin, vị ấy ngồi cào mặt đất bằng ngón chân cái trong khi suy xét về sự vô năng của bản thân mình rằng: ‘Ta đạt đến giáo lý xuất ly như vậy rồi giờ đây, ta lại không thể tiến bộ, (ta đã) bứng gốc duyên (cho Đạo & Quả).’
—–
(i) Tức [nhiệt khí – usmā] là ẩn dụ cho [trí – ñāṇa].
7
♦ paññāyissasi khoti ayampi pāṭiyekko anusandhi. ariṭṭho kira cintesi — “bhagavā mayhaṃ maggaphalānaṃ upanissayo pacchinnoti vadati, na kho pana buddhā saupanissayānaṃyeva dhammaṃ desenti, anupanissayānampi desenti, ahaṃ satthu santikā sugatovādaṃ labhitvā attano sampattūpagaṃ kusalaṃ karissāmī”ti. athassa bhagavā ovādaṃ paṭipassambhento “paññāyissasī”tiādimāha. tassattho, tvaṃyeva, moghapurisa, iminā pāpakena diṭṭhigatena nirayādīsu paññāyissasi, mama santikā tuyhaṃ sugatovādo nāma natthi, na me tayā attho, idhāhaṃ bhikkhū paṭipucchissāmīti.
[Quả thật, (ông) sẽ xuất hiện… – paññāyissasi kho], (câu) này là yếu tố kết nối (đoạn văn) tách biệt (với đoạn văn trước). Quả thật, vị Ariṭṭha đã nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn nói rằng: ‘Nền tảng cho các Đạo & Quả của ta đã bị cắt đứt’; nhưng chư Phật không chỉ thuyết Pháp cho cho những người có nền tảng, mà còn thuyết cho những người không có nền tảng. Ta có thể có được lời dạy của Đấng Thiện Thệ khi ở gần Bậc Đạo Sư; rồi làm việc thiện dẫn đến các thành quả cho bản thân mình.’ Khi đó Đức Thế Tôn đã nói: ‘(Ông) sẽ xuất hiện’ vân vân nhằm nhấn chìm lời dạy(i) đối với vị ấy. (Đây là) ý nghĩa của (cụm từ) đó: ‘Chính ông, này kẻ mê muội kia, sẽ xuất hiện ở địa ngục vân vân do Tà Kiến ác ấy. Không có cái gọi là lời dạy của Đấng Thiện Thệ cho ông khi ông ở gần ta; không có mục đích giữa ta với ông; giờ đây, ta sẽ chất vấn các vị Tỳ Kheo.’
—–
(i) Tức nói ví von là Đức Phật sẽ không dạy ông Tỳ Kheo Ariṭṭha này nữa mà chuyển sang hỏi các vị Tỳ Kheo khác.
8
♦ 237. atha kho bhagavāti ayampi pāṭiyekko anusandhi. imasmiñhi ṭhāne bhagavā parisaṃ sodheti, ariṭṭhaṃ gaṇato nissāreti. sace hi parisagatānaṃ kassaci evaṃ bhaveyya — “ayaṃ ariṭṭho bhagavatā akathitaṃ kathetuṃ kiṃ sakkhissati, kacci nu kho parisamajjhe bhagavatā kathāya samāraddhāya sahasā kathitan”ti. evaṃ kathitaṃ pana na ariṭṭhova suṇāti, aññenapi sutaṃ bhavissati. athāpissa siyā “yathā satthā ariṭṭhaṃ niggaṇhāti, mampi evaṃ niggaṇheyyāti sutvāpi tuṇhībhāvaṃ āpajjeyyā”ti. “taṃ sabbaṃ na karissantī”ti. mayāpi na kathitaṃ, aññena sutampi natthīti “tumhepi me, bhikkhave”tiādinā parisāya laddhiṃ sodheti. parisāya pana laddhisodhaneneva ariṭṭho gaṇato nissārito nāma hoti.
[Thế rồi Đức Thế Tôn], (câu) này là yếu tố kết nối (đoạn văn) tách biệt (với đoạn văn trước). Quả thật, ở chỗ này, Đức Thế Tôn làm trong sạch hội chúng, đuổi vị Ariṭṭha ấy đi khỏi hội chúng. Bởi vì nếu trong số những vị đã đến hội chúng, một vị nào đó có (lời nói) như vầy: ‘Vị Ariṭṭha này sẽ có thể nói điều không được thuyết bởi Đức Thế Tôn chăng? Giờ đây, khi Đức Thế Tôn đã bắt đầu lời giảng ở giữa hội chúng, liệu ông ta sẽ nói xen chăng?’ Nhưng không chỉ vị Ariṭṭha nghe được lời nói như vậy, mà người khác cũng sẽ nghe. Thế rồi vị ấy (vị có lời nói trên) cũng có thể có (lời nói) rằng: ‘Bậc Đạo Sư quở trách vị Ariṭṭha như thế nào thì Ngài cũng có thể quở trách ta như vậy.’ Và (người khác) nghe (điều đó) rồi có thể trở nên im lặng. (Hoặc vị đó có thể có lời nói rằng) ‘Họ không thể làm mọi việc đó. Mình cũng không nói; thì người khác không nghe được.’(i) (Do đó) Đức Phật làm trong sạch quan điểm của hội chúng bằng lời nói ‘Này các Tỳ Kheo! Các ông… bởi ta’ vân vân. Còn vị Ariṭṭha bị trục xuất khỏi tập thể do bởi chính việc thanh lọc quan điểm của hội chúng.
—–
(i) Đoạn này khó hiểu. Nhưng nhìn chung có thể thấy ra ý chính hợp với tình huống lúc đó: Đức Phật đã chê trách Tỳ Kheo Ariṭṭha công khai giữa hội chúng như vậy; thì không thể để yên cho vị ấy ở trong hội chúng. Với bầu không khí căng thẳng đó, những người xung quanh sẽ xì xào, bàn ra tán vô với đủ loại suy nghĩ. Muốn để vị Ariṭṭha ngồi lại, Ngài phải công khai thứ lỗi; bằng không, Ngài buộc phải trục xuất khéo léo.
9
♦ idāni ariṭṭhassa laddhiṃ
pakāsento so vata, bhikkhavetiādim āha. tattha aññatreva
kāmehītiādīsu yo so, bhikkhave,
bhikkhu “te paṭisevato nālaṃ
antarāyāyā”ti evaṃladdhiko, so
vata
kilesakāmehi ceva kilesakāmasampayuttehi
saññāvitakkehi ca aññatra, ete
dhamme pahāya, vinā etehi
dhammehi, vatthukāme
paṭisevissati, methunasamācāraṃ
samācarissatīti netaṃ ṭhānaṃ
vijjati. idaṃ kāraṇaṃ nāma
natthi, aṭṭhānam etaṃ
anavakāsoti.
Giờ đây, Đức Phật đã nói: ‘Này các Tỳ Kheo! Quả thật, người đó’ vân vân nhằm soi sáng quan điểm của vị Ariṭṭha. Ở đoạn kinh đó, ở cụm từ [thiếu vắng các dục – aññatreva
kāmehi] vân vân; tức: này các Tỳ Kheo! Người nào có quan điểm rằng: ‘(Những tác nhân chướng ngại) đó không đủ là chướng ngại cho người theo đuổi chúng’; thì người đó quả thật có thể theo đuổi các đối tượng dục mà thiếu vắng các phiền não dục, các tưởng và tư duy liên hệ với các phiền não dục, từ bỏ các pháp ấy (các tác nhân chướng ngại), không có các pháp ấy; người ấy có thể thực hiện việc hành dâm. Điều đó là không thể; không có cơ sở đó; điều đó là bất khả, là không khả thi.
10
♦ 238. evaṃ bhagavā ayaṃ ariṭṭho yathā nāma rajako sugandhānipi
duggandhānipi jiṇṇānipi navānipi suddhānipi asuddhānipi vatthāni
ekato bhaṇḍikaṃ karoti, evameva bhikkhūnaṃ
nicchandarāgapaṇītacīvarādiparibhogañca anibaddhasīlānaṃ gahaṭṭhānaṃ
antarāyakaraṃ sacchandarāgaparibhogañca nibaddhasīlānaṃ bhikkhūnaṃ āvaraṇakaraṃ
sacchandarāgaparibhogañca sabbaṃ ekasadisaṃkarotīti ariṭṭhassa laddhiṃ pakāsetvā idāni duggahitāyapariyattiyā dosaṃ
dassento idha, bhikkhave,
ekaccetiādim āha. tattha pariyāpuṇantīti
uggaṇhanti. Suttantiādīsu ubhatovibhaṅganiddesakhandhakaparivārā, suttanipāte maṅgalasuttaratanasutta nālakasuātuvaṭṭakasuttāni,
aññampi ca suttanāmakaṃ
tathāgatavacanaṃ suttanti
veditabbaṃ. sabbampi sagāthakaṃ suttaṃ
geyyanti veditabbaṃ, visesena saṃyuttake sakalopi
sagāthāvaggo. sakalaṃ abhidhammapiṭakaṃ,
niggāthakaṃ suttaṃ, yañca
aññampi aṭṭhahi aṅgehi
asaṅgahitaṃ buddhavacanaṃ, taṃveyyākaraṇanti veditabbaṃ. dhammapadaṃ, theragāthā, therigāthā, suttanipāte
nosuttanāmikā
suddhikagāthā ca gāthāti veditabbā. somanassañāṇamayikagāthāpaṭisaṃyuttādveasītisuttantā udānanti
veditabbā. “vuttañhetaṃ bhagavatā”tiādinayappavattā (itivu. 1,2)
dasuttarasatasuttantā itivuttakanti veditabbā. apaṇṇakajātakādīni
paṇṇāsādhikānipañcajātakasatāni
jātakanti veditabbāni. “cattārome, bhikkhave, acchariyā
abbhutā dhammā ānande”tiādinayappavattā (a. ni.4.129) sabbepi
acchariyābbhutadhammappaṭisaṃyuttā suttantā abbhutadhammanti veditabbā. cūḷavedalla mahāvedalla sammādiṭṭhi sakkapañha saṅkhāra bhājaniyamahāpuṇṇama suttādayo sabbepi
vedañca tuṭṭhiñca laddhā laddhā
pucchitasuttantā vedallanti
veditabbā.
Như vậy, Đức Thế Tôn sau khi soi sáng quan điểm của vị Ariṭṭha; thì giờ đây, Ngài đã nói: ‘Này các Tỳ Kheo! Ở đây, một số người…’ vân vân nhằm trình bày lỗi lầm của việc nắm bắt sai lạc kinh điển rằng: giống như một người thợ giặt chất thành một đống các tấm vải sạch sẽ lẫn không sạch sẽ, cũ lẫn mới, có mùi thơm lẫn có mùi hôi; hệt vậy, vị Ariṭṭha đó đã đánh đồng tất cả (các sự thọ dụng): sự thọ dụng y thượng hạng vân vân không có dục tham của các vị Tỳ Kheo; sự thọ dụng có dục tham, tạo thành chướng ngại cho những người tại gia, không có giới bắt buộc và sự thọ dụng có dục tham, tạo thành trở ngại cho các vị Tỳ Kheo có giới bắt buộc. Ở đoạn kinh đó [(vị ấy) học tập – pariyāpuṇanti], tức: (vị ấy) học tập. Ở cụm từ [kinh – sutta] vân vân; [kinh – sutta] nên được hiểu là lời của Đức Như Lai – mà (lời ấy) có tên là [kinh – sutta] – cùng những loại khác (tức không có tên là kinh) như: 2 bộ Vibhaṅga, bộ Niddesa, bộ Khandhaka và bộ Parivāra; các bài kinh Maṅgalasutta, Ratanasutta, Nālakasutta, Tuvaṭṭakasutta trong bộ Suttanipāta (Kinh Tập). [Geyya] nên được hiểu là tất cả những bài kinh có kệ – đặc biệt là toàn bộ [sagāthāvaggo – Phẩm Có Kệ] trong [saṃyuttaka – Tương Ưng Bộ]. Toàn bộ tạng [Abhidhamma – Vi Diệu Pháp], các bài kinh không có kệ cùng những Phật ngôn khác không được tập hợp theo 8 loại đó thì nên được hiểu là [Veyyākaraṇa]. [Gāthā – kệ] nên được hiểu là [Dhammapada – Pháp Cú], [Theragāthā – Trưởng Lão Kệ], [Therigāthā – Trưởng Lão Ni Kệ] và những bài kệ thuần túy không có tên gọi là kinh trong [Suttanipāta – Kinh Tập]. [Udāna – Cảm Hứng Ngữ] nên được hiểu là 82 bài kinh có kệ được tạo nên từ Trí và sự Hân Hoan của Đức Phật. [Itivuttaka – Phật thuyết như vậy] nên được hiểu là hơn 110 bài kinh diễn tiến theo thể thức là ‘Quả thật, điều này đã được nói bởi Đức Thế Tôn’ vân vân (itivu. 1,2). [Jātaka – Bổn Sanh] nên được hiểu là hơn 550 chuyện bổn sanh – bắt đầu từ bổn sanh Apaṇṇakajātaka. [Abbhutadhamma – Pháp Chưa Từng Có] nên được hiểu là tất cả những bài kinh liên quan đến Pháp Chưa Từng Có, Pháp Kỳ Diệu diễn biến theo thể thức là ‘Này các Tỳ Kheo! Này Ānanda! Đây là bốn Pháp Chưa Từng Có, Pháp Kỳ Diệu’ vân vân (a. ni.4.129). [Vedalla] nên được hiểu là tất cả các bài kinh có câu hỏi nhằm đạt được sự hân hoan, sự hoan hỷ(i) chẳng hạn như các bài kinh: Cūḷavedalla, Mahāvedalla, Sammādiṭṭhi, Sakkapañha, Saṅkhāra, Bhājaniya, Mahāpuṇṇama vân vân.
—–
(i) Tức thông qua việc giải đáp câu hỏi, thính giả hân hoan, hoan hỷ.
11
♦ atthaṃ na upaparikkhantīti
atthatthaṃ kāraṇatthaṃ na passanti na pariggaṇhanti. Anupaparikkhatanti anupaparikkhantānaṃ. na nijjhānaṃ khamantīti na upaṭṭhahanti na āpāthaṃ
āgacchanti, imasmiṃ ṭhāne
sīlaṃ samādhi vipassanā maggo
phalaṃ vaṭṭaṃ vivaṭṭaṃ kathitantievaṃ jānituṃ na sakkā hontīti
attho. te upārambhānisaṃsā cevāti te
paresaṃ vāde dosāropanānisaṃsā hutvā pariyāpuṇantīti attho. itivādappamokkhānisaṃsā cāti
evaṃvādapamokkhānisaṃsā,
parehi sakavāde dose āropite
taṃ dosaṃ evaṃ mocessāmāti
imināva kāraṇena pariyāpuṇantīti attho. tañcassa atthaṃ nānubhontīti
yassa ca maggassa vā phalassa vā
atthāya kulaputtā dhammaṃ
pariyāpuṇanti, tañcassa dhammassa
atthaṃ ete duggahitaggāhino
nānubhonti. apica parassa vāde upārambhaṃ
āropetuṃ attano vādaṃ mocetuṃ asakkontāpi tañca
atthaṃ nānubhontiyeva.
[(Họ) không suy xét ý nghĩa – atthaṃ na upaparikkhanti], tức: họ không nhận thấy, không nắm bắt ý nghĩa về mặt lợi ích và ý nghĩa về mặt nguyên nhân. [Trong khi (họ) không suy xét – anupaparikkhataṃ], tức: [trong khi (họ) không suy xét – anupaparikkhantānaṃ]. [(Họ) không hài lòng với sự hiểu biết – na nijjhānaṃ khamanti], tức: họ không hiểu; (các bài kinh ấy) không rõ ràng (về ý nghĩa đối với họ); họ không thể biết được rằng ‘Điều được thuyết ở chỗ đó là Giới, Định, Vipassanā, Đạo, Quả, Luân Hồi hay Ly Luân Hồi.’ Ý nghĩa là như vậy. [Họ… chỉ với mục đích là chê trách – te upārambhānisaṃsā ceva], tức: họ học tập với mục đích là vạch lỗi trong lời nói của những người khác. Ý nghĩa là như vậy. [(Họ)… với mục đích là xoá lỗi như vậy – itivādappamokkhānisaṃsā ca], tức: với mục đích là xoá lỗi như thế; họ học tập do chính nguyên nhân này: ‘Khi những người khác vạch lỗi trong lời nói của chúng ta, chúng ta sẽ xóa lỗi ấy như thế.’ Ý nghĩa là như vậy. [(Họ) không trải nghiệm lợi ích của (pháp) ấy – tañcassa atthaṃ nānubhonti], tức: những người con trai gia tộc học tập Pháp vì mục đích là Đạo nào hay Quả nào; thì họ – do nắm bắt sai lạc – không trải nghiệm chính lợi ích của pháp ấy. Và hơn nữa, họ không hề trải nghiệm lợi ích do không thể xóa lỗi của bản thân hay không thể chê trách đối với lời nói của người khác.
12
♦ 239. alagaddatthikoti
āsivisātthiko. gadoti hi visassa
nāmaṃ, taṃ tassa alaṃ paripuṇṇaṃ
atthīti alagaddo. bhogeti sarīre. Idha pana, bhikkhave, ekacce
kulaputtā dhammaṃ
pariyāpuṇantīti
nittharaṇapariyattivasena
uggaṇhanti. tisso hi pariyattiyo alagaddapariyatti
nittharaṇapariyatti
bhaṇḍāgārikapariyattīti.
[Mong cầu con rắn – alagaddatthika], tức: [mong cầu con rắn độc – āsivisātthika]. [Chất độc – gada] quả thật, từ đó là tên của nọc độc; con vật có đủ, có đầy chất độc – tức là [con rắn – alagadda]. [Ở mình – bhoge], tức: ở thân mình. [Này các Tỳ Kheo! Mà ở đây, một số con trai gia tộc học tập Pháp – Idha pana, bhikkhave, ekacce
kulaputtā dhammaṃ
pariyāpuṇanti], tức: họ học tập với kinh điển là (phương tiện) vượt qua(i). Quả thật, có 3 loại kinh điển: kinh điển như con rắn; kinh điển là phương tiện vượt qua; kinh điển (được dùng) theo kiểu người thủ kho.
—–
(i) Tức vượt qua luân hồi.
13
♦ tattha yo buddhavacanaṃ
uggahetvā evaṃ cīvarādīni vā labhissāmi, catuparisamajjhe
vā maṃ jānissantīti lābhasakkārahetu pariyāpuṇāti,
tassa sā pariyatti alagaddapariyatti nāma. evaṃ
pariyāpuṇato hi buddhavacanaṃ apariyāpuṇitvā niddokkamanaṃ
varataraṃ.
Trong chủ đề này, người nào học tập do nguyên nhân là sự tôn thờ của cải (với suy nghĩ rằng) ‘Sau khi nắm bắt Phật ngôn; ta sẽ đạt được y vân vân như thế hoặc người ta sẽ biết đến ta ở giữa 4 chúng’; thì kinh điển của vị ấy được gọi là [kinh điển như con rắn – alagaddapariyatti]. Quả thật, đối với người học tập như vậy; thì việc không học tập Phật ngôn mà đi ngủ là tốt hơn.
14
♦ yo pana buddhavacanaṃ
uggaṇhitvā sīlassa āgataṭṭhāne
sīlaṃ pūretvā samādhissa
āgataṭṭhāne
samādhigabbhaṃ gaṇhāpetvā vipassanāya āgataṭṭhāne
vipassanaṃ paṭṭhapetvā maggaphalānaṃ āgataṭṭhāne
maggaṃ bhāvessāmi phalaṃ sacchikarissāmīti uggaṇhāti, tassa sā pariyatti nittharaṇapariyatti nāma hoti.
Còn người nào học tập với suy nghĩ rằng ‘Ta học tập Phật ngôn; làm viên mãn Giới khi cơ hội cho Giới hiện diện; phát triển Định khi cơ hội cho Định hiện diện; cũng cố Vipassanā khi cơ hội cho Vipassanā hiện diện; rồi sẽ phát triển Đạo và thực chứng Quả khi cơ hội cho Đạo và Quả hiện diện’; thì kinh điển của người đó được gọi là [kinh điển là phương tiện vượt qua – nittharaṇapariyatti].
15
♦ khīṇāsavassa pana pariyatti
bhaṇḍāgārikapariyatti nāma. tassa hi apariññātaṃ appahīnaṃ
abhāvitaṃ asacchikataṃ vā natthi. so hi pariññātakkhandho
pahīnakileso bhāvitamaggo sacchikataphalo, tasmā
buddhavacanaṃ pariyāpuṇanto tantidhārako paveṇipālako
vaṃsānurakkhakova hutvā
uggaṇhāti. itissa sā pariyatti
bhaṇḍāgārikapariyatti nāma hoti.
Còn kinh điển của bậc lậu tận được gọi là [kinh điển (được dùng) theo kiểu người thủ kho – bhaṇḍāgārikapariyatti]. Quả thật, đối với vị ấy, không có cái chưa được thấu triệt, (không có cái) chưa được từ bỏ, (không có cái) chưa được phát triển, và (không có cái) chưa được thực chứng. Bởi vì vị ấy có uẩn đã được thấu triệt, có phiền não đã được từ bỏ, có Đạo đã được phát triển, có Quả đã được thực chứng. Do đó, trong khi học tập Phật ngôn, vị ấy học tập giống như người gìn giữ kinh điển, người bảo vệ truyền thống, người hộ vệ truyền thống. Như vậy, kinh điển của vị ấy được gọi là kinh điển (được dùng) theo kiểu người thủ kho.
16
♦ yo pana puthujjano
chātabhayādīsu ganthadharesu
ekasmiṃ ṭhāne vasituṃ
asakkontesu sayaṃ bhikkhācārena akilamamāno atimadhuraṃ buddhavacanaṃ mā nassatu, tantiṃ dhāressāmi, vaṃsaṃ ṭhapessāmi, paveṇiṃ
pālessāmīti pariyāpuṇāti, tassa pariyatti bhaṇḍāgārikapariyatti
hoti, na hotīti? na hoti. kasmā? Na attano ṭhāne ṭhatvā pariyāputattā. puthujjanassa hi pariyatti nāma
alagaddā vā hoti nittharaṇā vā, sattannaṃ sekkhānaṃ nittharaṇāva, khīṇāsavassa
bhaṇḍāgārikapariyattiyeva. imasmiṃ pana ṭhāne
nittharaṇapariyatti adhippetā.
Nhưng trong khi các bậc gìn giữ kinh điển không thể ở một chỗ do sự đói, sự sợ hãi vân vân; người phàm phu nào tự mình không mỏi mệt bởi hạnh khất thực, (người ấy) học tập (với suy nghĩ rằng) ‘Ta sẽ gìn giữ kinh điển, củng cố truyền thống, bảo vệ truyền thống. Mong Phật ngôn có vị ngọt ngào vô cùng không tiêu hoại!’; thì kinh điển của người ấy là kinh điển (được dùng) theo kiểu người thủ kho hay không? Không. Tại sao? Do sự học (của người ấy) không dựa vào vị thế của bản thân (người ấy). Quả thật, cái được gọi là kinh điển của người phàm phu là kinh điển như con rắn hay kinh điển là phương tiện vượt qua. Kinh điển của 7 bậc hữu học chính là kinh điển là phương tiện vượt qua; kinh điển của bậc lậu tận chính là kinh điển (được dùng) theo kiểu người thủ kho. Nhưng ở đoạn kinh này, kinh điển là phương tiện vượt qua được hàm ý.
17
nijjhānaṃ khamantīti sīlādīnaṃ āgataṭṭhānesu idha sīlaṃ kathitaṃ, idha samādhi, idha
vipassanā, idha maggo,
idha phalaṃ, idha vaṭṭaṃ, idha
vivaṭṭanti āpāthaṃ āgacchanti. tañcassa atthaṃ anubhontīti
yesaṃ maggaphalānaṃ atthāya pariyāpuṇanti. suggahitapariyattiṃ nissāya maggaṃ bhāvetvā phalaṃ sacchikarontā tañcassa
dhammassa atthaṃ anubhavanti. paravāde
upārambhaṃ āropetuṃ sakkontāpisakavāde āropitaṃ dosaṃ
icchiticchitaṭṭhānaṃ gahetvā mocetuṃ sakkontāpi
anubhontiyeva. dīgharattaṃ
hitāya sukhāya saṃvattantīti sīlādīnaṃ āgataṭṭhāne sīlādīni pūrentānampi, paresaṃ vāde
sahadhammena upārambhaṃ āropentānampi, sakavādato dosaṃ harantānampi, arahattaṃ patvā parisamajjhe dhammaṃ
desetvā dhammadesanāya pasannehi
upanīte cattāro paccaye
paribhuñjantānampi dīgharattaṃ
hitāya sukhāya saṃvattanti.
[(Họ) hài lòng với sự hiểu biết – nijjhānaṃ khamanti], tức: khi cơ hội cho Giới vân vân hiện diện; họ thấy rõ ràng rằng: ‘Giới được thuyết ở đây, Định được thuyết ở đây, Vipassanā được thuyết ở đây, Đạo được thuyết ở đây, Quả được thuyết ở đây, Luân Hồi được thuyết ở đây, Ly Luân Hồi được thuyết ở đây.’ [(Họ) trải nghiệm chính lợi ích ấy – tañcassa atthaṃ anubhonti], tức: họ học tập vì mục đích là các Đạo & Quả nào; thì họ phát triển Đạo dựa vào kinh điển được nắm bắt một cách đúng đắn, thực chứng Quả và trải nghiệm chính lợi ích của pháp ấy (tức Đạo & Quả ấy). Họ cũng trải nghiệm lợi ích khi có thể phê bình lời nói của người khác và có thể tránh lỗi (do họ) gây ra trong lời nói của mình bằng cách nắm bắt điểm cần thiết. [(Chúng) dẫn đến lợi lạc, an lạc suốt thời gian dài – dīgharattaṃ
hitāya sukhāya saṃvattanti], tức: chúng dẫn đến lợi lạc, an lạc suốt thời gian dài cho những người làm viên mãn Giới vân vân khi cơ hội cho Giới vân vân hiện diện; cho những người phê bình lời nói của những người khác một cách hợp lẽ; cho những người loại bỏ lỗi lầm khỏi lời nói của mình và cho những người thọ hưởng 4 vật dụng được dâng cúng bởi những ai tịnh tín vào bài giảng Pháp (của họ) sau khi họ đạt đến trạng thái A La Hán và thuyết Pháp ở giữa hội chúng.
18
evaṃ suggahite buddhavacane
ānisaṃsaṃ dassetvā idāni tattheva niyojento tasmā tiha,
bhikkhavetiādim āha. Tattha tasmāti yasmā duggahitapariyatti duggahitālagaddo viya dīgharattaṃ ahitāya dukkhāya
saṃvattati, suggahitapariyatti suggahitālagaddo viya
dīgharattaṃ hitāya sukhāya
saṃvattati, tasmāti attho. tathā naṃ
dhāreyyāthāti tatheva naṃ dhāreyyātha, teneva atthena
gaṇheyyātha. ye vā panāssu
viyattā bhikkhūti ye vā pana aññe sāriputtamoggallānamahākassapamahākaccānādikā byattā paṇḍitā
bhikkhū assu, te pucchitabbā.
ariṭṭhena viya pana mama sāsane na kalalaṃ vā kacavaraṃ
vā pakkhipitabbaṃ.
Sau khi trình bày lợi ích đối với Phật ngôn được nắm bắt một cách đúng đắn như vậy; giờ đây, ngay tại đó, Đức Phật đã nói [Này các Tỳ Kheo! Do đó ở đây] vân vân nhằm khích lệ (các Tỳ Kheo). Ở đoạn kinh đó, [do đó – tasmā], tức: ‘bởi vì kinh điển được nắm bắt một cách sai lạc dẫn đến phi lợi lạc, đau khổ suốt thời gian dài giống như con rắn bị nắm bắt sai cách; kinh điển được nắm bắt một cách đúng đắn dẫn đến lợi lạc, an lạc suốt thời gian dài giống như con rắn được nắm bắt đúng cách; do đó…’ Ý nghĩa là như vậy. [(Các ông) hãy ghi nhớ điều đó như thế – tathā naṃ dhāreyyātha], tức: (các ông) hãy ghi nhớ điều đó hệt như thế; (các ông) hãy nắm bắt điều đó dựa theo chính ý nghĩa đó. [Hoặc những vị Tỳ Kheo nào hiểu biết… – ye vā panāssu
viyattā bhikkhū], tức: hoặc những vị Tỳ Kheo nào khác là những vị hiểu biết, là bậc trí như Sāriputta, Moggallāna, Mahākassapa, Mahākaccāna vân vân; thì những vị Tỳ Kheo ấy nên được hỏi. Còn những vị Tỳ Kheo giống như Ariṭṭha thì không nên đưa bùn, rác vào giáo lý của ta.
19
♦ 240. kullūpamanti
kullasadisaṃ. nittharaṇatthāyāticaturoghanittharaṇatthāya. udakaṇṇavanti yañhi udakaṃ gambhīraṃ na puthulaṃ.
puthulaṃ vā pana na
gambhīraṃ, na taṃ aṇṇavoti vuccati. yaṃ pana
gambhīrañceva puthulañca,
taṃ aṇṇavoti vuccati. tasmā mahantaṃ udakaṇṇavanti mahantaṃ puthulaṃ gambhīraṃ
udakanti ayamettha attho. sāsaṅkaṃ nāma yattha corānaṃ
nivutthokāso dissati. ṭhitokāso,
nisinnokāso, nipannokāso dissati. sappaṭibhayaṃ nāma yattha
corehi manussā hatā dissanti,
viluttā dissanti, ākoṭitā dissanti. uttarasetūti udakaṇṇavassa upari baddho setu. kullaṃ bandhitvāti kullo nāma
taraṇatthāya kalāpaṃ katvā
baddho. pattharitvā baddhā
pana padaracāṭiādayo uḷumpoti
vuccanti. uccāretvāti ṭhapetvā. kiccakārīti pattakārī yuttakārī, patirūpakārīti attho. dhammāpi
vo pahātabbāti ettha
dhammāti samathavipassanā. bhagavā hi
samathepi chandarāgaṃ pajahāpesi, vipassanāyapi.
samathe chandarāgaṃ kattha pajahāpesi? “iti kho, udāyi, nevasaññānāsaññāyatanassapi pahānaṃ vadāmi, passasi no tvaṃ, udāyi, taṃ saṃyojanaṃ aṇuṃ vā
thūlaṃ vā, yassāhaṃ no pahānaṃ vadāmī”ti (ma. ni. 2.156) ettha
samathe chandarāgaṃ pajahāpesi. “imaṃ ce tumhe,bhikkhave,
diṭṭhiṃ evaṃ parisuddhaṃ evaṃ
pariyodātaṃ na allīyetha na
kelāyetha na dhanāyethā”ti
(ma. ni. 1.401) ettha vipassanāya
chandarāgaṃ pajahāpesi. idha
pana ubhayattha pajahāpento
“dhammāpi vo pahātabbā,
pageva adhammā”ti āha.
[Ví dụ chiếc bè – kullūpama], tức: thí dụ chiếc bè. [Vì mục đích vượt qua – nittharaṇatthāya], tức: vì mục đích vượt qua 4 dòng lũ. [Biển nước – udakaṇṇava], tức: quả thật, vùng nước nào sâu mà không rộng, hoặc vùng nước nào rộng mà không sâu; thì vùng nước đó không được gọi là biển. Mà vùng nước nào vừa sâu lại vừa rộng; thì vùng nước đó được gọi là biển. Do đó, [biển nước lớn – mahantaṃ udakaṇṇavaṃ], tức: vùng nước lớn lao, sâu và rộng. Đó là ý nghĩa ở đoạn kinh đó. [Có mối nguy – sāsaṅka], tức: có nơi ở của bọn trộm cướp ở đó; có nơi đứng, nơi ngồi, nơi nằm (của chúng). [Có nỗi sợ hãi – sappaṭibhaya], tức: người ta bị giết, bị cướp bóc, bị đánh đập bởi bọn trộm cướp ở đó. [Cây cầu vượt – uttarasetu], tức: cây cầu được nối vượt qua biển nước. [(Ta) kết bè – kullaṃ bandhitvā]; [bè – kulla], tức: cái được kết lại bằng cách tạo nên một khối (từ các vật liệu) nhằm mục đích vượt qua (biển nước). Còn các tấm ván, bình vân vân được kết lại bằng cách trải ra thì được gọi là [cái xuồng – uḷumpa](i). [(Ta) vác lên – uccāretvā], tức: (ta) đặt lên. [Người thực hiện phận sự – kiccakārī], tức: người thực hiện điều phù hợp, người thực hiện điều thích hợp, người thực hiện điều cần thiết. Ý nghĩa là như vậy. [Ngay cả các Pháp cũng nên được từ bỏ bởi các ông – dhammāpi
vo pahātabbā]; ở đoạn kinh đó, [các Pháp – dhammā], tức: Chỉ & Vipassanā. Bởi vì Đức Thế Tôn đã khuyên dạy các Tỳ Kheo từ bỏ dục tham đối với Chỉ và đối với Vipassanā. Đức Thế Tôn đã khuyên dạy các Tỳ Kheo từ bỏ dục tham đối với Chỉ ở chỗ nào? ‘Như vậy, quả thật, này Udāyi! Ta nói đến sự từ bỏ cả Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Ông có thấy sự trói buộc nhỏ hay lớn nào mà ta không nói đến sự từ bỏ nó (sự trói buộc đó) – hay không?’ (ma. ni. 2.156). Ở đoạn kinh đó, (Đức Phật) đã khuyên dạy các Tỳ Kheo từ bỏ dục tham đối với Chỉ. ‘Này các Tỳ Kheo! Nếu các ông không dính mắc, không ham thích, không ham muốn Kiến thanh tịnh như vậy, trong sạch như vậy.’ (ma. ni. 1.401). Ở đoạn kinh đó, (Đức Phật) đã khuyên dạy các Tỳ Kheo từ bỏ dục tham đối với Vipassanā. Nhưng ở đây, (Đức Phật) đã nói: ‘Ngay cả các Pháp cũng nên được từ bỏ bởi các ông; huống hồ là các Phi Pháp’ nhằm khuyên dạy các Tỳ Kheo từ bỏ đối với cả 2 trường hợp (Pháp & Phi Pháp).
—–
(i) Đây là những phương tiện di chuyển thời cổ ở Ấn Độ, ta không có đủ thông tin để thực sự hiểu cách thức chế tạo chúng.
20
♦ tatrāyaṃ adhippāyo —
bhikkhave, ahaṃ evarūpesu santappaṇītesu dhammesu
chandarāgappahānaṃ vadāmi, kiṃ pana imasmiṃ asaddhamme
gāmadhamme vasaladhamme duṭṭhulle odakantike, yattha ayaṃ ariṭṭho moghapuriso niddosasaññī pañcasu kāmaguṇesu chandarāgaṃ nālaṃ antarāyāyāti vadati. ariṭṭhena viya na tumhehi mayhaṃ sāsane kalalaṃ vā kacavaraṃ vā
pakkhipitabbanti evaṃ bhagavā
imināpi ovādena ariṭṭhaṃyeva
niggaṇhāti.
Đây là hàm ý ở đoạn kinh đó: ‘Này các Tỳ Kheo! Ta nói đến sự từ bỏ dục tham đối với các Pháp tuyệt vời, an tịnh như vậy. Thế thì còn có gì đối với cái Phi Chánh Pháp – tức pháp thô thiển, pháp thấp kém, hạ cấp, cần gột rửa này – mà đối với pháp đó, kẻ mê muội, kẻ có tư tưởng sai lầm Ariṭṭha này lại nói rằng: dục tham đối với 5 loại dục không đủ (tạo thành) chướng ngại?’ Đức Thế Tôn khiển trách chính vị Ariṭṭha bằng lời giáo huấn rằng: ‘Các ông không nên ném bùn rác vào giáo lý của ta giống như Ariṭṭha.’
21
idāni yo pañcasu khandhesu
tividhaggāhavasena ahaṃ mamanti gaṇhāti, so mayhaṃ
sāsane ayaṃ ariṭṭho viya kalalaṃ kacavaraṃ pakkhipatīti dassento
chayimāni,bhikkhavetiādim āha. tattha diṭṭhiṭṭhānānīti
diṭṭhipi diṭṭhiṭṭhānaṃ, diṭṭhiyā
ārammaṇampi diṭṭhiṭṭhānaṃ,
diṭṭhiyā paccayopi. rūpaṃ etaṃ
mamātiādīsu etaṃ mamāti
taṇhāggāho. esohamasmīti mānaggāho. eso
me attāti diṭṭhiggāho. evaṃ rūpārammaṇā taṇhāmānadiṭṭhiyo
kathitā honti. rūpaṃ pana
attāti na vattabbaṃ. vedanādīsupi
eseva nayo. diṭṭhaṃ rūpāyatanaṃ, sutaṃ saddāyatanaṃ, mutaṃ
gandhāyatanaṃ rasāyatanaṃ phoṭṭhabbāyatanaṃ, tañhi patvā
gahetabbato mutanti vuttaṃ. avasesāni sattāyatanāni viññātaṃ nāma. pattanti pariyesitvā vā apariyesitvā vā pattaṃ. pariyesitanti pattaṃ vā appattaṃ vā pariyesitaṃ. anuvicaritaṃ
manasāti cittena anusañcaritaṃ. lokasmiñhi pariyesitvā pattampi
atthi, pariyesitvā nopattampi. apariyesitvā pattampi atthi,
apariyesitvā nopattampi. Tattha pariyesitvā pattaṃ pattaṃ nāma. pariyesitvā
nopattaṃ pariyesitaṃ nāma. apariyesitvā pattañca, apariyesitvā nopattañca manasānuvicaritaṃ
nāma.
Giờ đây, (Đức Phật) đã nói: ‘Này các Tỳ Kheo! 6 (kiến lập) này’ vân vân nhằm trình bày rằng: ‘Người nào đối với 5 uẩn, nắm bắt (chúng) như ‘ta, của ta’ do 3 loại nắm bắt; thì người ấy đang ném bùn rác vào giáo lý của ta giống như vị Ariṭṭha ấy.’ Ở đoạn kinh đó, [kiến lập – diṭṭhiṭṭhāna], tức: kiến lập là [kiến – diṭṭhi], hoặc kiến lập là [đối tượng của kiến – diṭṭhiyā
ārammaṇaṃ] hoặc (kiến lập) là [duyên của kiến – diṭṭhiyā paccayo]. Ở cụm từ [(nhìn nhận) sắc rằng ‘cái này là của ta’ – rūpaṃ etaṃ
mama] vân vân; [cái này là của ta – etaṃ mama], chỉ đến [sự nắm bắt do tham ái – taṇhāggāho]. [Ta là cái này – esohamasmi], chỉ đến [sự nắm bắt do ngã mạn – mānaggāho]. [Cái này là bản ngã của ta – eso
me attā], chỉ đến [sự nắm bắt do (tà) kiến – diṭṭhiggāho]. Các đối tượng sắc và tham ái, ngã mạn cùng tà kiến đã được nói như vậy. Thế nhưng, sắc không thể được nói là ‘bản ngã’. Và đối với thọ vân vân, cũng chính phương pháp (giải thích) đó (nên được áp dụng). Sắc xứ [được thấy – diṭṭha]; thanh xứ [được nghe – suta]; hương xứ, vị xứ, xúc xứ [được biết – muta]. Quả thật, những (xứ) đó được nói là [được biết – muta] do (chúng) có thể được nắm bắt khi (chúng) đạt đến (giác quan)(i). 7 xứ còn lại được gọi là [được nhận thức – viññāta]. [Được đạt đến – patta], tức: được đạt đến với phương thức suy xét hoặc với phương thức không suy xét. [Được suy xét – pariyesita], tức: cái được đạt đến thì được suy xét hoặc cái chưa được đạt đến thì được suy xét. [Được khảo sát bằng ý – anuvicaritaṃ manasā], tức: được khảo sát bằng tâm. Quả thật, trong thế gian, có cái được đạt đến thông qua việc suy xét và có cái Không được đạt đến thông qua việc suy xét. Có cái được đạt đến thông qua việc Không suy xét và có cái Không được đạt đến thông qua việc Không suy xét. Ở đoạn kinh đó, cái được đạt đến thông qua việc suy xét thì được gọi là cái được đạt đến. Cái Không được đạt đến thông qua việc suy xét thì được gọi là cái được suy xét. Cái được đạt đến thông qua việc Không suy xét và cái Không được đạt đến thông qua việc Không suy xét thì được gọi là cái được khảo sát bằng ý.
—–
(i) Sớ giải: Gandharasaphoṭṭhabbāyatanānaṃ sampattagāhindriyavisayatāya patvā
gahetabbatā = sự nắm bắt hương, vị, xúc xứ (diễn ra) nhờ việc đạt đến phạm vi của căn – tức cái nắm bắt cái đạt đến (cái đạt đến là xứ, cái nắm bắt là căn).
22
atha vā pariyesitvā pattampi
apariyesitvā pattampi pattaṭṭhena pattaṃ nāma. pariyesitvā nopattaṃ pariyesitaṃ nāma. apariyesitvā nopattaṃ
manasānuvicaritaṃ nāma. sabbaṃ vā etaṃ manasā
anuvicaritattā manasānuvicaritaṃnāma. iminā viññāṇārammaṇā
taṇhāmānadiṭṭhiyo kathitā, desanāvilāsena heṭṭhā
diṭṭhādiārammaṇavasena
viññāṇaṃ dassitaṃ. yampi taṃ
diṭṭhiṭṭhānanti yampi etaṃ
solokotiādinā nayena pavattaṃ
diṭṭhiṭṭhānaṃ.
Hoặc cái được đạt đến thông qua việc suy xét và cái được đạt đến thông qua việc Không suy xét thì đều được gọi là cái được đạt đến do ý nghĩa là được đạt đến. Cái Không được đạt đến thông qua việc suy xét thì được gọi là cái được suy xét. Cái Không được đạt đến thông qua việc Không suy xét thì được gọi là cái được khảo sát bằng ý. Hoặc tất cả những cái đó đều được gọi là cái được khảo sát bằng ý do trạng thái được khảo sát bằng ý (của chúng). Thông qua cụm từ đó, các đối tượng của Thức, Tham Ái, Ngã Mạn, Tà Kiến đã được nói đến. Ở (đoạn kinh) bên dưới, Thức đã được trình bày với vẻ đẹp của bài giảng thông qua các đối tượng được thấy vân vân(i). [Và chính cái nào là kiến lập – yampi taṃ
diṭṭhiṭṭhānaṃ], tức: và chính cái nào là kiến lập, diễn tiến theo phương thức ‘cái đó là thế gian’ vân vân.
—–
(i) Tức: được thấy, được nghe, được biết…
23
♦ so loko so attāti yā esā “rūpaṃ attato samanupassatī”tiādinā nayena pavattā diṭṭhi loko ca attā
cāti gaṇhāti, taṃ sandhāya vuttaṃ. so pecca bhavissāmīti so ahaṃ
paralokaṃ gantvā nicco bhavissāmi, dhuvo sassato
avipariṇāmadhammo bhavissāmi, sinerumahāpathavīmahāsamuddādīhi sassatīhi samaṃ tatheva ṭhassāmi. tampi etaṃ mamāti
tampi dassanaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti
samanupassati. Iminā diṭṭhārammaṇā taṇhāmānadiṭṭhiyo kathitā. Vipassanāya paṭivipassanākāle viya
pacchimadiṭṭhiyā purimadiṭṭhiggahaṇakāle evaṃ
hoti.
[Cái đó là thế gian, cái đó là bản ngã – so loko so attā], tức: chính Tà Kiến nào diễn tiến theo phương thức ‘(Người ấy) nhìn nhận sắc là bản ngã’ vân vân (và) nắm bắt thế gian hoặc nắm bắt bản ngã; thì (cụm từ đó) được nói liên quan đến (Tà Kiến) ấy. [Sau khi chết, chính ta sẽ tồn tại – so pecca bhavissāmi], tức: chính ta sau khi đi đến thế gian khác, sẽ tồn tại mãi mãi; sẽ tồn tại bền vững, vĩnh viễn với bản chất không biến đổi. Ta sẽ tồn tại hoàn toàn chân thực(i), đồng nhất, (sẽ tồn tại) với sự vĩnh hằng như núi Sineru, đại địa, đại dương vân vân. [(Người ấy nhìn nhận) cái đó rằng ‘Cái đó là của ta’ – tampi etaṃ mamāti], tức: người ấy nhìn nhận rằng: ‘Cái nào là cái thấy; thì cái đó là của ta, ta là cái đó, cái đó là bản ngã của ta.’ Thông qua cụm từ đó, các đối tượng được thấy; Tham Ái; Ngã Mạn; Tà Kiến đã được nói đến. (Sự việc) diễn ra như vậy vào thời điểm nắm bắt Tà Kiến liền trước (thời điểm hiện tại) so với Tà Kiến ban đầu thì giống như (sự việc) diễn ra vào thời điểm Paṭivipassanā so với Vipassanā(ii).
—–
(i) [tatheva = tatho eva], có thể hiểu là sự tồn tại thực sự, không phải trải qua biến đổi nào.
(ii) Câu này quá súc tích; có một cách hiểu: theo các Sớ Giải, Paṭivipassanā là Vipassanā lặp đi lặp lại nhiều lần, phát triển mạnh mẽ – có thể hiểu là một dạng Vipassanā cao cấp. Tương tự như vậy, Tà Kiến khởi sinh lặp đi lặp lại, được củng cố thì càng mạnh mẽ. Sớ Giải: vipassanāya paṭivipassananti
dhammānañca puna vipassanaṃ.
24
♦ sukkapakkhe rūpaṃ netaṃ
mamāti rūpe taṇhāmānadiṭṭhiggāhā paṭikkhittā. vedanādīsupi eseva nayo. samanupassatīti imassa pana
padassa taṇhāsamanupassanā mānasamanupassanā
diṭṭhisamanupassanā ñāṇasamanupassanāti catasso
samanupassanāti attho. Tā kaṇhapakkhe tissannaṃ
samanupassanānaṃ, sukkapakkheñāṇasamanupassanāya vasena
veditabbā. asati na paritassatīti avijjamāne bhayaparitassanāya
taṇhāparitassanāya vā
na paritassati. iminā bhagavā
ajjhattakkhandhavināse aparitassamānaṃ khīṇāsavaṃ
dassento desanaṃ matthakaṃ pāpesi.
Ở đoạn kinh tích cực, sự nắm bắt Tà Kiến, Ngã Mạn và Tham Ái đối với Sắc bị bác bỏ (thông qua cụm từ) [sắc đó không phải là của ta – rūpaṃ netaṃ
mama]. Chính phương pháp (giải thích) đó cũng (nên được áp dụng) đối với Thọ vân vân. [(Người ấy) nhìn nhận – samanupassati], tuy nhiên, ý nghĩa của từ đó là: có 4 loại nhìn nhận – tức sự nhìn nhận dựa vào Tham Ái, sự nhìn nhận dựa vào Ngã Mạn, sự nhìn nhận dựa vào Tà Kiến và sự nhìn nhận dựa vào Trí. Ở đoạn kinh tiêu cực, sự nhìn nhận nên được hiểu với ý nghĩa là 3 sự nhìn nhận (dựa vào phiền não). Ở đoạn kinh tích cực, sự nhìn nhận nên được hiểu với ý nghĩa là sự nhìn nhận dựa vào Trí. [(Người ấy) không nôn nao đối với cái không tồn tại – asati na paritassati], tức: đối với cái không hiện tồn, (người ấy) không nôn nao theo kiểu nôn nao do sợ hãi hay theo kiểu nôn nao do tham ái. Thông qua cụm từ đó, Đức Thế Tôn khiến bài giảng đạt đến đỉnh điểm bằng cách chỉ đến bậc có Lậu Hoặc đã cạn kiệt, không nôn nao nhờ việc phá hủy các uẩn gắn với tự ngã(i).
—–
(i) Tức các uẩn được nhìn nhận theo Tà Kiến, Tham Ái… Bậc A La Hán khi chưa Vô Dư Niết Bàn thì vẫn còn ngũ uẩn, nhưng không nhìn nhận chúng theo Tà Kiến, Tham Ái…
25
♦ 242. evaṃ vutte aññataro
bhikkhūti evaṃ bhagavatā vutte aññataro anusandhikusalo bhikkhu — “bhagavatā ajjhattakkhandhavināse
aparitassantaṃ khīṇāsavaṃ
dassetvā desanā niṭṭhāpitā, ajjhattaṃ
aparitassante kho pana sati
ajjhattaṃ paritassakena bahiddhā
parikkhāravināse paritassakena aparitassakena cāpi bhavitabbaṃ. iti imehi catūhi kāraṇehi ayaṃ pañho pucchitabbo”ti cintetvā ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā añjaliṃ paggayha bhagavantaṃ etadavoca. bahiddhā asatīti bahiddhā parikkhāravināse. ahu vata meti
ahosi vata me bhaddakaṃ yānaṃ vāhanaṃ hiraññaṃ suvaṇṇanti
attho. taṃ vata me natthīti taṃ vata idāni mayhaṃ natthi, rājūhi
vā corehi vā haṭaṃ, agginā vā daḍḍhaṃ, udakena vā vuḷhaṃ,
paribhogena vā jiṇṇaṃ. siyā vatameti bhaveyya vata
mayhaṃ yānaṃ vāhanaṃ
hiraññaṃ suvaṇṇaṃ sāli vīhi yavo
godhumo. taṃ vatāhaṃ na
labhāmīti tamahaṃ alabhamāno
tadanucchavikaṃ kammaṃ akatvānisinnattā idāni na labhāmīti
socati, ayaṃ agāriyasocanā, anagāriyassa pattacīvarādīnaṃ
vasena veditabbā.
[Khi điều đó đã được nói như vậy, một vị Tỳ Kheo nào đó – evaṃ vutte aññataro
bhikkhu], tức: khi điều đó đã được nói như vậy bởi Đức Thế Tôn, một vị Tỳ Kheo nào đó giỏi liên tưởng suy nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã kết thúc bài giảng bằng cách chỉ đến bậc có Lậu Hoặc đã cạn kiệt – tức bậc không nôn nao nhờ việc phá hủy các uẩn gắn với tự ngã. Tuy nhiên, trong khi có hạng người không nôn nao (đối với cái không tồn tại) ở bên trong; thì chắc hẳn cũng có hạng người nôn nao (đối với cái không tồn tại) ở bên trong, có hạng người nôn nao (đối với cái không tồn tại) ở bên ngoài do việc mất mát các vật dụng và cũng có hạng người không nôn nao (đối với cái không tồn tại) ở bên ngoài do việc mất mát các vật dụng. Câu hỏi này nên được hỏi dựa theo 4 trường hợp như vậy’; đắp y lên một vai; chắp tay đảnh lễ rồi đã nói điều đó với Đức Thế Tôn. [Đối với cái không tồn tại ở bên ngoài – bahiddhā asati], tức: (cái không tồn tại) do việc mất mát các vật dụng. [Ôi chao, ta đã có – ahu vata me], tức: ôi chao, ta đã có những tài sản tốt đẹp như xe, cỗ xe, vàng thô, vàng. Ý nghĩa là như vậy. [Ôi chao, (hiện nay) ta không có – taṃ vata me natthi], tức: ôi chao, bây giờ ta không có nó. Nó đã bị lấy đi bởi vua chúa hay trộm cướp; đã bị đốt bởi lửa; đã bị cuốn bởi nước hay đã hư cũ do việc sử dụng. [Ôi chao, mong ta có được (nó) – siyā vatame], tức: ôi chao, mong ta có được xe, cỗ xe, vàng thô, vàng, gạo Sāli, lúa mạch, lúa mì. [Ôi chao, ta không đạt được nó – taṃ vatāhaṃ na labhāmi], tức: người ấy than van rằng: ‘Ta vốn chưa có được nó, thì giờ đây, ta không đạt được nó do ta ngồi không mà không tiến hành công việc thích hợp (để có) nó.’ Đó là sự than van của người tại gia; còn sự than van của người xuất gia nên được hiểu là (sự than van) đối với y, bát vân vân.
26
♦ aparitassanāvāre na evaṃ hotīti yehi kilesehi evaṃ bhaveyya, tesaṃ
pahīnattā na evaṃ hoti. diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānanti diṭṭhīnañca diṭṭhiṭṭhānānañca diṭṭhādhiṭṭhānānañca diṭṭhipariyuṭṭhānānañca abhinivesānusayānañca. sabbasaṅkhārasamathāyāti
nibbānatthāya. nibbānañhi āgamma
sabbasaṅkhārāiñjitāni, sabbasaṅkhāracalanāni sabbasaṅkhāravipphanditāni sammanti vūpasammanti, tasmā taṃ, “sabbasaṅkhārasamatho”ti
vuccati. Tadeva ca āgamma khandhūpadhi kilesūpadhi abhisaṅkhārūpadhi,
pañcakāmaguṇūpadhīti ime upadhayo paṭinissajjiyanti, taṇhā khīyati virajjati nirujjhati, tasmā taṃ, “sabbūpadhipaṭinissaggo
taṇhākkhayo virāgo
nirodho”ti vuccati. nibbānāyāti ayaṃ panassa sarūpaniddeso, iti
sabbeheva imehi padehi
nibbānassa sacchikiriyatthāya dhammaṃ desentassāti ayamattho dīpito. tassevaṃ hotīti tassa
diṭṭhigatikassa ucchijjissāmi nāmassu,
vinassissāmināmassu, nāssu nāma bhavissāmīti evaṃhoti.
diṭṭhigatikassa hi tilakkhaṇaṃ
āropetvā suññatāpaṭisaṃyuttaṃ katvā
desiyamānaṃ dhammaṃ suṇantassa tāso
uppajjati. vuttañhetaṃ — “tāso heso,
bhikkhave, asutavato puthujjanassa no
cassaṃ, no ca me siyā”ti (saṃ. ni. 3.55).
Ở phần nói về [sự không nôn nao – aparitassanā]; [(suy nghĩ) như vầy không xảy đến – na evaṃ hoti], tức: (suy nghĩ) như vậy dựa theo những phiền não nào có thể xảy đến (cho người ta); thì do sự từ bỏ những phiền não ấy, (suy nghĩ) như vậy không xảy đến (cho vị ấy). [Tà Kiến, Kiến Lập, Tà Quyết Tâm, Tà Khuynh Hướng, Thuỵ Miên Xu Hướng – diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayāna], tức: [Tà Kiến – diṭṭhi], [Kiến Lập – diṭṭhiṭṭhāna], [Tà Quyết Tâm – diṭṭhādhiṭṭhāna], [Tà Khuynh Hướng – diṭṭhipariyuṭṭhāna] và [Thuỵ Miên Xu Hướng – abhinivesānusaya](i). [Vì sự an tịnh mọi pháp hữu vi – sabbasaṅkhārasamathāya], tức: vì mục tiêu Niết Bàn. Bởi vì dựa vào Niết Bàn, tất cả những sự rúng động do pháp hữu vi; tất cả những sự dao động do pháp hữu vi; tất cả những sự xáo động do pháp hữu vi đều an tịnh, tịnh chỉ. Do đó, nó (Niết Bàn) được gọi là ‘sự an tịnh mọi pháp hữu vi.’ Hoặc dựa vào chính cái đó (Niết Bàn), những sự chấp thủ này – tức: sự chấp thủ các uẩn, sự chấp thủ các phiền não, sự chấp thủ các hành, sự chấp thủ 5 loại dục – bị từ bỏ. Tham ái suy giảm, bị nhàm chán, tiêu tan. Do đó, nó (Niết Bàn) được gọi là ‘sự từ bỏ mọi chấp thủ, sự cạn kiệt tham ái, sự ly tham, sự diệt.’ [Vì (mục tiêu) Niết Bàn – nibbānāya], đây là sự giải thích một cách tương đương cho từ đó (nibbānāya): với toàn bộ các từ đó như vậy (virāgāya nirodhāya…) (Như Lai hay đệ tử của Như Lai) thuyết pháp vì mục tiêu là sự thực chứng Niết Bàn. Ý nghĩa đó được soi sáng như vậy. [(Ý nghĩ) xảy đến cho vị ấy như vầy – tassevaṃ hoti], tức: (ý nghĩ xảy đến) cho người có Tà Kiến ấy (như vầy). [Ôi, ta thật sẽ tiêu tan; ôi, ta thật sẽ tiêu biến; ôi, ta thật sẽ không tồn tại – ucchijjissāmi nāmassu,
vinassissāmināmassu, nāssu nāma
bhavissāmi] (ý nghĩ) xảy đến (cho vị ấy) như vậy. Bởi vì nỗi sợ hãi phát sinh cho người có Tà Kiến khi người ấy nghe Pháp được thuyết giảng có liên hệ đến tính chất trống rỗng vào lúc tam tướng được trình bày. Quả thật, điều này đã được nói: ‘Này các Tỳ Kheo! Nỗi sợ hãi ấy phát sinh cho thường nhân chưa học tập; ta không có nỗi sợ hãi ấy, nỗi sợ hãi ấy không phát sinh cho ta.’ (saṃ. ni. 3.55)
—–
(i) Tức những xu hướng ngủ ngầm trong tâm.
27
♦ 243. ettāvatā
bahiddhāparikkhāravināse tassanakassa ca notassanakassa ca ajjhattakkhandhavināse
tassanakassa ca notassanakassa cāti imesaṃ
vasena catukkoṭikā suññatā kathitā. idāni bahiddhā parikkhāraṃ pariggahaṃ nāma katvā, vīsativatthukaṃ sakkāyadiṭṭhiṃ attavādupādānaṃ
nāma katvā, sakkāyadiṭṭhipamukhā
dvāsaṭṭhi diṭṭhiyo diṭṭhinissayaṃ
nāma katvā tikoṭikaṃ suññataṃ dassetuṃ taṃ, bhikkhave,
pariggahantiādimāha. tattha pariggahanti bahiddhā
parikkhāraṃ. pariggaṇheyyāthāti yathā
viññū manusso pariggaṇheyya. ahampi kho taṃ, bhikkhaveti,
bhikkhave, tumhepi na passatha,
ahampi na passāmi,
iti evarūpo pariggaho natthīti
dasseti. evaṃ sabbattha attho veditabbo.
Trong chừng mực đó, tính chất trống rỗng đã được thuyết theo 4 phương diện này: đối với người nôn nao khi tài sản bên ngoài tiêu tan; đối với người không nôn nao khi tài sản bên ngoài tiêu tan; đối với người nôn nao khi các uẩn gắn với tự ngã tiêu tan; đối với người không nôn nao khi các uẩn gắn với tự ngã tiêu tan. Giờ đây, (Đức Phật) đã nói ‘Này các Tỳ Kheo! (Các ông có thể có được) sự sở hữu đó’ vân vân nhằm trình bày tính chất trống rỗng gồm 3 phương diện dựa theo Tà Kiến: 62 Tà Kiến với Thân Kiến là cái trước tiên; sự chấp thủ vào quan điểm về Bản Ngã dựa theo Thân Kiến với 20 cơ sở; sự sở hữu tài sản bên ngoài. Ở đoạn kinh đó, [sự sở hữu – pariggaha] chỉ đến tài sản bên ngoài. [(Các ông) có thể có được – pariggaṇheyyātha] theo cách người trí có được. [Này các Tỳ Kheo! Quả thật, ta cũng (không thấy sự sở hữu) đó – ahampi kho taṃ, bhikkhave], tức: Đức Phật trình bày rằng: ‘Này các Tỳ Kheo! Các ông không thấy, ta cũng không thấy. Như vậy, sự sở hữu theo kiểu như thế không tồn tại.’ Ý nghĩa nên được hiểu như vậy ở mọi chỗ (liên quan).
28
♦ 244. evaṃ tikoṭikaṃ suññataṃ
dassetvā idāni ajjhattakkhandhe attāti bahiddhā
parikkhāre attaniyanti katvā dvikoṭikaṃ
dassento attani vā, bhikkhave, satītiādimāha. tattha
ayaṃ saṅkhepattho, bhikkhave,
attani vā sati idaṃ me parikkhārajātaṃ attaniyanti assa, attaniyeva vā parikkhāre sati ayaṃ me attā
imassa parikkhārassa sāmīti, evaṃ ahanti. sati mamāti, mamāti sati ahanti yuttaṃ
bhaveyya. Saccatoti bhūtato, thetatoti tathato thirato
vā.
Sau khi trình bày tính chất trống rỗng gồm 3 phương diện như vậy; giờ đây, Đức Phật đã nói: ‘Này các Tỳ Kheo! Khi bản ngã tồn tại’ vân vân nhằm trình bày (tính chất trống rỗng) gồm 2 phương diện: ‘bản ngã’ theo nghĩa là các uẩn gắn với tự ngã, ‘cái thuộc bản ngã’ theo nghĩa là tài sản bên ngoài. Ở đoạn kinh đó, đây là ý nghĩa súc tích: ‘Này các Tỳ Kheo! Khi bản ngã tồn tại; thì các loại tài sản, tức cái thuộc bản ngã ấy cũng tồn tại cho ta. Hoặc khi cái thuộc bản ngã, tức tài sản tồn tại; thì bản ngã ấy của ta, tức chủ nhân của tài sản đó cũng tồn tại. Như vậy, ‘cái ta – ahaṃ’ tồn tại khi ‘cái của ta – mama’ tồn tại; ‘cái của ta – mama’ tồn tại khi ‘cái ta – ahaṃ’ tồn tại. (Chúng) ràng buộc (với nhau). [Như thật – saccato], tức: đúng theo thực tính. [Như chân – thetato], tức: đúng theo sự thật hay một cách vững chắc.
29
♦ idāni ime pañcakkhandhe
aniccaṃ dukkhaṃ anattāti evaṃ tiparivaṭṭavasena
aggaṇhanto ayaṃ ariṭṭho viya mayhaṃ
sāsane kalalaṃ kacavaraṃ
pakkhipatīti dassento taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ
niccaṃ vātiādimāha. tattha
aniccaṃ, bhanteti, bhante, yasmā hutvā na hoti, tasmā
aniccaṃ. Uppādavayavattito vipariṇāmatā vakālikaniccapaṭikkhepaṭṭhena
vāti catūhi kāraṇehi aniccaṃ. dukkhaṃ, bhanteti, bhante,
paṭipīḷanākārena dukkhaṃ, santāpadukkhamadukkhavatthukasukhapaṭikkhepaṭṭhena vāti catūhi
kāraṇehi dukkhaṃ. vipariṇāmadhammanti bhavasaṅkantiupagamanasabhāvaṃ pakatibhāvavijahanasabhāvaṃ. kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attāti yuttaṃ nu kho taṃ
imesaṃ tiṇṇaṃ taṇhāmānadiṭṭhiggāhānaṃ vasena ahaṃ mamāti evaṃ gahetuṃ. no
hetaṃ, bhanteti iminā te bhikkhū avasavattanākārena
rūpaṃ,
bhante, anattāti paṭijānanti. suññāssāmikānissarāttapaṭikkhepaṭṭhena vāti catūhi kāraṇehi anattā.
Giờ đây, Đức Phật đã nói: ‘Này các Tỳ Kheo! Các ông nghĩ gì về điều này? Sắc là thường hay (vô thường)’ vân vân nhằm trình bày: người không nắm bắt ngũ uẩn này dựa theo 3 vòng tròn như vầy ‘vô thường, khổ, vô ngã’ giống như vị Ariṭṭha này thì ném bùn rác vào trong giáo lý của ta. Ở đoạn kinh đó, [thưa Ngài! Vô thường], tức: ‘Thưa Ngài! Bởi vì sau khi tồn tại, các uẩn không tồn tại; do đó, (nó) vô thường. (Nó) vô thường do 4 nguyên nhân: do sự diễn tiến của nó (theo cách) sinh lên rồi diệt đi; hoặc (nó vô thường) theo nghĩa biến đổi; theo nghĩa (tồn tại) nhất thời và theo nghĩa đối lập với tính chất thường.’ [Thưa Ngài! Khổ], tức: ‘Thưa Ngài! (Nó) khổ theo phương cách là áp bức. (Nó) khổ do 4 nguyên nhân: sự bức bách; sự khó chịu đựng; nền tảng cho khổ(i); (khổ) theo nghĩa đối nghịch với lạc.’ [Có tính chất biến đổi – vipariṇāmadhamma], tức: có bản chất đi đến sự chuyển đổi trạng thái tồn tại, có bản chất từ bỏ trạng thái gốc. [Liệu có thích hợp nhìn nhận cái đó là: ‘cái đó là của ta; ta là cái đó; cái đó là bản ngã của ta’ không? – kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā], tức: liệu có phù hợp nắm bắt cái đó rằng: ‘Cái đó là của ta; ta là cái đó’ do 3 sự nắm bắt theo Tham Ái, Ngã Mạn, Tà Kiến này hay không? [Quả thật, thưa Ngài! Điều đó không (đúng) – no
hetaṃ, bhante], tức: thông qua cụm từ đó, các vị Tỳ Kheo ấy thừa nhận rằng: ‘Thưa Ngài! Sắc thì vô ngã theo phương cách là diễn tiến vô kiểm soát.’ (Nó) thì vô ngã do 4 nguyên nhân: do tính trống rỗng; do sự vô chủ nhân; do sự không có người tạo tác; (vô ngã) theo nghĩa là đối nghịch với bản ngã.
—–
(i) Tức nó (các uẩn) là nền tảng cho khổ luân hồi. Sớ giải: Tissannaṃ dukkhatānaṃ saṃsāradukkhassa adhiṭṭhānatāya dukkhavatthukatā.
30
♦ bhagavā hi katthaci aniccavasena anattattaṃ dasseti, katthaci dukkhavasena, katthaci ubhayavasena. “cakkhu attāti yo vadeyya, taṃ na upapajjati, cakkhussa uppādopi vayopi paññāyati. yassa kho pana
uppādopi vayopi paññāyati, attā me uppajjati caveti cāti
iccassa evam āgataṃ hoti, tasmā taṃ na
upapajjati cakkhu attāti yo vadeyya, iti cakkhu anattā”ti (ma. ni. 3.422) imasmiñhi chachakkasutte aniccavasena anattataṃ dasseti. “rūpañca hidaṃ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṃ rūpaṃ ābādhāya saṃvatteyya, labbhetha ca rūpe ‘evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’ti. yasmā ca kho, bhikkhave, rūpaṃ anattā, tasmā rūpaṃ ābādhāya saṃvattati, na ca
labbhati rūpe ‘evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’”ti (mahāva. 20; saṃ.ni. 3.59) imasmiṃ anattalakkhaṇasutte dukkhavasena anattataṃ dasseti. “rūpaṃ, bhikkhave, aniccaṃ, yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ, yaṃ dukkhaṃ tadanattā, yadanattā taṃ ‘netaṃ
mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabban”ti (saṃ. ni. 3.76) imasmiṃ arahattasutte ubhayavasena anattataṃ dasseti. kasmā? aniccaṃ dukkhañca pākaṭaṃ. anattāti na pākaṭaṃ.
Quả thật, có chỗ Đức Thế Tôn trình bày tính vô ngã thông qua tính vô thường; có chỗ (Đức Thế Tôn trình bày tính vô ngã) thông qua tính khổ; có chỗ (Đức Thế Tôn trình bày tính vô ngã) thông qua cả 2 tính đó. Khi một người nào đó nói rằng: ‘Con mắt là Bản Ngã’; thì điều đó không phù hợp. Sự sinh lên và hoại diệt của con mắt hiển hiện(i). Và khi sự sinh lên cũng như hoại diệt của con mắt hiển hiện; thì (kết luận) được đạt đến cho người ấy rằng: ‘Bản Ngã của ta sinh lên và diệt đi.’ Do đó, khi một người nào đó nói rằng: ‘Con mắt là Bản Ngã’; thì điều đó không phù hợp. Như vậy, con mắt thì vô ngã (ma. ni. 3.422). Quả thật, trong bài kinh Chachakkasutta; Đức Phật trình bày tính vô ngã dựa theo tính vô thường. ‘Này các Tỳ Kheo! Quả thật, nếu sắc đó là bản ngã; thì sắc đó không dẫn tới bệnh và (điều này) có thể được đạt đến đối với sắc: ‘Sắc của ta hãy tồn tại như thế này; sắc của ta chớ tồn tại như thế kia.’ Này các Tỳ Kheo! Bởi vì sắc thì vô ngã; cho nên sắc dẫn tới bệnh và (điều này) không thể được đạt đến đối với sắc: ‘Sắc của ta hãy tồn tại như thế này; sắc của ta chớ tồn tại như thế kia.’ (mahāva. 20; saṃ.ni. 3.59). Trong bài kinh Anattalakkhaṇasutta; Đức Phật trình bày tính vô ngã dựa theo tính khổ. ‘Này các Tỳ Kheo! Sắc thì vô thường. Cái gì vô thường; thì cái đó khổ. Cái gì khổ; thì cái đó vô ngã. Cái gì vô ngã; thì chính cái đó nên được nhìn bằng trí tuệ chân chánh theo thực tính rằng: ‘Cái đó không phải của ta. Ta không phải là cái đó. Cái đó không phải là bản ngã của ta.’ (saṃ. ni. 3.76). Trong bài kinh Arahattasutta; Đức Phật trình bày tính vô ngã dựa theo cả 2 tính kia. Tại sao? Tính vô thường và tính khổ thì rõ ràng. Tính vô ngã thì không rõ ràng.
—–
(i) [Hiển hiện – paññāyati], tức xảy ra trong thực tế, được mọi người biết đến rộng rãi.
31
♦ paribhogabhājanādīsu hi bhinnesu aho aniccanti vadanti, aho anattāti vattā nāma natthi. Sarīre gaṇḍapiḷakādīsu vā uṭṭhitāsu kaṇṭakena vā viddhā aho dukkhanti vadanti, aho anattāti pana vattā nāma natthi. kasmā? Idañhi anattalakkhaṇaṃ nāma avibhūtaṃ duddasaṃ duppaññāpanaṃ. tena taṃ bhagavā aniccavasena vā dukkhavasena vā ubhayavasena vā dasseti. tayidaṃ imasmimpi teparivaṭṭe aniccadukkhavaseneva dassitaṃ. vedanādīsupi eseva nayo.
Bởi vì khi những thứ mà người ta hưởng thụ, gắn bó vân vân tan vỡ; thì người ta nói: ‘Ôi chao! Thật vô thường!’ Nhưng quả thật, người ta không nói: ‘Ôi chao! Thật vô ngã!’ Khi những vết phồng, vết phỏng trên thân thể nổi lên hoặc khi người ta bị gai đâm thì người ta nói: ‘Ôi chao! Thật khổ!’ Nhưng người ta không nói: ‘Ôi chao! Thật vô ngã!’ Tại sao? Bởi vì đặc tính vô ngã đó quả thật không rõ ràng, khó thấy, khó được làm cho biết. Do đó, Đức Thế Tôn trình bày điều đó (tính vô ngã) thông qua tính vô thường, tính khổ hay cả 2 tính đó. Và trong 3 vòng tròn này(i), điều đó (tính vô ngã) được trình bày thông qua chính tính vô thường và tính khổ. Chính phương pháp (giải thích) đó cũng (nên được áp dụng) đối với thọ vân vân.
—–
(i) Tức 3 đặc tính: vô thường, khổ, vô ngã được thuyết trong bài kinh này.
32
♦ tasmā tiha, bhikkhaveti,
bhikkhave, yasmā etarahi aññadāpi rūpaṃ aniccaṃ dukkhaṃ anattā, tasmāti attho. yaṃ kiñci rūpantiādīni
visuddhimagge khandhaniddese vitthāritāneva.
[Do đó, ở đây, này các Tỳ Kheo!], tức: ‘Này các Tỳ Kheo! Bởi vì bây giờ và cả lúc khác, sắc thì vô thường, khổ, vô ngã. Do đó…’ Ý nghĩa là như vậy. [Bất kỳ sắc nào] vân vân đã được giảng giải xong trong phần Khandhaniddesa thuộc bộ [Thanh Tịnh Đạo – Visuddhimagga].
33
♦ 245. nibbindatīti ukkaṇṭhati. ettha ca nibbidāti vuṭṭhānagāminī vipassanā adhippetā. vuṭṭhānagāminīvipassanāya hi bahūni nāmāni. esā hi katthaci saññagganti vuttā. Katthaci dhammaṭṭhitiñāṇanti. Katthaci pārisuddhipadhāniyaṅganti. Katthaci paṭipadāñāṇadassanavisuddhīti. Katthaci tammayatāpariyādānanti. katthaci tīhi nāmehi. Katthaci dvīhīti.
[(Người ta) nhàm chán – nibbindati], tức: [(người ta) không thoả mãn – ukkaṇṭhati]. Và ở đoạn kinh đó, [sự nhàm chán – nibbidā] được hàm ý là [Tuệ Vipassanā dẫn đến sự khởi lên – vuṭṭhānagāminī vipassanā]. Quả thật, có nhiều tên gọi cho Tuệ Vipassanā dẫn đến sự khởi lên. Bởi vì có nơi nó được gọi là [Hậu Tưởng Trí – Saññagga]. Có nơi nó được gọi là [Pháp Trụ Trí – Dhammaṭṭhitiñāṇa]. Có nơi nó được gọi là [Yếu tố nỗ lực viên tịnh – Pārisuddhipadhāniyaṅga]. Có nơi nó được gọi là [Sự thanh tịnh Tri Kiến thực hành – Paṭipadāñāṇadassanavisuddhi]. Có nơi nó được gọi là [Sự nắm bắt cái tạo tác – Tammayatāpariyādāna]. Có nơi nó được gọi bằng 3 tên. Có nơi nó được gọi bằng 2 tên.
34
♦ tattha poṭṭhapādasutte tāva “saññā kho, poṭṭhapāda, paṭhamaṃ uppajjati, pacchā ñāṇan”ti (dī. ni. 1.416) evaṃ saññagganti vuttā. Susimasutte “pubbe kho, susima, dhammaṭṭhitiñāṇaṃ, pacchā nibbāne ñāṇan”ti (saṃ. ni. 2.70) evaṃ dhammaṭṭhitiñāṇanti vuttā. Dasuttarasutte “paṭipadāñāṇadassanavisuddhipadhāniyaṅgan”ti (dī. ni. 3.359) evaṃpārisuddhipadāniyaṅganti vuttā. rathavinīte “kiṃ nu kho, āvuso, paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthaṃ bhagavati
brahmacariyaṃ vussatī”ti (ma. ni. 1.257) evaṃ paṭipadāñāṇadassanavisuddhītivuttā. saḷāyatanavibhaṅge “atammayataṃ, bhikkhave, nissāya atammayataṃ āgamma yāyaṃ upekkhā
nānattā nānattasitā, taṃ
abhinivajjetvā yāyaṃ upekkhā ekattā ekattasitā, taṃ nissāya taṃ āgamma evametissā pahānaṃ hoti, evametissā
samatikkamo hotī”ti (dī. ni. 3.310) evaṃ tammayatāpariyādānanti vuttā. paṭisambhidāmagge
“yā ca muñcitukamyatā, yā ca paṭisaṅkhānupassanā, yā
ca saṅkhārupekkhā, ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti (paṭi. ma. 1.54) evaṃ tīhi nāmehi vuttā. paṭṭhāne “anulomaṃ gotrabhussa anantarapaccayena paccayo, anulomaṃ vodānassa anantarapaccayena paccayo”ti (paṭṭhā. 1.1.417) evaṃ dvīhi nāmehi vuttā. imasmiṃ pana alagaddasutte nibbindatīti nibbidānāmena āgatā.
Trong chủ đề này, như trong bài kinh Poṭṭhapādasutta: ‘Này Poṭṭhapāda! Tưởng sinh lên trước tiên; sau đó, Trí (sinh lên).’ (dī. ni. 1.416). [Hậu Tưởng (Trí) – saññagga] được nói như vậy. Trong bài kinh Susimasutta, [Pháp Trụ Trí – dhammaṭṭhitiñāṇa] đã được nói rằng: ‘Này Susima! Quả thật, Pháp Trụ Trí sinh lên trước; sau đó, Trí về Niết Bàn sinh lên.’ (saṃ. ni. 2.70). Trong bài kinh Dasuttarasutta, [Yếu tố nỗ lực viên tịnh – pārisuddhipadāniyaṅga] đã được nói là: ‘Yếu tố nỗ lực thanh tịnh Tri Kiến thực hành.’ (dī. ni. 3.359). Trong bài kinh Rathavinīta, [Sự thanh tịnh Tri Kiến thực hành – paṭipadāñāṇadassanavisuddhi] đã được nói rằng: ‘Này ông! Phải chăng Phạm Hạnh dưới trướng Đức Thế Tôn đã được sống vì mục đích là sự thanh tịnh Tri Kiến thực hành?’ (ma. ni. 1.257). Trong bộ Saḷāyatanavibhaṅga, [sự nắm bắt cái tạo tác – tammayatāpariyādāna(i)] đã được nói rằng: ‘Này các Tỳ Kheo! Dựa trên cái không tạo tác(ii), dựa vào cái không tạo tác, cái nào là Xả đa dạng, dựa trên tính đa dạng; thì sau khi tránh cái đó, cái nào là Xả đơn nhất, dựa trên tính đơn nhất; thì dựa trên Xả đó, dựa vào Xả đó, có sự từ bỏ Xả kia (Xả đa dạng) như vậy, có sự vượt qua Xả kia (Xả đa dạng) như vậy.’ (dī. ni. 3.310). Trong bộ Paṭisambhidāmagga, (Tuệ Vipassanā dẫn đến sự khởi lên) đã được nói với 3 tên gọi rằng: ‘Cái nào là mong muốn giải thoát, cái nào là sự quán sát, cái nào là Hành Xả; thì những pháp đó tuy đa dạng về mặt tiếng gọi nhưng chỉ một về mặt ý nghĩa.’ (paṭi. ma. 1.54). Trong bộ Paṭṭhāna, (Tuệ Vipassanā dẫn đến sự khởi lên) đã được nói với 2 tên gọi rằng: ‘Tâm thuận thứ là duyên – theo loại là vô gián duyên – cho tâm chuyển tộc. Tâm thuận thứ là duyên – theo loại là vô gián duyên – cho tâm chỉ tịnh.’ (paṭṭhā. 1.1.417). Tuy nhiên, trong bài kinh Alagaddasutta này, (cụm từ) ‘(người ta) nhàm chán’ xuất hiện với danh từ [sự nhàm chán – nibbidā].
—–
(i) Theo Sớ Giải, [cái tạo tác – tammayatā] là một tên gọi của [tham ái – taṇhā].
(ii) Theo Sớ Giải, [cái không tạo tác – atammayatā] là Tuệ Vipassanā dẫn tới sự khởi lên.
35
♦ nibbidā virajjatīti ettha virāgoti maggo virāgā vimuccatīti ettha virāgena maggena vimuccatīti phalaṃ kathitaṃ. vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hotīti idha
paccavekkhaṇā kathitā.
[Nhờ sự nhàm chán, (người ta) ly tham – nibbidā virajjati], ở đây, [sự ly tham – virāga], tức: [Đạo – magga]. [Nhờ sự ly tham, (người ta) giải thoát – virāgā vimuccati], ở đây, (người ta) giải thoát nhờ sự ly tham – tức Đạo. Quả đã được nói như vậy. [Khi (người ta) đã giải thoát, Trí tồn tại rằng ‘Đã giải thoát’ – vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti], tức: ở đây, sự [quán xét – paccavekkhaṇā] đã được nói.
36
♦ evaṃ vimuttacittaṃ mahākhīṇāsavaṃ dassetvā idāni tassa yathābhūtehi pañcahi kāraṇehi nāmaṃ gaṇhanto ayaṃ vuccati, bhikkhavetiādimāha. Avijjāti vaṭṭamūlikā avijjā. Ayañhi durukkhipanaṭṭhena palighoti vuccati. Tenesa tassa ukkhittattā ukkhittapalighoti vutto. Tālāvatthukatāti sīsacchinnatālo viya katā, samūlaṃ vā tālaṃ uddharitvā tālassa vatthu viya katā, yathā tasmiṃ vatthusmiṃ puna so tālo na paññāyati, evaṃ puna apaññattibhāvaṃ nītāti attho. Ponobbhavikoti punabbhavadāyako. jātisaṃsārotiādīsu jāyanavasena ceva saṃsaraṇavasena ca evaṃ laddhanāmānaṃ punabbhavakhandhānaṃ paccayo kammābhisaṅkhāro. so hi punappunaṃ uppattikaraṇavasena parikkhipitvā ṭhitattā parikkhāti vuccati, tenesa tassā saṃkiṇṇattā vikiṇṇattā saṃkiṇṇaparikkhoti vutto. taṇhāti vaṭṭamūlikā taṇhā. Ayañhi gambhīrānugataṭṭhena esikāti vuccati. tenesa tassā abbūḷhattā luñcitvā chaḍḍitattā abbūḷhesikoti vutto. Orambhāgiyānīti oraṃ bhajanakāni kāmabhave upapattipaccayāni. etāni hi kavāṭaṃ viya nagaradvāraṃ cittaṃ pidahitvā ṭhitattā aggaḷāti vuccanti. Tenesa tesaṃ nirākatattā bhinnattā niraggaḷoti vutto. Ariyoti nikkileso parisuddho. Pannaddhajoti patitamānaddhajo. Pannabhāroti khandhabhārakilesabhārābhisaṅkhārabhārapañcakāmaguṇabhārā pannā orohitā assāti pannabhāro. apica idha mānabhārasseva oropitattā pannabhāroti adhippeto. visaṃyuttoti catūhi yogehi sabbakilesehi ca visaṃyutto. idha pana mānasaṃyogeneva visaṃyuttattā visaṃyuttoti adhippeto. asmimānoti rūpe asmīti māno, vedanāya… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe asmīti māno.
Sau khi trình bày về bậc Đại Lậu Tận(i) có tâm giải thoát như vậy; giờ đây, (Đức Phật) đã nói: ‘Này các Tỳ Kheo! Điều đó được gọi là…’ vân vân nhằm nắm bắt tên gọi của bậc ấy dựa vào 5 cơ sở theo thực tính. [Vô minh – avijjā], tức: vô minh – vốn là gốc cho vòng luân hồi. Quả thật, cái đó (vô minh) được gọi là [thanh sắt – paligha] với ý nghĩa là khó bứng lên(ii). Do đó, bậc (lậu tận) đó được gọi là ‘bậc đã bứng lên thanh sắt’ do trạng thái đã bứng thanh sắt đó. [Bị khiến trở thành như gốc cọ – tālāvatthukata], tức: bị khiến trở thành như cây cọ đã bị chặt phần thân. Hoặc bị khiến trở thành như phần gốc của cây cọ đã bị bứng luôn cả rễ. Giống như cây cọ đó không xuất hiện trở lại ở phần gốc đó; cũng vậy, (vô minh) bị dẫn đến trạng thái không xuất hiện trở lại. Ý nghĩa là như vậy. [Tái hữu – ponobbhavika], tức: gây ra sự tái hữu. Ở cụm từ [luân hồi tái sinh – jātisaṃsāra] vân vân; sự tích luỹ nghiệp về mặt tái sinh hay luân hồi là duyên cho các uẩn tái hữu, (các uẩn đó) có tên gọi được đặt như thế. Quả thật, sau khi (sự tích luỹ) đó với phương diện là gây ra sự sinh hết lần này đến lần khác bị xoá bỏ; thì trạng thái (lúc đó) được gọi là ‘cạn kiệt – parikkhā’. Do đó, (bậc lậu tận) đó được gọi là ‘bậc cạn kiệt hoàn toàn’ do trạng thái trọn vẹn, trạng thái đầy đủ của (sự cạn kiệt) đó. [Tham ái – taṇhā], tức: tham ái – vốn là gốc cho vòng luân hồi. Quả thật, nó được gọi là ‘cái trụ’ với ý nghĩa là ngập sâu (vào lòng đất). Do đó, (bậc lậu tận) đó được gọi là ‘bậc đã rút cái trụ’ do vị ấy đã rút lên, bứng lên, nhổ bỏ (cái trụ) đó. [Các hạ phần – orambhāgiyāni], tức: các thành tố thấp kém – vốn là các duyên cho việc sinh lên ở cõi dục. Quả thật, chúng được gọi là ‘các thanh chắn’ do chúng đóng chặn tâm giống như cái chốt cửa (đóng chặn) cái cổng thành. Do đó, (bậc lậu tận) đó được gọi là ‘bậc không còn thanh chắn’ do vị ấy đã tháo rút, đã phá vỡ (các thanh chắn) đó. [Bậc thánh – ariya], tức: bậc không còn phiền não, bậc thanh tịnh. [Có lá cờ đã hạ – pannaddhaja], tức: đã hạ lá cờ ngã mạn. [Có gánh nặng đã hạ – pannabhāra], tức: gánh nặng 5 loại dục, gánh nặng tích luỹ (nghiệp), gánh nặng phiền não và gánh nặng các uẩn đã hạ xuống, đã nằm xuống. Và hơn nữa, ở đây, [có gánh nặng đã hạ – pannabhāra] được hàm ý là ‘có gánh nặng đã hạ’ do việc chính gánh nặng ngã mạn đã hạ xuống. [Không còn ràng buộc – visaṃyutta], tức: không còn ràng buộc bởi mọi phiền não, 4 sự trói buộc. Nhưng ở đây, (cụm từ này) được hàm ý là ‘không còn ràng buộc’ với ý nghĩa là không còn ràng buộc bởi chính sự trói buộc ngã mạn. [Ngã mạn ‘(ta) tồn tại’ – asmimāna], tức: ngã mạn rằng ‘(ta) tồn tại trong sắc’; ngã mạn rằng ‘(ta) tồn tại trong thọ’; ngã mạn rằng ‘(ta) tồn tại trong tưởng’; ngã mạn rằng ‘(ta) tồn tại trong hành’; ngã mạn rằng ‘(ta) tồn tại trong thức’.
—–
(i) Tức vị A La Hán nào đó, không nhất thiết là Đức Phật.
(ii) [Thanh sắt – paligha] là hình ảnh ẩn dụ cho chướng ngại. Có thể hiểu thanh sắt với sức nặng được ghim chặt xuống đất hay lắp vào các công trình nào đó thì khó bứng gỡ.
37
♦ ettāvatā bhagavatā maggena kilese khepetvā nirodhasayanavaragatassa nibbānārammaṇaṃ phalasamāpattiṃ appetvā viharato khīṇāsavassa kālo
dassito. yathā hi dve nagarāni ekaṃ coranagaraṃ, ekaṃ khemanagaraṃ. Atha ekassa mahāyodhassa evaṃ bhaveyya — “yāvimaṃ coranagaraṃ tiṭṭhati, tāva khemanagaraṃ bhayato na muccati, coranagaraṃ anagaraṃ karissāmī”ti sannāhaṃ katvā khaggaṃ gahetvā coranagaraṃ upasaṅkamitvā nagaradvāre ussāpite esikatthambhe khaggena chinditvā sadvārabāhakaṃ kavāṭaṃ chinditvā palighaṃ ukkhipitvā pākāraṃ bhindanto parikkhaṃ saṃkiritvā nagarasobhanatthāya ussite dhaje pātetvā nagaraṃ agginā jhāpetvā khemanagaraṃ pavisitvā pāsādaṃ abhiruyha
ñātigaṇaparivuto surasabhojanaṃ bhuñjeyya, evaṃ coranagaraṃ viya sakkāyo, khemanagaraṃ viya nibbānaṃ, mahāyodho viya yogāvacaro. tassevaṃ hoti, “yāva sakkāyavaṭṭaṃ vattati, tāva dvattiṃsakammakāraṇāṭṭhanavutirogapañcavīsatimahābhayehi parimuccanaṃ natthī”ti. So mahāyodho viya sannāhaṃ sīlasannāhaṃ katvā, paññākhaggaṃ gahetvā khaggena esikatthambhe viya arahattamaggena taṇhesikaṃ luñcitvā, so yodho sadvārabāhakaṃ nagarakavāṭaṃ viya pañcorambhāgiyasaṃyojanaggaḷaṃ ugghāṭetvā, so yodho palighaṃ
viya, avijjāpalighaṃ ukkhipitvā, so yodho pākāraṃ bhindanto parikkhaṃ viya kammābhisaṅkhāraṃ bhindanto jātisaṃsāraparikkhaṃ saṃkiritvā, so yodho nagarasobhanatthāya ussāpite dhaje viya mānaddhaje pātetvā sakkāyanagaraṃ jhāpetvā, so yodho khemanagare upari pāsāde surasabhojanaṃ viya kilesanibbānaṃ nagaraṃ pavisitvā amatanirodhārammaṇaṃ phalasamāpattisukhaṃ anubhavamāno kālaṃ vītināmeti.
Trong chừng mực đó, Đức Thế Tôn đã trình bày khoảng thời gian bậc Lậu Tận đạt đến chỗ nghỉ ngơi tối thượng – tức sự Diệt – bằng cách triệt bỏ các phiền não thông qua Đạo; (bậc Lậu Tận) sống mà thể nhập Thiền Quả có đối tượng là Niết Bàn. Quả thật, giống như 2 thành luỹ – một thành luỹ của bọn cướp, một thành luỹ an ổn. Thế rồi, một tinh binh(i) có (ý nghĩ) rằng: ‘Chừng nào thành luỹ của bọn cướp này tồn tại; thì chừng đó, thành luỹ an ổn chưa thoát khỏi nỗi sợ hãi. Ta sẽ khiến cho thành luỹ của bọn cướp không còn là thành luỹ.’ (Người đó) mặc giáp; lấy kiếm; đi đến thành luỹ của bọn cướp; khi cổng thành được kéo lên, (người đó) chặt các cột trụ bằng cây kiếm; chặt cửa cùng với trụ cửa; bứng thanh sắt lên; san lấp các con hào bằng cách phá vỡ tường thành(ii); kéo xuống các lá cờ được dựng lên nhằm mục đích tô điểm tòa thành; đốt toà thành đó bằng lửa; (người đó) đi vào thành luỹ an ổn; đi lên tòa lâu đài; rồi được tháp tùng bởi đám đông thân quyến, người đó có thể ăn vật thực có vị ngon lành. Cũng vậy, Thân Kiến thì giống như thành lũy của bọn cướp; Niết Bàn thì giống như thành lũy an ổn; hành giả thì giống như người tinh binh. Vị (hành giả) đó có (ý nghĩ) như vầy: ‘Khi nào vòng tròn Thân Kiến còn diễn tiến; thì khi đó, không có sự giải thoát khỏi 25 nỗi sợ hãi lớn lao, 98 căn bệnh và 32 hình phạt. (Vị hành giả) mặc giáp là Giới giống như tinh binh ấy mặc giáp; lấy thanh kiếm Trí Tuệ; bứng cây trụ Tham Ái lên bằng A La Hán Đạo giống như (tinh binh) bứng các cột trụ lên bằng thanh kiếm; rút thanh chắn là 5 Sự Trói Buộc Hạ Phần giống như người lính ấy phá huỷ cửa thành luỹ cùng với trụ cửa; bứng thanh sắt Vô Minh lên giống như người lính ấy bứng thanh sắt lên; san lấp các con hào là Luân Hồi Tái Sinh bằng cách phá vỡ sự tích luỹ Nghiệp giống như người lính ấy san lấp các con hào bằng cách phá vỡ tường thành; kéo xuống các lá cờ Ngã Mạn giống như người lính ấy kéo xuống các lá cờ được dựng lên nhằm mục đích tô điểm toà thành; đốt cháy thành luỹ Thân Kiến; đi vào thành luỹ là Niết Bàn (thoát khỏi) các phiền não rồi trải qua thời gian thụ hưởng lạc từ Thiền Quả có đối tượng là Sự Diệt – tức Sự Bất Tử – giống như người lính ấy đi vào thành luỹ an ổn, đi lên toà lâu đài rồi ăn vật thực có vị ngon lành.
—–
(i) Tức người lính giỏi, người lính tinh nhuệ [mahāyodha].
(ii) Thời xưa, xây thành chống giặc, người ta đào các con hào xung quanh chân thành để ngăn giặc tiếp cận tường thành. Khi đập vỡ tường thành, thì gạch đá sẽ đổ xuống chính các con hào đó và san lấp chúng.
38
♦ 246. idāni evaṃ vimuttacittassa khīṇāsavassa parehi anadhigamanīyaviññāṇataṃ dassento evaṃ vimuttacittaṃ khotiādimāha. tattha anvesanti
anvesantā gavesantā. idaṃ nissitanti idaṃ nāma
nissitaṃ. tathāgatassāti ettha
sattopi tathāgatoti adhippeto,
uttamapuggalo khīṇāsavopi. ananuvijjoti asaṃvijjamāno vā avindeyyo vā. tathāgatoti hi satte
gahite asaṃvijjamānoti attho
vaṭṭati, khīṇāsave gahite
avindeyyoti attho vaṭṭati.
Giờ đây, Đức Phật đã nói ‘Quả thật, (vị Tỳ Kheo) có tâm giải thoát như vậy’ vân vân nhằm trình bày trạng thái của Thức không thể được đạt đến(i) bởi những chúng sinh khác, (trạng thái của Thức đó) thuộc về bậc Lậu Tận có tâm giải thoát như vậy. Ở đoạn kinh đó, [trong khi truy tìm – anvesaṃ], tức: [trong khi truy tìm – anvesantā], [trong khi tìm kiếm – gavesantā]. [Dựa vào điều này – idaṃ nissitaṃ], tức: dựa vào chính điều này. [(Thức) của như lai – tathāgatassa], ở đoạn kinh đó, [như lai – tathāgata] được hàm ý là chúng sinh hoặc bậc Lậu Tận – tức tối thượng nhân. [Không được biết đến – ananuvijja], tức: [không tồn tại – asaṃvijjamāna] hoặc [không thể được tìm thấy – avindeyya]. Quả thật, khi bàn về chúng sinh, thì ‘Như Lai’ có ý nghĩa phù hợp là ‘không tồn tại’; khi bàn về bậc Lậu Tận, thì ‘Như Lai’ có ý nghĩa phù hợp là ‘(người) không thể được tìm thấy.’
—–
(i) [Không thể được đạt đến – anadhigamanīya], tức: các chúng sinh khác không hiểu được, không truy dấu vết được.
39
♦ tattha purimanaye
ayamadhippāyo — bhikkhave,
ahaṃ diṭṭhevadhamme dharamānakaṃ yeva khīṇāsavaṃ
tathāgato satto puggaloti na paññapemi. appaṭisandhikaṃ pana parinibbutaṃ khīṇāsavaṃ sattoti
vā puggaloti vā kiṃ
paññapessāmi? ananuvijjo
tathāgato. na hi paramatthato satto nāma koci
atthi, tassa avijjamānassa idaṃ
nissitaṃ viññāṇanti anvesantāpi
kiṃ adhigacchissanti? kathaṃ paṭilabhissantīti attho. dutiyanaye ayamadhippāyo —
bhikkhave, ahaṃ diṭṭhevadhamme dharamānakaṃyeva khīṇāsavaṃ viññāṇavasena indādīhi avindiyaṃ vadāmi. na hi saindā
devā sabrahmakā sapajāpatikā anvesantāpi khīṇāsavassa
vipassanācittaṃ vā maggacittaṃ
vā phalacittaṃ vā, idaṃ nāma
ārammaṇaṃ nissāya vattatīti jānituṃ sakkonti. te
appaṭisandhikassa
parinibbutassa kiṃ jānissantīti?
Trong chủ đề này, ở thể thức đầu, điều này là hàm ý: ‘Này các Tỳ Kheo! Ta không tuyên bố bậc Lậu Tận vẫn còn đang sống ngay trong hiện tại là ‘Như Lai’, ‘chúng sinh’, ‘người’; nhưng ta sẽ tuyên bố bậc Lậu Tận đã viên tịch, vô sinh là ‘chúng sinh’ hay ‘người’ chăng? Như Lai thì [không được biết đến – ananuvijja]. Quả thật, theo ý nghĩa tối thượng thì chẳng tồn tại bất kỳ chúng sinh nào. Khi (chúng sinh) ấy chẳng tồn tại; thì dẫu truy tìm, làm sao họ (các vị trời) có thể đạt được (kết luận) rằng: ‘Thức (của chúng sinh ấy) thì dựa vào cái đó’? Làm sao họ (các vị trời) có thể có được (kết luận đó)?’ Ý nghĩa là như vậy. Ở thể thức thứ 2, điều này là hàm ý: ‘Này các Tỳ Kheo! Ta nói bậc Lậu Tận vẫn còn đang sống ngay trong hiện tại là ‘không thể được tìm thấy’ về phương diện Thức(i) bởi Inda vân vân. Bởi vì các vị trời cùng với Inda, Phạm Thiên, Pajāpati dẫu truy tìm cũng không thể biết được: ‘Tâm Vipassanā hay Tâm Đạo hay Tâm Quả của bậc Lậu Tận diễn tiến dựa vào đối tượng đó’. Họ có thể biết được điều gì về bậc Lậu Tận đã viên tịch, vô sinh?’(ii)
—–
(i) Tức cái cụ thể không thể được tìm thấy ở đây là Thức.
(ii) Tức lúc bậc Lậu Tận còn sống, các vị trời đã không biết được về Thức của ngài, thì khi ngài viên tịch rồi, họ lại càng không thể biết gì về ngài.
40
♦ asatāti asantena. tucchāti
tucchakena. musāti musāvādena. abhūtenāti yaṃ natthi, tena. abbhācikkhantīti abhiācikkhanti,abhibhavitvā vadanti. venayikoti vinayati vināsetīti vinayo, so eva venayiko, sattavināsakoti
adhippāyo. yathā cāhaṃ na,
bhikkhaveti, bhikkhave, yena vā kārena ahaṃ na sattavināsako. yathā cāhaṃ na vadāmīti yena vā kāraṇena ahaṃ sattavināsaṃ na
paññapemi. idaṃ vuttaṃ hoti — yathāhaṃ na
sattavināsako, yathā ca na
sattavināsaṃ paññapemi, tathā
maṃ te bhonto samaṇabrāhmaṇā “venayiko samaṇo gotamo”ti vadantā sattavināsako
samaṇo gotamoti ca, “sato sattassa ucchedaṃ vināsaṃ
vibhavaṃ
paññapetī”ti vadantā sattavināsaṃ paññapetīti ca asatā tucchā
musā abhūtena abbhācikkhantīti.
[(Một cách) không đúng thực – asatā], tức: [(một cách) không có thực – asantena]. [Một cách sai dối – musā], tức: bằng lời nói dối. [Bằng điều không thực – abhūtena], tức: bằng điều không tồn tại. [(Họ) xuyên tạc – abbhācikkhanti], tức: [(họ) xuyên tạc – abhiācikkhanti], [(họ) nói theo lối lấn lướt – abhibhavitvā vadanti]. [(Người) đoạn diệt – venayika]; [(người) phá huỷ – vinaya], tức: (người ấy) phá huỷ, huỷ diệt. Chính người ấy là [(người) đoạn diệt – venayika]; hàm ý là ‘người (có chủ trương) huỷ diệt chúng sinh.’ [Này các Tỳ Kheo! Dựa theo (những gì) ta không (nói)], tức: này các Tỳ Kheo! Dựa theo cơ sở nào ta không phải là người (có chủ trương) huỷ diệt chúng sinh. [Dựa theo (những gì) ta không nói], tức: dựa theo cơ sở nào ta không tuyên bố sự huỷ diệt chúng sinh. Điều này đã được nói (bởi Đức Phật): ‘Theo như việc: ta không phải là người huỷ diệt chúng sinh, theo như việc: ta không tuyên bố sự huỷ diệt chúng sinh; thì các tôn giả Sa Môn, Bà La Môn ấy xuyên tạc ta về việc ấy một cách không đúng thực, một cách rỗng tuếch, một cách sai dối, bằng điều không thực khi nói rằng: ‘Sa Môn Gotama là người đoạn diệt’, ‘Sa Môn Gotama là người (có chủ trương) huỷ diệt chúng sinh’ và nói rằng: ‘Sa Môn Gotama tuyên bố sự phá huỷ, sự huỷ diệt, sự mất đi của chúng sinh đang tồn tại’, ‘Sa Môn Gotama tuyên bố sự huỷ diệt chúng sinh’.’
41
♦ pubbe cāti pubbe
mahābodhimaṇḍamhiyeva ca. etarahi cāti etarahi dhammadesanāyañca. dukkhañceva paññapemi,
dukkhassa ca nirodhanti
dhammacakkaṃ appavattetvā bodhimaṇḍe viharantopi dhammacakkappavattanato
paṭṭhāya dhammaṃ desentopi catusaccameva paññapemīti attho. ettha hi dukkhaggahaṇena tassa mūlabhūto samudayo,
nirodhaggahaṇena taṃsampāpako maggo gahitova hotīti veditabbo. tatra ceti tasmiṃ
catusaccappakāsane. pareti saccāni ājānituṃ
paṭivijjhituṃ asamatthapuggalā. Akkosantīti dasahi akkosavatthūhi akkosanti. paribhāsantīti vācāya
paribhāsanti. rosenti vihesentīti rosessāma
vihesessāmāti adhippāyena
ghaṭṭenti dukkhāpenti. tatrāti tesu
akkosādīsu, tesu vā
parapuggalesu. Āghātoti kopo. appaccayoti
domanassaṃ. anabhiraddhīti
atuṭṭhi.
[Trước đây – pubbe ca], tức: trước đây, ở ngay cội Đại Bồ Đề. [Hiện nay – etarahi ca], tức: hiện nay, trong việc thuyết Pháp. [Ta tuyên bố chính sự khổ và sự diệt khổ], tức: khi ta đang ở tại cội Bồ Đề, chưa chuyển Pháp Luân lẫn khi ta thuyết Pháp bắt đầu từ lúc chuyển Pháp Luân; ta tuyên bố mỗi Tứ Đế. Ý nghĩa là như vậy. Trong chủ đề này, quả thật, thông qua việc nắm bắt Khổ, Nguồn Gốc – tức cội rễ – của nó (của Khổ) cũng được nắm bắt; thông qua việc nắm bắt sự Diệt, Đạo – tức cái dẫn đến nó (sự Diệt) cũng được nắm bắt. (Điều đó) nên được hiểu như vậy. [Nếu trong sự việc này – tatra ce], tức: (nếu) trong việc giảng giải Tứ Đế. [Những người khác – pare], tức: những người không thể biết rõ, không thể thể nhập các Đế. [(Họ) chỉ trích – akkosanti], tức: họ chỉ trích dựa vào 10 chủ đề chỉ trích. [(Họ) chê trách – paribhāsanti], tức: họ chê trách bằng lời. [(Họ) kích động, (họ) quấy nhiễu – rosenti vihesenti], tức: họ gây khổ sở, họ công kích với ý định rằng ‘Chúng ta sẽ kích động, chúng ta sẽ quấy nhiễu.’ [Trong sự việc này – tatra], tức: đối với các việc chỉ trích đó vân vân; hoặc đối với những người đó vân vân. [Tức giận – āghāta], tức: [giận dữ – kopa]. [Bất mãn – appaccaya], tức: [ưu – domanassa]. [Không hài lòng – anabhiraddhi], tức: [không thoả lòng – atuṭṭhi].
42
♦ tatra ceti catusaccappakāsaneyeva. pareti catusaccappakāsanaṃ ājānituṃ paṭivijjhituṃ
samatthapuggalā. ānandoti
ānandapīti. uppilāvitattanti uppilāpanapīti. tatra ceti catusaccappakāsanamhiyeva. tatrāti sakkārādīsu. yaṃ kho
idaṃ pubbe pariññātanti idaṃ khandhapañcakaṃ pubbe
bodhimaṇḍe tīhi pariññāhi
pariññātaṃ. Tatthameti tasmiṃ
khandhapañcake ime. kiṃ vuttaṃ hoti? tatrāpi tathāgatassa ime
sakkārā mayi karīyantīti vā ahaṃ ete anubhavāmīti vā na hoti. pubbe pariññātakkhandhapañcakaṃyeva ete sakkāre anubhotīti ettakameva hotīti. tasmāti yasmā saccāni
paṭivijjhituṃ asamatthā tathāgatampi akkosanti, tasmā.
sesaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ.
[Nếu trong sự việc này – tatra ce], tức: (nếu) trong chính sự giảng giải Tứ Đế. [Những người khác – pare], tức: những người có thể biết rõ, có thể thể nhập lời giảng giải Tứ Đế. [sự vui thích – ānanda], tức: [sự vui thích, tức hỷ – ānandapīti]. [Sự hào hứng – uppilāvitatta], tức: [sự hào hứng, tức hỷ – uppilāpanapīti]. [Nếu trong sự việc này – tatra ce], tức: (nếu) trong chính sự giảng giải Tứ Đế. [Trong sự việc này – tatra], tức: đối với sự tôn kính vân vân. [Quả thật, cái nào được thấu triệt trước đây], tức: Ngũ Uẩn đó là cái đã được thấu triệt trước đây ở cội Bồ Đề thông qua 3 sự thấu triệt. [Đối với cái đó, (những sự tôn kính) đó (được làm) – tatthame], tức: đối với Ngũ Uẩn đó, (những sự tôn kính) đó (được làm). Điều đã được nói là gì? Dẫu trong hoàn cảnh đó, Đức Như Lai không có (ý nghĩ) rằng: ‘Những sự tôn kính đó được làm đối với ta’ hay ‘Ta đang kinh qua (những sự tôn kính) đó.’ ‘Chính Ngũ Uẩn được thấu triệt trước đây đang kinh qua những sự tôn kính đó’; (Đức Như Lai) chỉ có (suy nghĩ) như thế ấy. [Do đó… – tasmā], tức: bởi vì những người không thể thể nhập các Đế chỉ trích cả Đức Như Lai; cho nên… Phần (nội dung) còn lại nên được hiểu theo chính phương thức đã được nói.
43
♦ 247. tasmā tiha, bhikkhave,
yaṃ na tumhākanti yasmā attaniyepi chandarāgappahānaṃ
dīgharattaṃ hitāya sukhāya
saṃvattati, tasmā yaṃ na tumhākaṃ, taṃ pajahathāti attho. Yathā paccayaṃ vā kareyyāti
yathā yathā iccheyya tathā tathā
kareyya. na hi no etaṃ, bhante,
attā vāti, bhante, etaṃ tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ
amhākaṃ neva attā na amhākaṃ
rūpaṃ na viññāṇanti vadanti. attaniyaṃ vāti
amhākaṃ cīvarādiparikkhāropi na hotīti attho. Evameva kho,
bhikkhave, yaṃ na tumhākaṃ
taṃ pajahathāti bhagavā, khandhapañcakaṃyeva na
tumhākanti dassetvā pajahāpeti, tañca kho na uppāṭetvā, luñcitvā vā.
chandarāgavinayena panetaṃ
pajahāpeti.
[Này các Tỳ Kheo! Do đó, ở đây, cái nào không thuộc về các ông – tasmā tiha, bhikkhave,
yaṃ na tumhākaṃ], tức: ‘Bởi vì sự từ bỏ dục tham đối với cả trạng thái cá nhân của chính mình thì dẫn tới lợi lạc, an lạc suốt thời gian dài; cho nên cái nào không thuộc về các ông, thì (các ông) hãy từ bỏ cái đó.’ Ý nghĩa là như vậy. [(Người ấy) có thể làm theo ý thích – yathā paccayaṃ vā kareyya], tức: người ấy muốn thế nào; thì người ấy làm như thế ấy. [Thưa Ngài! Quả thật, cái đó không phải Bản Ngã của chúng con – na hi no etaṃ, bhante,
attā vā], tức: (các vị Tỳ Kheo ấy) nói rằng: ‘Thưa Ngài! Cỏ, gỗ, cành, lá đó không phải là chính bản ngã của chúng ta, không phải là sắc của chúng ta, không phải là thức của chúng ta.’ [Hoặc cái thuộc về bản ngã – attaniyaṃ vā], tức: ‘các vật dụng như y vân vân cũng không thuộc về chúng ta’. Ý nghĩa là như vậy. [Quả thật cũng như vậy, này các Tỳ Kheo! Cái nào không thuộc về các ông; các ông hãy từ bỏ cái đó – evameva kho,
bhikkhave, yaṃ na tumhākaṃ
taṃ pajahatha], tức: Đức Thế Tôn trình bày rằng: ‘Chính Ngũ Uẩn không thuộc về các ông’ rồi khiến (các Tỳ Kheo) từ bỏ (chúng); hoặc quả thật, nếu họ (các Tỳ Kheo) chưa bứng nó lên, rút nó lên, thì Ngài khiến họ từ bỏ nó bằng cách loại trừ dục tham.
44
♦ 248. evaṃ svākkhātoti ettha
tiparivaṭṭato paṭṭhāya yāva imaṃ
ṭhānaṃ āharitumpi vaṭṭati, paṭilomena pemamattakena
saggaparāyaṇato paṭṭhāya yāva imaṃ ṭhānaṃ āharitumpi vaṭṭati. svākkhātoti sukathito.
sukathitattā eva uttāno vivaṭo
pakāsito. chinnapilotikoti
pilotikā vuccati chinnaṃ bhinnaṃ tattha tattha sibbitaṃ gaṇṭhikataṃ
jiṇṇaṃ vatthaṃ, taṃ yassa natthi, aṭṭhahatthaṃ vā navahatthaṃ vā
ahatasāṭakaṃ nivattho, so
chinnapilotiko nāma. ayampi dhammo tādiso, na hettha
kohaññādivasena chinnabhinnasibbitagaṇṭhikatabhāvo atthi. apica
kacavaro pilotikoti vuccati. imasmiñca sāsane
samaṇakacavaraṃ nāma
patiṭṭhātuṃ na labhati. tenevāha —
[Được khéo thuyết như vậy – evaṃ svākkhāto], tức: trong chủ đề này, điều phù hợp là tụng đọc bắt đầu từ Tam Luân cho tới chỗ này. Và điều phù hợp là tụng đọc nghịch chiều trong phạm vi (chủ đề) kính yêu bắt đầu từ đích đến cõi trời cho tới chỗ này. [Được khéo thuyết – svākkhāto], tức: được khéo nói. (Giáo Pháp) được tuyên thuyết, được khai mở, được trình bày theo lối hoàn toàn khéo nói. [Không có miếng vá – chinnapilotika], tức: miếng vải cũ, trở thành một nùi, được khâu vào chỗ này chỗ kia – tức chỗ rách, chỗ bị đứt – được gọi là [miếng vá – pilotikā]. (Miếng vải/tấm áo) nào không có (miếng vá) đó thì cái đó được gọi là (miếng vải/tấm áo) không có miếng vá – chẳng hạn: người mặc tấm áo choàng mới có kích thước 8 hattha hay 9 hattha. Pháp này cũng như thế; bởi ở đây (ở trong Pháp) không có trạng thái rách, bị đứt, được khâu, trở thành một nùi hiểu theo nghĩa là sự lừa dối vân vân. Ngoài ra, quần áo cũ được gọi là miếng vá. Và trong Giáo Lý này, các sa môn nào giống như quần áo cũ không thể trụ vững. Chính do đó, (Đức Phật) đã nói:
45
“kāraṇḍavaṃ niddhamatha,
kasambuñcāpakassatha. tato palāpe vāhetha, assamaṇe
samaṇamānine. niddhamitvāna pāpicche, pāpā acāragocare. suddhā suddhehi saṃvāsaṃ,
kappayavho patissatā. tato samaggā nipakā,
dukkhassantaṃ karissathā”ti. (su. ni. 283-285).
Các ông hãy thổi bay trấu; và hãy ném bỏ rác rưởi. Kế đó, các ông hãy mang trấu đi – tức (mang đi) những kẻ không phải sa môn mà tự hào (mình) là sa môn. Sau khi thổi bay các kẻ có ác ý, có phạm vi (hoạt động) ác; các ông – những người trong sạch, có niệm – hãy sắp xếp chỗ cộng trú với những người trong sạch. Từ đó, các ông – trong trạng thái hoà hợp, có trí – có thể làm chấm dứt Khổ. (su. ni. 283-285)
46
♦ iti samaṇakacavarassa chinnattāpi ayaṃ dhammo chinnapilotiko nāma hoti. vaṭṭaṃ tesaṃ natthi
paññāpanāyāti tesaṃ vaṭṭaṃ
apaññattibhāvaṃ gataṃ nippaññattikaṃ jātaṃ. evarūpo
mahākhīṇāsavo evaṃ svākkhāte
sāsaneyeva uppajjati. yathā ca
khīṇāsavo, evaṃ anāgāmiādayopi.
Như vậy, Pháp này cũng [được gọi là không có miếng vá – chinnapilotiko nāma] do trạng thái tuyệt đứt hạng sa môn giống như quần áo cũ. [Đối với các vị đó, không có vòng luân hồi để tuyên bố – vaṭṭaṃ tesaṃ natthi
paññāpanāya], tức: đối với các vị đó, vòng luân hồi đã đi đến trạng thái không hiển hiện; trở nên không hiển hiện. Bậc Đại Lậu Tận như thế sinh lên trong chính Giáo Lý được khéo thuyết như vậy. Và giống như bậc Lậu Tận, bậc Bất Lai vân vân cũng như vậy.
47
♦ tattha dhammānusārino
saddhānusārinoti ime dve
sotāpattimaggaṭṭhā honti. yathāha — “katamo ca
puggalo dhammānusārī? yassa
puggalassa sotāpattiphalasacchikiriyāya
paṭipannassa paññindriyaṃ
adhimattaṃ hoti, paññāvāhiṃ paññāpubbaṅgamaṃ ariyamaggaṃ
bhāveti. ayaṃ vuccati
puggalo dhammānusārī.
sotāpattiphalasacchikiriyāya
paṭipanno puggalo dhammānusārī,phale ṭhito diṭṭhippatto. katamo ca puggalo saddhānusārī? yassa
puggalassa sotāpattiphalasacchikiriyāya
paṭipannassa saddhindriyaṃ
adhimattaṃ hoti, saddhāvāhiṃ
saddhāpubbaṅgamaṃ
ariyamaggaṃ bhāveti. ayaṃ vuccati puggalo saddhānusārī. sotāpattiphalasacchikiriyāya
paṭipanno puggalo saddhānusārī, phale ṭhito
saddhāvimutto”ti (pu. pa. 30). yesaṃ mayi saddhāmattaṃ pemamattanti iminā yesaṃ añño ariyadhammo
natthi, tathāgate pana saddhāmattaṃ
pemamattameva hoti. te
vipassakapuggalā adhippetā. vipassakabhikkhūnañhi evaṃ vipassanaṃ paṭṭhapetvā
nisinnānaṃ dasabale ekā saddhā ekaṃ pemaṃ uppajjati. tāya saddhāya tena
pemena hatthe gahetvā sagge ṭhapitā viya honti,
niyatagatikā kira ete. porāṇakattherā pana evarūpaṃ bhikkhuṃ
cūḷasotāpannoti vadanti. sesaṃ
sabbattha uttānatthamevāti.
papañcasūdaniyā
majjhimanikāyaṭṭhakathāya
alagaddūpamasuttavaṇṇanā
niṭṭhitā.
Ở đoạn kinh đó, [Pháp Thuận Hành, Tín Thuận Hành – dhammānusārino
saddhānusārino], tức: 2 hạng người này là những hạng người đứng ở Nhập Lưu Đạo. Giống như (Đức Phật) đã nói: ‘Pháp Thuận Hành Nhân là ai? Người nào thực hành để thực chứng Nhập Lưu Quả mà có Tuệ Căn vượt trội, (vị ấy) phát triển Thánh Đạo có Tuệ là yếu tố đi đầu, có Tuệ là yếu tố nền tảng; thì người đó được gọi là Pháp Thuận Hành Nhân. Pháp Thuận Hành Nhân thực hành để thực chứng Nhập Lưu Quả, vững chắc trong Quả, đạt đến (Chánh) Kiến. Tín Thuận Hành Nhân là ai? Người nào thực hành để thực chứng Nhập Lưu Quả mà có Tín Căn vượt trội, (vị ấy) phát triển Thánh Đạo có Tín là yếu tố đi đầu, có Tín là yếu tố nền tảng; thì người đó được gọi là Tín Thuận Hành Nhân. Tín Thuận Hành Nhân thực hành để thực chứng Nhập Lưu Quả, vững chắc trong Quả, có Tín giải thoát’ (pu. pa. 30). [Những vị nào có thuần đức tin, có thuần sự kính yêu nơi ta – yesaṃ mayi saddhāmattaṃ pemamattaṃ], tức: thông qua cụm từ đó, (ý nghĩa là) những vị nào không có pháp cao thượng khác, mà chỉ có thuần đức tin, thuần sự kính yêu nơi Đức Như Lai. Những vị đó được hàm ý là những người có Tuệ Vipassanā. Bởi vì khi những vị Tỳ Kheo có Tuệ Vipassanā ngồi xuống củng cố Tuệ Vipassanā như vậy, thì chỉ mỗi đức tin và chỉ mỗi sự kính yêu nơi Đấng Thập Lực sinh lên. Nhờ đức tin đó, nhờ sự kính yêu đó; (những vị ấy) giống như được đặt lên cõi trời bằng cách nắm bàn tay lại. Quả thật, họ có sinh xứ xác định. Nhưng các vị trưởng lão thời xưa nói rằng: vị Tỳ Kheo như thế ấy là vị [Tiểu Nhập Lưu – cūḷasotāpanna]. Phần nội dung còn lại có ý nghĩa hoàn toàn rõ ràng về mọi phương diện.
Sự giải thích bài kinh Alagaddūpamasutta thuộc bộ Chú Giải Trung Bộ – Papañcasūdanī được hoàn thành.
evaṃ me sutanti alagaddūpamasuttaṃ. tattha gaddhe bādhayiṃsūti gaddhabādhino, gaddhabādhino pubbapurisā assāti gaddhabādhipubbo, tassa gaddhabādhipubbassa, gijjhaghātakakulappasutassāti attho.
[234] Kinh Ví Dụ Con Rắn được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, người nào gây hại cho loài kền kền (do nhân đó) người ấy được gọi là người bức hại loài kền kền, Tỳ khưu Ariṭṭha là người trước đây làm nghề sát hại loài kền kền (do nhân đó) mới gọi là người trước đây làm nghề bức hại loài kền kền, có nghĩa là (vị ấy) con trai của gia tộc người đã từng giết hại loài kền kền gọi là người kế thừa của gia tộc sát hại loài kền kền.
saggamokkhānaṃ antarāyaṃ karontīti antarāyikā. te kamma-kilesa-vipāka upavādāaṇāvītikkamavasena pañcavidhā.
Gọi là sự hình thành chướng ngại pháp [antarāyikadhamma] bởi vì làm trở ngại đến (sự tái sanh) các cõi trời và (sự chứng ngộ) Niết-bàn. Có năm sự hình thành chướng ngại pháp là (1) kammantarāyika: sự hình thành chướng ngại do trọng ác nghiệp, (2) kilesantarāyika: sự hình thành chướng ngại do phiền não, (3) vipākantarāyika: sự hình thành chướng ngại do quả tái sanh, (4) Ariyupavādantarāyika: sự hình thành chướng ngại do chê trách bậc Thánh Nhân. (5) aṇāvitikkamantarāyika: sự hình thành chướng ngại do phạm giới.
tattha pañcānantariyadhammā kammantarāyikā nāma. tathā bhikkhunīdūsakakammaṃ, taṃ pana mokkhasseva antarāyaṃ karoti, na saggassa. niyatamicchādiṭṭhidhammā kilesantarāyikā nāma. paṇḍakatiracchānagataubhatobyañjanakānaṃ paṭisandhidhammā vipākantarāyikā nāma. ariyūpavādadhammā upavādantarāyikā nāma, te pana yāva ariye na khamāpenti, tāvadeva, na tato paraṃ. sañcicca vītikkantā satta āpattikkhandhā āṇāvītikkamantarāyikā nāma. tepi yāva bhikkhubhāvaṃ vā paṭijānāti, na vuṭṭhāti vā, na deseti vā, tāvadeva, na tato paraṃ.
Ở đó, năm sự hình thành chướng ngại pháp được gọi sự hình thành chướng ngại do trọng ác nghiệp, trong cách đó làm hoen ố danh tiếng Tỳ khưu ni cũng là sự hình thành chướng ngại pháp do trọng ác nghiệp, những việc làm hoen ố danh tiếng Tỳ khưu ni đó không những làm cản trở (sự chứng đạt) Niết-bàn, mà còn cản trở (sự đạt đến) các cõi trời. Pháp tà kiến cố định gọi là sự hình thành chướng ngại pháp do phiền não. pháp tục sanh của người dị tính, loài bàng sanh, và người lưỡng tính (tính nam và tính nữ) được gọi là sự hình thành chướng ngại do quả tái sanh. Pháp chê trách bậc Thánh Nhân gọi là sự hình thành chướng ngại do chê trách, nhưng sự chê trách bậc Thánh Nhân đó (sẽ) tạo ra mối nguy hại trong khoảng thời gian nếu không được các bậc Thánh xá tội, cho đến khi nào các bậc thánh xá tôi, cho đến khi ấy (sẽ) không còn nguy hại. Bảy nhóm tội mà vị Tỳ khưu đã (cố ý) vi phạm gọi là sự hình thành chướng ngại do phạm giới. Sự hình thành chướng ngại do phạm giới đó làm nguy hại trong khoảng thời gian cho vị Tỳ khưu phạm tội vẫn thừa nhận là Tỳ khưu, hoặc không chịu hình phạt biệt trú, hoặc không nói rõ tội, sau đó (khi đã thực hành giải tội theo sự việc) thì không còn chướ.
tatrāyaṃ bhikkhu bahussuto dhammakathiko sesantarāyike jānāti, vinaye pana akovidattā paṇṇattivītikkamantarāyike na jānāti, tasmā rahogato evaṃ cintesi — ime āgārikā pañca kāmaguṇe paribhuñjantā sotāpannāpi sakadāgāminopi anāgāminopi honti. bhikkhūpi manāpikāni cakkhuviññeyyāni rūpāni passanti … pe … kāyaviññeyye phoṭṭhabbe phusanti, mudukāni attharaṇapāvuraṇādīni paribhuñjanti, etaṃ sabbaṃ vaṭṭati. kasmā itthīnaṃyeva rūpasaddagandharasaphoṭṭhabbā na vaṭṭanti? etepi vaṭṭantīti. evaṃ rasena rasaṃ saṃsandetvā sacchandarāgaparibhogañca nicchandarāgaparibhogañca ekaṃ katvā thūlavākehi saddhiṃ atisukhumasuttaṃ upanento viya, sāsapena saddhiṃ sineruṃ upasaṃharanto viya, pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppādetvā, “kiṃ bhagavatā mahāsamuddaṃ bandhantena viya mahatā ussāhena paṭhamapārājikaṃ paññattaṃ, natthi ettha doso”ti sabbaññutaññāṇena saddhiṃ paṭivirujjhanto vesārajjañāṇaṃ paṭibāhanto ariyamagge khāṇukaṇṭakādīni pakkhipanto methunadhamme doso natthīti jinassa āṇācakke pahāraṃ adāsi. tenāha — “tathāhaṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmī”tiādi.
Trong sự hình thành chướng ngại pháp đó vị Tỳ khưu là bậc đa văn, là vị pháp sư biết được các sự hình thành chướng ngại pháp còn lại, nhưng là kẻ thiểu trí trong giới luật mới không biết trong sự hình thành chướng ngại pháp vi phạm chế định, do vậy Tỳ khưu Ariṭṭha ở nơi thanh vắng khởi lên suy nghĩ rằng – gia chủ này thọ dụng năm loại dục là vị Nhập Lưu, hay vị Nhất Lai, hay vị Bất Lai. Phía các Tỳ khưu quán xét thấy sắc khả ái đáng cho mắt nhận biết -nt- sự xúc chạm đối tượng xúc đáng cho thân nhận biết, (vị ấy) sử dụng (tấm vải) để trải giường hoặc mặc vào áo tấm áo choàng mềm mại, tất cả điều này phù hợp (cùng vị Tỳ khưu). Tại sao sắc, thanh, khí, vị, xúc của người nữa lại không thích hợp? Sắc v.v, này tất cả đều phù hợp. Tỳ khưu Ariṭṭha đã so sánh vị với vị như vậy, kết hợp hưởng thụ với mãnh lực có mong muốn và ái luyến, với việc hưởng thụ không có mong muốn và ái luyến, giống như một tấm vải vô cùng mịn so với tấm vải thô cứng, tương tự y như thể so sánh ngọn núi Sineru với hạt cải, đã khởi lên ác tà kiến, có sự mâu thuẫn với trí tuệ toàn giác, “tại sao Đức Thế Tôn lại chế định điều Pārājika thứ nhất với sự nỗ lực to lớn, như ngăn cả đại dương, lỗi lầm trong việc chế định đó không có.” Đối nghịch với bốn vô sở úy trí, chôn lấp gốc cây và gai góc v.v, xuống trong Thánh Đạo, phá hủy mệnh lệnh của bậc chiến thắng đó rằng: “lỗi lầm trong việc (thực hiện việc) đôi lứa không có.” Vì thế, Tỳ khưu Ariṭṭha đã nói: “Tôi hiểu biết Giáo Pháp mà đức Thế Tôn thuyết giảng.”
evaṃ byā khoti evaṃ viya kho. samanuyuñjantītiādīsu kiṃ laddhiko tvaṃ, laddhiṃ vadehīti pucchamānā samanuyuñjanti nāma. diṭṭhiṃ patiṭṭhāpentā samanuggāhanti nāma. kena kāraṇena evaṃ vadasīti kāraṇaṃ pucchantā samanubhāsanti nāma. aṭṭhikaṅkalūpamātiādīsu (ma. ni. 2.42-48) aṭṭhikaṅkalūpamā appassādaṭṭhena. maṃsapesūpamā bahusādhāraṇaṭṭhena. tiṇukkūpamā anudahanaṭṭhena. aṅgārakāsūpamā mahābhitāpanaṭṭhena. supinakūpamā ittarapaccupaṭṭhānaṭṭhena. yācitakūpamā tāvakālikaṭṭhena. rukkhaphalūpamā sabbaṅgapaccaṅgapalibhañjanaṭṭhena. asisūnūpamā adhikuṭṭanaṭṭhena. sattisūlūpamā vinivijjhanaṭṭhena. sappasirūpamā sāsaṅkasappaṭibhayaṭṭhena. thāmasāti diṭṭhithāmena. parāmāsāti diṭṭhiparāmāsena. abhinivissa voharatīti adhiṭṭhahitvā voharati dīpeti vā.
evaṃ byā kho đồng nghĩa evaṃ viya kho [sự thật là vậy]. Cật vấn v.v, các Tỳ khưu hỏi rằng Ngài có học thuyết gì hãy nói học thuyết ấy gọi là thẩm vấn, khi thẩm vấn gọi là hỏi về lý lẽ. Khi hỏi về lý do, vì sao mà Ngài nói như vậy gọi là đàm luận. (Các dục) được ví như đống xương v.v, (ma. ni. 2.42-48) nên biết như vầy (các dục) ví như đóng xương (không còn thịt) với ý nghĩa có chút ít sự thỏa thích, (các dục) ví như miếng thịt (bị diều hâu tha đi) với ý nghĩa với ý nghĩa vật chung của số đông, (các dục) ví như là cây đuốc cỏ với ý nghĩa thiêu đốt, (các dục) ví như hố than hừng với ý nghĩa làm cho nóng đốt, (các dục) ví như giấc mơ với ý nghĩa xuất hiện ngắn ngủi, (các dục) ví như vật vay mượn với ý nghĩa tạm thời, (các dục) ví như trái trên cây với ý nghĩa toàn bộ thân cây và cành cây bị gãy đổ, (các dục) ví như lò mổ với ý nghĩa chặt chém, (các dục) ví như mũi lao nhọn với ý nghĩa đâm thủng, (các dục) ví như đầu rắn độc với ý nghĩa đáng chán ghét và có sự sợ hãi. Thāmasā: với năng lực sức mạnh của tà kiến. Parāmāsā: với sự chấp thủ của tà kiến. abhinivissa voharati (chấp chặt): say mê nói hoặc giải thích rõ ràng.
yato kho te bhikkhūti yadā te bhikkhū. evaṃ byā kho ahaṃ, bhante, bhagavatāti idaṃ esa attano ajjhāsayena natthīti vattukāmopi bhagavato ānubhāvena sampaṭicchati, buddhānaṃ kira sammukhā dve kathā kathetuṃ samattho nāma natthi.
[235] yato kho te bhikkhū đồng nghĩa yadā te bhikkhū [khi nào vị Tỳ khưu đó]. Tỳ khưu Ariṭṭha mặc dù muốn nói rằng không có theo khuynh hướng của bản thân cũng chấp nhận lời này “Kính bạch đức Thế Tôn, tôi biết đến pháp…” bằng oai lực của đức Thế Tôn. Biết rằng gọi là người có thể nói 2 lời trước mặt của đức Thế Tôn không có.
kassa kho nāma tvaṃ moghapurisāti tvaṃ moghapurisa kassa khattiyassa vā brāhmaṇassa vā vessassa vā suddassa vā gahaṭṭhassa vā pabbajitassa vā devassa vā manussassa vā mayā evaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānāsi. atha kho bhagavā bhikkhū āmantesīti ayaṃ pāṭiyekko anusandhi. ariṭṭho kira cintesi — “bhagavā maṃ moghapurisoti vadati, na kho pana moghapurisāti vuttamattakena maggaphalānaṃ upanissayo na hoti. upasenampi hi vaṅgantaputtaṃ, ‘atilahuṃ kho tvaṃ, moghapurisa, bāhullāya āvatto’ti (mahāva. 75) bhagavā moghapurisavādena ovadi. thero aparabhāge ghaṭento vāyamanto cha abhiññā sacchākāsi. ahampi tathārūpaṃ vīriyaṃ paggaṇhitvā maggaphalāni nibbattessāmī”ti. athassa bhagavā bandhanā pavuttassa paṇḍupalāsassa viya aviruḷhibhāvaṃ dassento imaṃ desanaṃ ārabhi.
[236] Này kẻ ngu si ông biết Pháp mà Ta thuyết giảng như vậy cho ai? này kẻ ngu si ông hiểu Pháp mà Ta thuyết giảng cho ai? cho Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay thương gia, hay giai cấp nô lệ, hay người gia chủ, hay người xuất gia, hay chư Thiên, hay loài người. Khi ấy đức Thế Tôn cho gọi các Tỳ khưu đến: Đây là lời nói để liên kết phần tiếp theo. Tỳ khưu Ariṭṭha nghĩ rằng: “đức Thế Tôn gọi ta là kẻ ngu si, mà còn không có pháp làm y chỉ để chứng đắc Đạo và Quả, chỉ với lý do nói rằng kẻ ngu si, bởi vì đức Thế Tôn thuyết dạy Upasena con trai của Vaṅganta bằng lời nói rằng kẻ ngu si, này kẻ ngu si ngươi trở thành đa đoan quá nhanh chóng. (mahāva. 75). Về sau trưởng lão đã nỗ lực tinh tấn thực hành thấy rõ sáu thắng trí với suy nghĩ rằng ngay cả khi ta duy trì sự tinh tấn như vậy sẽ làm cho Đạo và Quả sanh khởi.” Tiếp sau đó, đức Thế Tôn trong khi thuyết giảng rằng Tỳ khưu Ariṭṭha là người không trưởng thành (trong Giáo Pháp) giống như chiếc lá vàng rơi ra khỏi cuốn lá, rồi mới bắt đầu sự thuyết giảng Giáo Pháp.
usmīkatopīti bhikkhave, tumhe kinti maññatha, ayaṃ ariṭṭho evaṃladdhiko sabbaññutaññāṇena paṭivirujjhitvā vesārajjañāṇaṃ paṭibāhitvā tathāgatassa āṇācakke pahāraṃ dadamāno api nu imasmiṃ dhammavinaye usmīkatopi? yathā nibbutepi mahante aggikkhandhe khajjupanakamattāpi aggipapaṭikā hotiyeva, yaṃ nissāya puna mahāaggikkhandho bhaveyya. kiṃ nu kho evaṃ imassa appamattikāpi ñāṇusmā atthi, yaṃ nissāya vāyamanto maggaphalāni nibbatteyyāti? no hetaṃ, bhanteti, bhante, evaṃladdhikassa kuto evarūpā ñāṇusmāti? maggaphalānaṃ paccayasamatthāya ñāṇusmāya usmīkatabhāvaṃ paṭikkhipantā vadanti. maṅkubhūtoti nittejabhūto. pattakkhandhoti patitakkhandho. appaṭibhānoti kiñci paṭibhānaṃ apassanto bhinnapaṭibhāno evarūpampi nāma niyyānikasāsanaṃ labhitvā aviruḷhidhammo kiramhi samugghātitapaccayo jātoti attano abhabbataṃ paccavekkhanto pādaṅguṭṭhakena bhūmiṃ khaṇamāno nisīdi.
Có thể khởi lên tia lửa sáng: này các Tỳ khưu, các ông nghĩ như thế nào? Tỳ khưu Ariṭṭha này có học thuyết như vậy mâu thuẫn với trí tuệ toàn giác, bác bỏ bốn vô sở úy trí, phá tan mệnh lệnh của Như Lai, vị ấy có thể khởi lên tia lửa sáng trong Pháp và Luật này chăng? là Tỳ khưu Ariṭṭha nương vào sức nóng của trí dù có chút ít, tinh tấn, sẽ làm Đạo và Quả sanh khởi được hay không? giống như một ngọn lửa nhỏ nhoi bằng (ánh sáng) con đom đóm trong một đống lửa lớn mặc dù nó đã bị dập tắt có thể đốt lên đống lớn tương tự thế. Sẽ không thể có được: chư Tỳ khưu đã phản đối lại Tỳ khưu Ariṭṭha không thể khởi lên tia lửa sáng bởi không có sức nóng của trí làm duyên khiến cho Đạo và Quả sanh khởi như sau: “Kính bạch đức Thế Tôn, Tỳ khưu Ariṭṭha, người có học thuyết như vậy, có sức nóng của trí tuệ bằng hình thức như thế ở đâu?”. Hổ thẹn: người mất uy quyền. Pattakkhandho đồng nghĩa patitakkhandho (cúi đầu). Lúng túng: không biết nói gì, nói không ra lời. Tỳ khưu Ariṭṭha thấy rằng bản thân là hạng người không có khả năng (giác ngộ) biết rằng ta đã có được lời dạy dẫn dắt thoát khỏi khổ đau bằng hình thức như vậy, không tăng trưởng (trong Giáo Pháp), ta có duyên (chứng đắc Đạo và Quả) đã bị nhổ bỏ, như vậy ngồi (im lặng) lấy đầu ngón tay cào vào mặt đất.
paññāyissasi khoti ayampi pāṭiyekko anusandhi. ariṭṭho kira cintesi — “bhagavā mayhaṃ maggaphalānaṃ upanissayo pacchinnoti vadati, na kho pana buddhā saupanissayānaṃyeva dhammaṃ desenti, anupanissayānampi desenti, ahaṃ satthu santikā sugatovādaṃ labhitvā attano sampattūpagaṃ kusalaṃ karissāmī”ti. athassa bhagavā ovādaṃ paṭipassambhento “paññāyissasī”tiādimāha. tassattho, tvaṃyeva, moghapurisa, iminā pāpakena diṭṭhigatena nirayādīsu paññāyissasi, mama santikā tuyhaṃ sugatovādo nāma natthi, na me tayā attho, idhāhaṃ bhikkhū paṭipucchissāmīti.
Vị ấy sẽ xuất hiện: đáy chỉ là lời nói để liên kết phần tiếp theo. Kể rằng Tỳ khưu Ariṭṭha nghĩ rằng đức Thế Tôn nói rằng ta là người đã bẻ gãy pháp làm chỗ ý cứ của Đạo và Quả, chư Phật không chỉ thuyết giảng Giáo Pháp cho người có căn tánh, mà còn thuyết Pháp cho người không có căn tánh, ta đã có được lời dạy của Thiện Thệ từ hội chúng của bậc Đạo Sư, (ta) sẽ hành thiện pháp để đạt đến sự thành tựu của chính mình.” Khi ấy đức Thế Tôn trong khi dừng lời giáo huấn mới thuyết rằng ‘ông sẽ xuất hiện’. Có nghĩa rằng này kẻ ngu si, ông sẽ xuất hiện trong địa ngục với tà kiến ác đó. Ông không có được lời dạy của Thiện Thệ từ Ta, ông không có lợi ích đối với Ta, Ta sẽ thẩm vấn chư Tỳ khưu ở đây.
atha kho bhagavāti ayampi pāṭiyekko anusandhi. imasmiñhi ṭhāne bhagavā parisaṃ sodheti, ariṭṭhaṃ gaṇato nissāreti. sace hi parisagatānaṃ kassaci evaṃ bhaveyya — “ayaṃ ariṭṭho bhagavatā akathitaṃ kathetuṃ kiṃ sakkhissati, kacci nu kho parisamajjhe bhagavatā kathāya samāraddhāya sahasā kathitan”ti. evaṃ kathitaṃ pana na ariṭṭhova suṇāti, aññenapi sutaṃ bhavissati. athāpissa siyā “yathā satthā ariṭṭhaṃ niggaṇhāti, mampi evaṃ niggaṇheyyāti sutvāpi tuṇhībhāvaṃ āpajjeyyā”ti. “taṃ sabbaṃ na karissantī”ti. mayāpi na kathitaṃ, aññena sutampi natthīti “tumhepime, bhikkhave”tiādinā parisāya laddhiṃ sodheti. parisāya pana laddhisodhaneneva ariṭṭho gaṇato nissārito nāma hoti.
[237] Khi ấy đức Thế Tôn: đây là lời nói để liên kết phần tiếp theo. Bởi vì ở đây đức Thế Tôn đang thanh lọc hội chúng (thay đổi cái nhìn cho đúng đắn) và trục xuất Tỳ khưu Ariṭṭha ra khỏi hội chúng. Bởi nếu một số vị Tỳ khưu ở trong hội chúng có thể nghĩ như vầy: “Khi đức Thế Tôn bắt đầu kệ ngôn, cũng vội vàng thuyết ở giữa hội chúng chăng? lời ấy thuyết như vậy, chỉ riêng Tỳ khưu Ariṭṭha không được nghe, những vị khác có thể nghe. Và như thế một số Tỳ khưu nghĩ rằng: “Bậc Đạo Sư trục xuất ta giống như trục xuất Tỳ khưu Ariṭṭha, thậm chí sau khi đã nghe (các vị ấy) cũng ngồi im lặng, không làm bất cứ điều gì, với suy nghĩ rằng ta không nói, người khác cũng không nghe, vì thế đức Thế Tôn làm cho tinh khiết Giáo lý trong hội chúng với Phật ngôn như vầy: “Này chư Tỳ khưu, dù các ông hiểu Pháp…” v.v, Tỳ khưu Ariṭṭha được gọi là bị đức Thế Tôn trục xuất khỏi hội chúng bằng việc làm cho tinh khiết Giáo lý trong hội chúng.
idāni ariṭṭhassa laddhiṃ pakāsento so vata, bhikkhavetiādimāha. tattha aññatreva kāmehītiādīsu yo so, bhikkhave, bhikkhu “te paṭisevato nālaṃ antarāyāyā”ti evaṃladdhiko, so vata kilesakāmehi ceva kilesakāmasampayuttehi saññāvitakkehi ca aññatra, ete dhamme pahāya, vinā etehi dhammehi, vatthukāme paṭisevissati, methunasamācāraṃ samācarissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. idaṃ kāraṇaṃ nāma natthi, aṭṭhānametaṃ anavakāsoti.
Bây giờ, đức Thế Tôn trong khi tuyên thuyết học thuyết của Tỳ khưu Ariṭṭha, Ngài đã nói rằng “chư Tỳ khưu, quả thật Tỳ khưu Ariṭṭhi thọ hưởng dục lạc v.v,” nên biết lý giải trong lời đó như sau: Ngoại trừ dục trong lời Pāḷi đó “này chư Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đó có học thuyết như vầy, các Pháp ấy không thể làm nguy hại đến người thọ hưởng (dục lạc), thì vị Tỳ khưu đó sẽ hưởng thụ tất cả các vật dục là sự thực hiện việc đôi lứa trừ phiền não dục và sưu tầm về tưởng gắn liền với phiền não dục, dứt trừ các Pháp đó (ngoài các Pháp đó). Sự kiện này không thể xảy ra: nguyên nhân này không có, điều đó không phải là lý do, không duyên cớ.
evaṃ bhagavā ayaṃ ariṭṭho yathā nāma rajako sugandhānipi duggandhānipi jiṇṇānipi navānipi suddhānipi asuddhānipi vatthāni ekato bhaṇḍikaṃ karoti, evameva bhikkhūnaṃ nicchandarāgapaṇītacīvarādiparibhogañca anibaddhasīlānaṃ gahaṭṭhānaṃ antarāyakaraṃ sacchandarāgaparibhogañca nibaddhasīlānaṃ bhikkhūnaṃ āvaraṇakaraṃ sacchandarāgaparibhogañca sabbaṃ ekasadisaṃ karotīti ariṭṭhassa laddhiṃ pakāsetvā idāni duggahitāya pariyattiyā dosaṃ dassento idha, bhikkhave, ekaccetiādimāha.
[238] Đức Thế Tôn tuyên thuyết học thuyết của Tỳ khưu Ariṭṭha rằng Tỳ khưu Ariṭṭhi giống như người thợ nhuộm lấy vải thơm, vải hôi, vải cũ, vải mới, vải sạch, vải dơ mạng lại cuộn thành một cuộn vải như thế nào thì vị ấy cũng làm tương tự y như thế ấy thực hiện sử dụng y phục thượng hạng v.v, không có mong muốn và ái luyến đối với vị Tỳ khưu, trở thành tương tự việc làm việc sử dụng có mong muốn và ái luyến tạo ra sự nguy hại đối với người tại gia không thường thọ trì giới; và thực hiện việc sử dụng có mong muốn và ái luyến có ranh giới ngăn chặn của vị Tỳ khưu thọ trì giới luật thường xuyên, toàn bộ hợp thành một, bây giờ khi thuyết giảng lỗi lầm của pháp học mà đã không khéo học tập, nên Ngài mới nói rằng: “Chư Tỳ khưu, các kẻ ngu si trong Pháp và Luật này v.v.”
tattha pariyāpuṇantīti uggaṇhanti. suttantiādīsu ubhatovibhaṅganiddesakhandhakaparivārā, suttanipāte maṅgalasutta ratanasutta nālakasuātuvaṭṭakasuttāni, aññampi ca suttanāmakaṃ tathāgatavacanaṃ suttanti veditabbaṃ. sabbampi sagāthakaṃ suttaṃ geyyanti veditabbaṃ, visesena saṃyuttake sakalopi sagāthāvaggo. sakalaṃ abhidhammapiṭakaṃ, niggāthakaṃ suttaṃ, yañca aññampi aṭṭhahi aṅgehi asaṅgahitaṃ buddhavacanaṃ, taṃ veyyākaraṇanti veditabbaṃ. dhammapadaṃ, theragāthā, therigāthā, suttanipāte nosuttanāmikā suddhikagāthā ca gāthāti veditabbā. somanassañāṇamayikagāthāpaṭisaṃyuttā dveasītisuttantā udānanti veditabbā. “vuttañhetaṃ bhagavatā”tiādinayappavattā (itivu. 1,2) dasuttarasatasuttantā itivuttakanti veditabbā. apaṇṇakajātakādīni paṇṇāsādhikāni pañcajātakasatāni jātakanti veditabbāni. “cattārome, bhikkhave, acchariyā abbhutā dhammā ānande”tiādinayappavattā (a. ni. 4.129) sabbepi acchariyābbhutadhammappaṭisaṃyuttā suttantā abbhutadhammanti veditabbā. Cūḷavedalla mahāvedalla sammādiṭṭhi sakkapañhā saṅkhāra-bhājaniya mahāpuṇṇamasuttādayo sabbepi vedañca tuṭṭhiñca laddhā laddhā pucchitasuttantā vedallanti veditabbā.
Ở đây, pariyāpuṇantī: đang học tập. Nên biết lý giải từ Suttaṃ như sau: Ubhatovibhaṅga, Niddesa, Khandhaka, Parivāra, các bài kinh Maṅgalasutta, Ratanasutta, Nalakasutta, Tuvaṭakasutta trong Suttanipāta (Kinh Tập), và các lời dạy của đấng Như Lai có tựa đề là Kinh (Sutta) thì được xếp vào thể Kinh (Sutta). Các bài kinh có xen các bài kệ vào được biết là thể Geyya; đặc biệt toàn bộ Thiên Có Kệ (Sagāthāvagga) trong Kinh Tương Ưng Bộ nên biết rằng là thể Geyya. Toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp, các bài kinh không có xen lẫn các bài kệ, và các lời dạy khác của đức Phật không thuộc tám loại trên nên được biết rằng là thể Veyyākaraṇa. Kinh Pháp Cú, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, các bài kệ có tên là không gọi là Kinh mà chỉ là kệ trong Kinh Tập (Suttanipāta) thì được xếp vào thể Gāthā. Tám mươi hai bài kinh liên quan đến các bài kệ thành tựu do tuệ giác hoan hỷ được xếp vào thể Udāna. Một trăm mười bài kinh được giới thiệu bằng: “vuttañhetaṃ bhagavatā (Đức Thế Tôn thuyết về điều ấy như vầy)” (itivu. 1,2) nên biết rằng là thể Itivuttaka. Năm trăm năm mươi bài kinh Bổn Sanh bắt đầu bằng Bổn Sanh Apaṇṇaka v.v, nên biết rằng là thể Jātaka. Tất cả các bài kinh liên quan đến pháp kỳ diệu phi thường và được giới thiệu như sau: “Này các Tỳ khưu, có bốn pháp kỳ diệu phi thường ở Ānanda,” (a. ni. 4.129) nên biết rằng là thể Abbhūtadhamma. Tất cả các bài kinh được hỏi và được liên tục ghi nhận trong sự hiểu biết và hoan hỷ như các bài kinh Cullavedalla, Mahāvedalla, Sammādiṭṭhi, Sakkapañhā, Saṅkhāra-bhājaniya, Mahāpuṇṇama, v.v… nên biết rằng là thể Vedalla.
atthaṃ na upaparikkhantīti atthatthaṃ kāraṇatthaṃ na passanti na pariggaṇhanti. anupaparikkhatanti anupaparikkhantānaṃ. na nijjhānaṃ khamantīti na upaṭṭhahanti na āpāthaṃ āgacchanti, imasmiṃ ṭhāne sīlaṃ samādhi vipassanā maggo phalaṃ vaṭṭaṃ vivaṭṭaṃ kathitanti evaṃ jānituṃ na sakkā hontīti attho. te upārambhānisaṃsā cevāti te paresaṃ vāde dosāropanānisaṃsā hutvā pariyāpuṇantīti attho. itivādappamokkhānisaṃsā cāti evaṃ vādapamokkhānisaṃsā, parehi sakavāde dose āropite taṃ dosaṃ evaṃ mocessāmāti imināva kāraṇena pariyāpuṇantīti attho. tañcassa atthaṃ nānubhontīti yassa ca maggassa vā phalassa vā atthāya kulaputtā dhammaṃ pariyāpuṇanti, tañcassa dhammassa atthaṃ ete duggahitaggāhino nānubhonti. apica parassa vāde upārambhaṃ āropetuṃ attano vādaṃ mocetuṃ asakkontāpi tañca atthaṃ nānubhontiyeva.
Không được suy xét đến ý nghĩa: không thấy, không xác định ý nghĩa bài Kinh, ý nghĩa của lý do. Không được suy xét: xác định không được. nên không trở thành rõ ràng: không hiện hữu, không đến hiện hữu. Tức là những ai không thể biết như vầy giới-định-tuệ Đạo và Quả, luân hồi và chấm dứt luân hồi đã nói ở đây. Để chỉ trích người khác: các thiện nam tử ấy học pháp nhằm mục đích chỉ trích. không tha thứ lỗi lầm trước những lời nói của người khác. Itivādappamokkhānisaṃsā ca đồng nghĩa evaṃ vādapamokkhānisaṃsā (nhằm mục đích thoát khỏi những lời chê bai của người khác), có nghĩa là (vị ấy) học tập với chính lý do này, khi người khác cáo buộc rằng làm điều sai trái trong Tôn giáo của họ, ta sẽ rũ bỏ lỗi lầm đó như vậy. Không đạt được lợi ích của Pháp đó: nhưng thiện nam tử học Pháp nhằm mục đích (chứng đạt) Đạo và Quả nào, học tập không tốt, thì không đạt được lợi ích đó của Pháp đó. Hơn nữa, khi không thể chỉ trích người khác và không thể thoát khỏi lời nói của chính mình thì cũng không nhận được lợi ích đó tượng tự.
alagaddatthikoti āsivisātthiko. gadoti hi visassa nāmaṃ, taṃ tassa alaṃ paripuṇṇaṃ atthīti alagaddo. bhogeti sarīre. idha pana, bhikkhave, ekacce kulaputtā dhammaṃ pariyāpuṇantīti nittharaṇapariyattivasena uggaṇhanti. tisso hi pariyattiyo alagaddapariyatti nittharaṇapariyatti bhaṇḍāgārikapariyattīti.
Alagaddatthiko đồng nghĩa āsivisātthiko (người muốn rắn độc). gadda là tên gọi của chất độc, chất độc của con rắn là đầy đủ, trọn vẹn. do đó con rắn được gọi là sở hữu đủ chất độc. Bhoge: trong thân. Này chư Tỳ khưu, một số thiện nam từ trong đời này học pháp v.v, với sức mạnh nittharaṇa-pariyatti (học để thoát khổ). Quả thật có 3 loại Pháp học là (1) Alagadda-pariyatti: Hạng người học Pháp học giống như người bắt rắn phần đuôi. (2) Nissaraṇa-pariyatti: Hạng người học Pháp học để thực hành giải thoát khổ sanh. (3) Bhaṇṇāgārika-pariyatti: Bậc Thánh A-ra-hán học Pháp học giống như người giữ kho tàng Pháp bảo.
tattha yo buddhavacanaṃ uggahetvā evaṃ cīvarādīni vā labhissāmi, catuparisamajjhe vā maṃ jānissantīti lābhasakkārahetu pariyāpuṇāti, tassa sā pariyatti alagaddapariyatti nāma. evaṃ pariyāpuṇato hi buddhavacanaṃ apariyāpuṇitvā niddokkamanaṃ varataraṃ.
Ở đó, vị Tỳ khưu nào học Phật ngôn để nhận được lợi đắc và sự cung kính “ta sẽ nhận được y phục v.v, nhiều người sẽ biết đến ta ở giữa bốn hội chúng bằng phương pháp này” pháp học của vị Tỳ khưu đó được gọi là alagadda-pariyatti. Bởi vậy, việc không học Phật ngôn mà đi vào ngủ còn tốt hơn học kiểu ấy.
yo pana buddhavacanaṃ uggaṇhitvā sīlassa āgataṭṭhāne sīlaṃ pūretvā samādhissa āgataṭṭhāne samādhigabbhaṃ gaṇhāpetvā vipassanāya āgataṭṭhāne vipassanaṃ paṭṭhapetvā maggaphalānaṃ āgataṭṭhāne maggaṃ bhāvessāmi phalaṃ sacchikarissāmīti uggaṇhāti, tassa sā pariyatti nittharaṇapariyatti nāma hoti.
Còn vị Tỳ khưu nào sau khi học Phật ngôn thực hành giới đến nơi của giới (theo lời dạy của Đức Phật), thực hành thiền định cho đến nơi của định (theo lời dạy của Đức Phật), bắt đầu thiết lập minh sát cho đến nơi có minh sát (theo lời dạy của Đức Phật) làm cho Đạo sanh khởi, tác chứng Quả cho đến nơi Đạo và Quả (theo lời dạy của Đức Phật), Pháp học của chư Tỳ khưu đó gọi là nittharaṇa-pariyatti.
khīṇāsavassa pana pariyatti bhaṇḍāgārikapariyatti nāma. tassa hi apariññātaṃ appahīnaṃ abhāvitaṃ asacchikataṃ vā natthi. so hi pariññātakkhandho pahīnakileso bhāvitamaggo sacchikataphalo, tasmā buddhavacanaṃ pariyāpuṇanto tantidhārako paveṇipālako vaṃsānurakkhakova hutvā uggaṇhāti. itissa sā pariyatti bhaṇḍāgārikapariyatti nāma hoti.
Pháp học của vị đã cạn kiệt các lậu hoặc gọi là bhaṇḍāgārika-pariyatti. Bởi vì biết toàn diện về Khổ Đế chưa được biết toàn diện, hoặc đoạn trừ Tập Đế chưa được đoạn trừ, hoặc tu tập Đạo Đế chưa được tu tập, hoặc chứng ngộ Diệt Đế chưa được chứng ngộ, (tất cả những điều này) không có nơi các vị đã cạn kiệt lậu hoặc. Vì các bậc lậu tận đã biết toàn diện các uẩn, đã dứt bỏ các phiền não, đã tu tập đạo, đã chứng ngộ quả. Vì thế Ngài học Phật ngôn để trở thành người khuôn mẫu, gìn giữ truyền thống, bảo vệ dòng tộc, Pháp học đó của Ngài gọi là bhaṇḍāgārika-pariyatti.
yo pana puthujjano chātabhayādīsu ganthadharesu ekasmiṃ ṭhāne vasituṃ asakkontesu sayaṃ bhikkhācārena akilamamāno atimadhuraṃ buddhavacanaṃ mā nassatu, tantiṃ dhāressāmi, vaṃsaṃ ṭhapessāmi, paveṇiṃ pālessāmīti pariyāpuṇāti, tassa pariyatti bhaṇḍāgārikapariyatti hoti, na hotīti? na hoti. kasmā? na attano ṭhāne ṭhatvā pariyāputattā. puthujjanassa hi pariyatti nāma alagaddā vā hoti nittharaṇā vā, sattannaṃ sekkhānaṃ nittharaṇāva, khīṇāsavassa bhaṇḍāgārikapariyattiyeva. imasmiṃ pana ṭhāne nittharaṇapariyatti adhippetā.
Khi người học Pháp không thể cư ngụ ở một nơi đói khát khó khăn về vật thực v.v, vị Tỳ khưu phàm nhân nào bản thân không gặp khó khăn trong việc đi khất thực, học Pháp học với suy nghĩ rằng “lời dạy của đức Phật rất du dương, nguyện cầu (những lời dạy ấy) không bị mai một, tôi sẽ gìn giữ theo khuôn mẫu, tôi sẽ gìn giữ truyền thống.” Pháp học của vị phàm nhân đó là bhaṇḍāgārika-pariyatti được hay không? Không được. Tại sao? bởi vì tính chất mà bản thân không được thiết lập ở vị trí học tập trọn vẹn, thật vậy gọi là Pháp học của vị phàm nhân là alagaddā hoặc nittharaṇā, Pháp học của bảy bậc Thánh hữu học chỉ là nittharaṇā mà thôi. Chỉ riêng pháp học của vị đã cạn kiệt các lậu hoặc là bhaṇḍāgārika-pariyatti. Nhưng trong trương hợp này Ngài có ý muốn nói đến nittharaṇa-pariyatti.
nijjhānaṃ khamantīti sīlādīnaṃ āgataṭṭhānesu idha sīlaṃ kathitaṃ, idha samādhi, idha vipassanā, idha maggo, idha phalaṃ, idha vaṭṭaṃ, idha vivaṭṭanti āpāthaṃ āgacchanti. tañcassa atthaṃ anubhontīti yesaṃ maggaphalānaṃ atthāya pariyāpuṇanti. suggahitapariyattiṃ nissāya maggaṃ bhāvetvā phalaṃ sacchikarontā tañcassa dhammassa atthaṃ anubhavanti. paravāde upārambhaṃ āropetuṃ sakkontāpi sakavāde āropitaṃ dosaṃ icchiticchitaṭṭhānaṃ gahetvā mocetuṃ sakkontāpi anubhontiyeva. dīgharattaṃ hitāya sukhāya saṃvattantīti sīlādīnaṃ āgataṭṭhāne sīlādīni pūrentānampi, paresaṃ vāde sahadhammena upārambhaṃ āropentānampi, sakavādato dosaṃ harantānampi, arahattaṃ patvā parisamajjhe dhammaṃ desetvā dhammadesanāya pasannehi upanīte cattāro paccaye paribhuñjantānampi dīgharattaṃ hitāya sukhāya saṃvattanti.
Trở thành rõ ràng: các Pháp hiện hữu ở trong Āgataṭṭhāna của Pháp có giới v.v, giới được nói ở đây, định ở đây, minh sát ở đây, Đạo ở đây, Quả ở đây, luân hồi và chấm dứt luân hồi ở đây. Được nhận lợi ích của Pháp đó: các thiện nam tử học tập vì lợi ích Đạo và Quả thế nào, thiện nam tử ấy y cứ học pháp học khéo léo, làm cho Đạo sanh khởi, chứng ngộ Quả được gọi là thọ hưởng lợi ích của Pháp đó. Dầu không thể làm dịu đi lời khiển trách của người khác, không thể giữ lấy vị trí mà bản thân mong muốn đi mong muốn nữa, làm dịu lỗi lầm mà người khác cáo buộc mình gọi là thọ hưởng lợi ích tương tự. Được vận hành đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài: đối với vị Tỳ khưu thọ trì giới v.v, đưa đến nơi của giới theo Phật ngôn v.v, tha thứ lỗi lầm của người khác theo Pháp, làm dịu chính mình từ sự sai lầm mà người khác cáo buộc, chứng đắc A-ra-hán thuyết Pháp giữa hội chúng, sử dụng bốn món vật dụng mà những người tịnh tín trong sự thuyết giảng Giáo Pháp, hướng tâm cúng dường, Pháp đó được vận hành vì lợi ích trợ giúp, vì lợi ích đưa đến sự an lạc lâu dài.
evaṃ suggahite buddhavacane ānisaṃsaṃ dassetvā idāni tattheva niyojento tasmā tiha, bhikkhavetiādimāha. tattha tasmāti yasmā duggahitapariyatti duggahitālagaddo viya dīgharattaṃ ahitāya dukkhāya saṃvattati, suggahitapariyatti suggahitālagaddo viya dīgharattaṃ hitāya sukhāya saṃvattati, tasmāti attho. tathā naṃ dhāreyyāthāti tatheva naṃ dhāreyyātha, teneva atthena gaṇheyyātha. ye vā panāssu viyattā bhikkhūti ye vā pana aññe sāriputtamoggallānamahākassapamahākaccānādikā byattā paṇḍitā bhikkhū assu, te pucchitabbā. ariṭṭhena viya pana mama sāsane na kalalaṃ vā kacavaraṃ vā pakkhipitabbaṃ.
Sau khi thuyết giảng phước báu đối với lời Phật dạy đã được học tập kỹ lưỡng, bây giờ khi liên kết hội chúng trong lời Phật dạy đó đó nên đã nói rằng: “Này chư Tỳ khưu, vì lý do đó”. Ở đó, tasmā có nghĩa là vì lý do học Pháp học không kỹ lưỡng, được vận hành mang lại những điều vô ích, đưa đến khổ đau lâu dài, tương tự y như loài rắn độc (nếu) bắt không đúng cách thế đó. Còn Pháp học được học kỹ lưỡng sẽ vận hành đưa đến lợi ích trợ giúp, đưa đến sự an lạc lâu dài, cũng giống như loài rắn độc nếu bắt đúng cách thế đó. Hãy ghi nhớ điều đó: hãy giữ lấy chính điều đó (Pháp học), hãy nắm lấy ý nghĩa (Pháp học) đó. Vị Tỳ khưu trí thức: hoặc rằng nên hỏi các Tỳ khưu thiện xảo bậc trí thức như Trưởng lão Sārīputta, Trưởng lão Moggallāna, Trưởng lão Mahākassapa và Trưởng lão Mahākaccāyāna v.v, nhưng Tỳ khưu không nên trở thành giống như Tỳ khưu Ariṭṭha trét bùn hoặc chất cặn bã vào trong Tôn Giáo của Ta.
kullūpamanti kullasadisaṃ. nittharaṇatthāyāti caturoghanittharaṇatthāya. udakaṇṇavanti yañhi udakaṃ gambhīraṃ na puthulaṃ. puthulaṃ vā pana na gambhīraṃ, na taṃ aṇṇavoti vuccati. yaṃ pana gambhīrañceva puthulañca, taṃ aṇṇavoti vuccati. tasmā mahantaṃ udakaṇṇavanti mahantaṃ puthulaṃ gambhīraṃ udakanti ayamettha attho. sāsaṅkaṃ nāma yattha corānaṃ nivutthokāso dissati. ṭhitokāso, nisinnokāso, nipannokāso dissati. sappaṭibhayaṃ nāma yattha corehi manussā hatā dissanti, viluttā dissanti, ākoṭitā dissanti. uttarasetūti udakaṇṇavassa upari baddho setu. kullaṃ bandhitvāti kullo nāma taraṇatthāya kalāpaṃ katvā baddho. pattharitvā baddhā pana padaracāṭiādayo uḷumpoti vuccanti. uccāretvāti ṭhapetvā. kiccakārīti pattakārī yuttakārī, patirūpakārīti attho. dhammāpi vo pahātabbāti ettha dhammāti samathavipassanā. bhagavā hi samathepi chandarāgaṃ pajahāpesi, vipassanāyapi. samathe chandarāgaṃ kattha pajahāpesi? “iti kho, udāyi, nevasaññānāsaññāyatanassapi pahānaṃ vadāmi, passasi no tvaṃ, udāyi, taṃ saṃyojanaṃ aṇuṃ vā thūlaṃ vā, yassāhaṃ no pahānaṃ vadāmī”ti (ma. ni. 2.156) ettha samathe chandarāgaṃ pajahāpesi. “imaṃ ce tumhe, bhikkhave, diṭṭhiṃ evaṃ parisuddhaṃ evaṃ pariyodātaṃ na allīyetha na kelāyetha na dhanāyethā”ti (ma. ni. 1.401) ettha vipassanāya chandarāgaṃ pajahāpesi. idha pana ubhayattha pajahāpento “dhammāpi vo pahātabbā, pageva adhammā”ti āha.
[240] Kullūpamaṃ đồng nghĩa với kullasadisaṃ [cái bè]. Để vượt qua: để vượt qua bốn dòng nước lũ (bốn bộc lưu). Dòng nước lớn: dòng nước nào sâu mà không rộng, hoặc rộng mà không sâu dòng nước đó Ngài không gọi là dòng chảy. Còn dòng nước nào vừa sâu và vừa rộng Ngài gọi là dòng chảy, với ý nghĩa dòng chảy lớn này mới có lời giải thích rằng dòng nước lờn là dòng nước vừa sâu và vừa rộng. Chỗ nào có thể làm nơi ở của kẻ trộm là thấy đứng ngồi nằm xuất hiện thì chỗ đó đáng nghi ngờ (nguy hiểm). Ở đâu có loài người bị những kẻ trộm sát hại, cướp bóc, tấn công chỗ đó gọi là có sự kinh hoàng. Những cây cầu họ cột chặt ở trên dòng nước gọi là cây cầu để vượt qua. Khi đã cột chặt chiếc bè có nghĩa là những khúc gỗ v.v, họ đóng lại thành chiếc bè nhằm mục đích vượt qua dòng nước gọi là chiếc bè, còn lát cây v.v, mà họ đang lại tiếp Ngài là cái phao. Nhấc lên: đã được đặt (trên vai). Làm đúng nhiệm vụ: làm đúng phận sự cần làm, làm phận sự đúng đắn, tức là thực hành những phận sự phù hợp. Pháp nào trong câu này ‘nên từ bỏ Pháp’ này gồm cả chỉ tịnh và minh sát. Bời vì đức Thế Tôn khiến từ bỏ mong muốn và ái luyến (sự trói buộc) cả trong chỉ tịnh và minh sát. Ở đây, thuyết để từ bỏ mong muốn và ái luyến ở trong chỉ tịnh ở đâu? “Chính vì (chỉ tịnh) này, này Udayi, mà Ta nói sự đoạn diệt ngay cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này Udāyi, Ông có thấy chăng? các kiết sử vi tế, hay thô thiển mà Ta chưa nói đến sự đoạn diệt?” (ma. ni. 2.156). Ở đây, thuyết để từ bỏ mong muốn và luyến ái ở trong Minh Sát ở đâu? “Này các Tỳ khưu, đối với sự thấy này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy nếu như các ông không dính mắc, không thỏa thích, không ước muốn” (ma. ni. 1.401). Nhưng ở đây, đức Thế Tôn khi thuyết để dứt trừ tham vọng và ái luyến ở cả hai Chỉ Tịnh và Minh Sát nên mới nói rằng “Thậm chí Chánh Pháp các ông cần phải từ bỏ, còn nói gì nữa đến Phi Pháp.”
tatrāyaṃ adhippāyo — bhikkhave, ahaṃ evarūpesu santappaṇītesu dhammesu chandarāgappahānaṃ vadāmi, kiṃ pana imasmiṃ asaddhamme gāmadhamme vasaladhamme duṭṭhulle odakantike, yattha ayaṃ ariṭṭho moghapuriso niddosasaññī pañcasu kāmaguṇesu chandarāgaṃ nālaṃ antarāyāyāti vadati. ariṭṭhena viya na tumhehi mayhaṃ sāsane kalalaṃ vā kacavaraṃ vā pakkhipitabbanti evaṃ bhagavā imināpi ovādena ariṭṭhaṃyeva niggaṇhāti.
Trong câu đó giải thích rằng – này chư Tỳ khưu, Ta nói việc từ bỏ mong muốn và ái luyến trong các Pháp an tịnh và vi tế bằng hình thức như vậy, còn nói gì đến Phi Pháp này, Pháp của người bản địa, Pháp của kẻ hạ tiện, là Pháp thô thiển, là Pháp thấp kém, mà Tỳ khưu Ariṭṭha, kẻ ngu si này nghĩ là không lỗi lầm, kẻ ấy nói mong muốn và ái luyến trong năm loại dục là Pháp không thể làm hại được, các ông không nên giống như Tỳ khưu Ariṭṭha đổ bùn dơ và các chất cặn bã vào trong Tôn Giáo của Ta. Đức Thế Tôn trục xuất một mình Tỳ khưu Ariṭṭha với lời giáo huấn này.
idāni yo pañcasu khandhesu tividhaggāhavasena ahaṃ mamanti gaṇhāti, so mayhaṃ sāsane ayaṃ ariṭṭho viya kalalaṃ kacavaraṃ pakkhipatīti dassento chayimāni, bhikkhavetiādimāha. tattha diṭṭhiṭṭhānānīti diṭṭhipi diṭṭhiṭṭhānaṃ, diṭṭhiyā ārammaṇampi diṭṭhiṭṭhānaṃ, diṭṭhiyā paccayopi.
[241] Bây giờ khi thuyết rằng người nào chấp thủ rằng ta, của ta với mãnh lực của ba sự chấp thủ trong năm uẩn người đó gọi là đổ bùn lầy và các chất cặn bã vào trong Tôn Giáo của Ta, giống như Tỳ khưu Ariṭṭha này, nên Ngài mới nói rằng: “này các Tỳ khưu có sáu vị trí của quan niệm sai lầm.” Ở đó, vị trí của quan niệm sai lầm nên biết rằng ngay cả sự thấy cũng gọi là nơi thiết lập của tà kiến cả đối tượng của sự thấy, lẫn duyên của sự thấy cũng gọi là nơi thiết lập của tà kiến.
rūpaṃ etaṃ mamātiādīsu etaṃ mamāti taṇhāggāho. esohamasmīti mānaggāho. eso me attāti diṭṭhiggāho. evaṃ rūpārammaṇā taṇhāmānadiṭṭhiyo kathitā honti. rūpaṃ pana attāti na vattabbaṃ. vedanādīsupi eseva nayo. diṭṭhaṃ rūpāyatanaṃ, sutaṃ saddāyatanaṃ, mutaṃ gandhāyatanaṃ rasāyatanaṃ phoṭṭhabbāyatanaṃ, tañhi patvā gahetabbato mutanti vuttaṃ. avasesāni sattāyatanāni viññātaṃ nāma. pattanti pariyesitvā vā apariyesitvā vā pattaṃ. pariyesitanti pattaṃ vā appattaṃ vā pariyesitaṃ. anuvicaritaṃ manasāti cittena anusañcaritaṃ. lokasmiñhi pariyesitvā pattampi atthi, pariyesitvā nopattampi. apariyesitvā pattampi atthi, apariyesitvā nopattampi. tattha pariyesitvā pattaṃ pattaṃ nāma. pariyesitvā nopattaṃ pariyesitaṃ nāma. apariyesitvā pattañca, apariyesitvā nopattañca manasānuvicaritaṃ nāma.
Quán thấy Sắc (nghĩ rằng) đó là của ta v.v, việc nắm lấy ‘vật đó của ta’ là sự chấp thủ của tham ái. Việc nắm lấy ‘ta là vật đó’ là sự chấp thủ của ngã mạn, việc nắm lấy rằng ‘đó là thân của ta’ là sự chấp thủ của tà kiến, nói đến tham ái, ngã mạn và tà kiến có sắc làm đối tượng như vậy. Nhưng không nên nói rằng Sắc là Ta. Ngày cả Thọ v.v, cũng theo cách thức tương tự như vậy. Sắc xứ gọi là đã được thấy, thinh xứ gọi là đã được nghe; khí xứ, vị xứ và xúc xứ gọi là đã được cảm giác. Khí xứ, vị xứ và xúc xứ đó Ngài nói rằng đã được cảm giác, bởi vì khi đến tiếp xúc (nội xứ) mới nắm lấy làm đối tượng (biết). Bảy xứ còn lại gọi là đã được nhận thức. Đã được đạt đến [pattaṃ]: đã đến bằng cách tìm kiếm, hay không tìm kiếm, gặp rồi. Đã được tìm kiếm [pariyesitaṃ] bao gồm gặp hoặc không gặp cũng đã tìm kiếm. Đã được cân nhắc bởi ý [anuvicaritaṃ manasāti]: đã được suy xét bởi tâm. Bởi vậy, trong thế gian những thứ đã được tìm kiếm rồi gặp, hay đã được tìm kiếm rồi không gặp, hay không được tìm kiếm rồi gặp, không được tìm kiếm rồi không gặp. Ở chỗ thiết lập của sự thấy đó những thứ đã được tìm kiếm rồi gặp gọi là đã được đạt đến. Những thứ đã được tìm kiếm rồi không gặp gọi là đã được tìm kiếm. Những thứ không được tìm kiếm rồi gặp và những thứ không được tìm kiếm rồi không gặp gọi là đã được cân nhắc bởi ý.
atha vā pariyesitvā pattampi apariyesitvā pattampi pattaṭṭhena pattaṃ nāma. pariyesitvā nopattaṃ pariyesitaṃ nāma. apariyesitvā nopattaṃ manasānuvicaritaṃ nāma. sabbaṃ vā etaṃ manasā anuvicaritattā manasānuvicaritaṃ nāma. iminā viññāṇārammaṇā taṇhāmānadiṭṭhiyo kathitā, desanāvilāsena heṭṭhā diṭṭhādiārammaṇavasena viññāṇaṃ dassitaṃ. yampi taṃ diṭṭhiṭṭhānanti yampi etaṃ so lokotiādinā nayena pavattaṃ diṭṭhiṭṭhānaṃ.
Và hơn nữa, những thứ được tìm kiếm rồi gặp, những thứ không được tìm kiếm không gặp gọi là đã được đạt đến, với ý nghĩa đã gặp. Những thứ tìm kiếm không gặp duy nhất gọi là đã được tìm kiếm, những thứ không được tìm kiếm rồi gặp và những thứ không được tìm kiếm rồi không gặp gọi là đã được cân nhắc bởi tâm, vì là những thứ liên quan đến tâm tham ái, ngã mạn và tà kiến có thức làm đối tượng, nói về câu này thuyết với mãnh lực tà kiến v.v, làm đối tượng trong phần sau với mãnh lực từ việc thay đổi cách thuyết. Quán xét thấy vị trí của quan niệm sai lầm (yampi taṃ diṭṭhiṭṭhānaṃ): nơi thiết lập của sự thấy được vận hành theo cách thức như sau: quán xét thấy vị trí của quan niệm sai lầm đó là thế gian.
so loko so attāti yā esā “rūpaṃ attato samanupassatī”tiādinā nayena pavattā diṭṭhi loko ca attā cāti gaṇhāti, taṃ sandhāya vuttaṃ. so pecca bhavissāmīti so ahaṃ paralokaṃ gantvā nicco bhavissāmi, dhuvo sassato avipariṇāmadhammo bhavissāmi, sinerumahāpathavīmahāsamuddādīhi sassatīhi samaṃ tatheva ṭhassāmi. tampi etaṃ mamāti tampi dassanaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti samanupassati. iminā diṭṭhārammaṇā taṇhāmānadiṭṭhiyo kathitā. vipassanāya paṭivipassanākāle viya pacchimadiṭṭhiyā purimadiṭṭhiggahaṇakāle evaṃ hoti.
Đây là thế giới, đây là tự ngã (so loko so attā): sự thấy được vận hành theo cách thức như sau “nhìn thấy sắc là tự ngã” (vị ấy) chấp thủ rằng là thế gian, là tự ngã. Ngài ám chỉ đến sự thấy đó mới nói như vậy. Sau khi chết, tôi sẽ thường còn (so pecca bhavissāmi): Tôi đi đến thế giới khác sẽ trở thành thường hằng, bền vững và trường tồn không có tính chất biến hoại đổi thay, sẽ luôn an trú với sự thường hằng như ngọn núi Sineru, đại đại và đại dương v.v, như thế tương tự. Đó là của tôi (tampi etaṃ mama): theo sự thấy rằng nhận thấy đó là của tôi, đó là tôi, đó là tự ngã của tôi. Tham ái, ngã mạn và tà kiến có sự thấy làm đối tượng thuyết với câu này. Thời gian nắm lấy sự thấy lần đầu tiên có được sự thấy lần sau như vầy giống như thời gian trở lại nhìn thấy rõ với Minh Sát.
sukkapakkhe rūpaṃ netaṃ mamāti rūpe taṇhāmānadiṭṭhiggāhā paṭikkhittā. vedanādīsupi eseva nayo. samanupassatīti imassa pana padassa taṇhāsamanupassanā mānasamanupassanā diṭṭhisamanupassanā ñāṇasamanupassanāti catasso samanupassanāti attho. tā kaṇhapakkhe tissannaṃ samanupassanānaṃ, sukkapakkhe ñāṇasamanupassanāya vasena veditabbā. asati na paritassatīti avijjamāne bhayaparitassanāya taṇhāparitassanāya vā na paritassati. iminā bhagavā ajjhattakkhandhavināse aparitassamānaṃ khīṇāsavaṃ dassento desanaṃ matthakaṃ pāpesi.
Trong phần Pháp trắng đối lập việc chấp thủ với tham ái, ngã mạn và tà kiến trong Sắc rằng đó là của tôi, đó không phải sắc của tôi v.v, cả trong Thọ cũng có cách thức tương tự vậy. Quán xét thấy (samanupassati) nghĩa là có bốn sự quán xét là taṇhāsamanupassanā (quán xét bằng tham ái) mānasamanupassanā (quán xét bằng ngã mạn) diṭṭhisamanupassanā (quán xét bằng tà kiến) ñāṇasamanupassanā (quán xét bằng trí tuệ). Ý nghĩa của bốn sự quá xét đó nên biết rằng với mãnh lực của 3 sự quán xét trong phần Pháp Đen, ñāṇasamanupassanā ở trong phần Pháp Trắng. Đối với sự vật không có nên không có hoảng sợ (asati na paritassati): khi không có sự chấp thủ vị ấy không hoảng sợ với sự hoảng sợ do sợ hãi hoặc với sự hoảng sợ bởi tham ái. Đức Thế Tôn khi thuyết giảng đến bậc lậu tận, vị không còn sợ hãi, phiền muộn trong sự hoại diệt của các uẩn bên trong mới thuyết chấm dứt lời thuyết giảng với câu này.
evaṃ vutte aññataro bhikkhūti evaṃ bhagavatā vutte aññataro anusandhikusalo bhikkhu — “bhagavatā ajjhattakkhandhavināse aparitassantaṃ khīṇāsavaṃ dassetvā desanā niṭṭhāpitā, ajjhattaṃ aparitassante kho pana sati ajjhattaṃ paritassakena bahiddhā parikkhāravināse paritassakena aparitassakena cāpi bhavitabbaṃ. iti imehi catūhi kāraṇehi ayaṃ pañho pucchitabbo”ti cintetvā ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā añjaliṃ paggayha bhagavantaṃ etadavoca. bahiddhā asatīti bahiddhā parikkhāravināse. ahu vata meti ahosi vata me bhaddakaṃ yānaṃ vāhanaṃ hiraññaṃ suvaṇṇanti attho. taṃ vata me natthīti taṃ vata idāni mayhaṃ natthi, rājūhi vā corehi vā haṭaṃ, agginā vā daḍḍhaṃ, udakena vā vuḷhaṃ, paribhogena vā jiṇṇaṃ. siyā vata meti bhaveyya vata mayhaṃ yānaṃ vāhanaṃ hiraññaṃ suvaṇṇaṃ sāli vīhi yavo godhumo. taṃ vatāhaṃ na labhāmīti tamahaṃ alabhamāno tadanucchavikaṃ kammaṃ akatvā nisinnattā idāni na labhāmīti socati, ayaṃ agāriyasocanā, anagāriyassa pattacīvarādīnaṃ vasena veditabbā.
[242] Khi đức Thế Tôn nói như vậy (evaṃ vutte aññataro bhikkhū): Khi đức Thế Tôn thuyết như vậy vị Tỳ khưu thiện xảo trong sự liên kết nghĩ rằng – “Sau khi đức Thế Tôn thuyết giảng đến bậc lậu tận không hoảng sợ do sự hoại diệt của các uẩn bên trong kết thúc lời thuyết giảng, khi bậc lậu tận không còn hoảng sợ bên trong; vị Tỳ khưu hoảng sợ bên trong; vị Tỳ khưu hoảng sợ bên ngoài,vị Tỳ khưu hoảng sợ do sự hư hoại của các vật dụng phụ tùng và cả người không hoảng sợ có thể có Ta sẽ hỏi vấn đề này với bốn lý do như đã nêu trên, rồi (vị ấy) đã đắp y một bên vai, chắp tay lên, đê đầu đảnh lễ đức Thế Tôn. Ở bên ngoài không có (bahiddhā asati): ở bên ngoài là do sự hư hoại của các vật dụng phụ tùng. Quả thật đã có cho ta chăng? (ahu vata me): nghĩa là đồ vật, vật kéo, xe cộ, vàng, bạc của ta quả thật đã có chăng? Cái ấy quả thật không có cho ta! (taṃ vata me natthi): những thứ đó của tôi không có là bị đức Vua tịch thu hoặc những tên trộm cướp mang đi, hoặc bị lửa thiêu đốt, hoặc bị nước cuốn trôi, hoặc kiệt quệ do tiêu xài. Quả thật sẽ có cho ta chăng? (siyā vata me): vật kéo, xe cộ, vàng, bạc lúa sāli, lúa mùa, lúa mạch, lúa mì của ta có chăng? Quả thật ta không đạt được cái ấy! (taṃ vatāhaṃ na labhāmi): (vị ấy) buồn rầu (trước đây) ta không đạt được những thứ đó, bây giờ ta cũng không đạt được bởi vì (vị ấy) không làm việc phù hợp đối với tài sản đó, đây gọi là sự sầu muộn của người tại gia cư sĩ. Sự sầu muộn của người không phải cư sĩ (vị xuất gia) nên biết do mãnh lực của bình bát và y phục v.v.
aparitassanāvāre na evaṃ hotīti yehi kilesehi evaṃ bhaveyya, tesaṃ pahīnattā na evaṃ hoti. diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānanti diṭṭhīnañca diṭṭhiṭṭhānānañca diṭṭhādhiṭṭhānānañca diṭṭhipariyuṭṭhānānañca abhinivesānusayānañca. sabbasaṅkhārasamathāyāti nibbānatthāya. nibbānañhi āgamma sabbasaṅkhārāiñjitāni, sabbasaṅkhāracalanāni sabbasaṅkhāravipphanditāni sammanti vūpasammanti, tasmā taṃ, “sabbasaṅkhārasamatho”ti vuccati. tadeva ca āgamma khandhūpadhi kilesūpadhi abhisaṅkhārūpadhi, pañcakāmaguṇūpadhīti ime upadhayo paṭinissajjiyanti, taṇhā khīyati virajjati nirujjhati, tasmā taṃ, “sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho”ti vuccati. nibbānāyāti ayaṃ panassa sarūpaniddeso, iti sabbeheva imehi padehi nibbānassa sacchikiriyatthāya dhammaṃ desentassāti ayamattho dīpito. tassevaṃ hotīti tassa diṭṭhigatikassa ucchijjissāmi nāmassu, vinassissāmi nāmassu, nāssu nāma bhavissāmīti evaṃ hoti. diṭṭhigatikassa hi tilakkhaṇaṃ āropetvā suññatāpaṭisaṃyuttaṃ katvā desiyamānaṃ dhammaṃ suṇantassa tāso uppajjati. vuttañhetaṃ — “tāso heso, bhikkhave, asutavato puthujjanassa no cassaṃ, no ca me siyā”ti (saṃ. ni. 3.55).
Nên biết trong phần Aparitassanā (không hoảng sợ) như sau, từ na evaṃ hoti nghĩa là sự hoảng sợ có thể có như vầy do phiền não nào không có như vậy, do phiền não đó đã đoạn trừ rồi. Diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānanti nghĩa là tà kiến, vị trí của quan niệm sai lầm, nơi thiết lập vững chắc của tà kiến, nơi bùng nổ của tà kiến, nơi ngủ ngầm của sự chấp thủ. Đưa đến sự an tịnh tất cả các Hành (sabbasaṅkhārasamathāya): vì mục đích sự diệt tận. Thật vậy, sự lay động, sự rúng động, sự biến hoại đổi thay của các Hành cho đến Niết bàn sẽ an tịnh, bởi vì Niết bàn đó Ngài gọi là (Pháp) vắng lặng tất cả các Hành. Lại nữa upadhi (bản thể của sự tái sanh) này: bản thể của sự tái sanh là uẩn, bản thể của sự tái sanh là phiền não, bản thể của sự tái sanh là sự tích lũy nghiệp, bản thể của sự tái sanh là năm dục cho đến Niết bàn đó đó (những thứ ấy) được dứt bỏ, tham ái cũng cạn kiệt, loại bỏ, tiêu diệt. Bởi thế, Niết bàn đó Ngài gọi là nơi dứt bỏ toàn bộ bản thể của sự tái sanh, là nơi cạn kiệt tham ái, ly tham ái, diệt tận. Nhờ Niết bàn (nibbānāya) đây là lời nói tóm lược của Niết bàn đó (sự dứt bỏ). Như vậy Ngài trình bày ý nghĩa này khi thuyết giảng Pháp vì lợi ích đưa đến sự giác ngộ Niết bàn vời câu này, toàn bộ cả thảy. Hạng người đó có sự thấy như vầy (tassevaṃ hoti) nghĩa là vị Tỳ khưu có tà kiến có suy nghĩ như vầy “ta sẽ bị đoạn diệt, ta sẽ bị hoại diệt, ta sẽ không tồn tại”. Thật vậy, vị Tỳ khưu có tà kiến lắng nghe Giáo Pháp đã đặt trên Tam Tướng (vô thường, khổ não, vô ngã) thuyết giảng gắn liền với không tánh khởi lên sự lo hoảng sợ. Điều này đã được nói – “Này chư Tỳ khưu, kẻ phàm nhân không từng được nghe có sự hoảng sợ như vầy, có ta và không có ta.” (saṃ. ni. 3.55).
ettāvatā bahiddhāparikkhāravināse tassanakassa ca notassanakassa ca ajjhattakkhandhavināse tassanakassa ca notassanakassa cāti imesaṃ vasena catukkoṭikā suññatā kathitā. idāni bahiddhā parikkhāraṃ pariggahaṃ nāma katvā, vīsativatthukaṃ sakkāyadiṭṭhiṃ attavādupādānaṃ nāma katvā, sakkāyadiṭṭhipamukhā dvāsaṭṭhi diṭṭhiyo diṭṭhinissayaṃ nāma katvā tikoṭikaṃ suññataṃ dassetuṃ taṃ, bhikkhave, pariggahantiādimāha. tattha pariggahanti bahiddhā parikkhāraṃ. pariggaṇheyyāthāti yathā viññū manusso pariggaṇheyya. ahampi kho taṃ, bhikkhaveti, bhikkhave, tumhepi na passatha, ahampi na passāmi, iti evarūpo pariggaho natthīti dasseti. evaṃ sabbattha attho veditabbo.
[243] Chỉ bấy nhiêu đã nói lên không tánh (suññatā) có bốn nút thắt với khả năng của các Tỳ khưu này là vị Tỳ khưu hoảng sợ và người không hoảng sợ vì sự hư hoại của những vật dụng phụ tùng bên ngoài là một đôi; và Tỳ khưu hoảng sợ và người không hoảng sợ vì sự hoại diệt của uẩn bên trong là một đôi; Bây giờ, để trình bày không tánh nút thắt thứ ba là sắp xếp vật dụng phụ tùng bên ngoài cho gọi là sự sở hữu do tà kiến, sắp xếp sự nhận thức sai trái về thân có hai mươi vật (vatthu) cho gọi là sự chấp thủ vào tự ngã, sắp xếp sáu mươi hai loại tà kiến có sự nhận thức sai trái về thân dẫn đầu cho gọi là sự nương tựa vào tà kiến, nên Ngài đã nói rằng: “Này chư Tỳ khưu, sự sở hữu v.v,” ở đó, sự sở hữu gồm sự sở hữu những vậy dụng phụ tùng bên ngoài. Có thể nắm giữ vật sở hữu (pariggaṇheyyāthāti) nghĩa là những người trí thức có thể quyết định giữ lấy. Này chư Tỳ khưu, Ta cũng không quán xét thấy (ahampi kho taṃ, bhikkhave): Này chư Tỳ khưu, thậm chí các ông không thấy mà ngay cả Ta cũng không thấy, sự xác định bằng hình thức như vậy cũng không có. Nên biết rằng ý nghĩa trong các câu như vậy.
evaṃ tikoṭikaṃ suññataṃ dassetvā idāni ajjhattakkhandhe attāti bahiddhā parikkhāre attaniyanti katvā dvikoṭikaṃ dassento attani vā, bhikkhave, satītiādimāha. tattha ayaṃ saṅkhepattho, bhikkhave, attani vā sati idaṃ me parikkhārajātaṃ attaniyanti assa, attaniyeva vā parikkhāre sati ayaṃ me attā imassa parikkhārassa sāmīti, evaṃ ahanti. sati mamāti, mamāti sati ahanti yuttaṃ bhaveyya. saccatoti bhūtato, thetatoti tathato thirato vā.
[244] Như vậy sau khi đức Thế Tôn thuyết giảng không tánh ba nút thắt, bây giờ khi thuyết giảng hai nút thắt là tự ngã trong uẩn bên trong và bởi vì tự ngã trong những vật dụng phụ tùng bên ngoài nên Ngài mới nói rằng: “khi tự ngã có mặt (attani vā, bhikkhave, sati)”. Ở đó, có ý nghĩa tóm lược như vầy, này chư Tỳ khưu khi tự ngã có mặt, các vật dụng phụ tùng này cũng do trong tự ngã hoặc tự ngã này của ta cũng là chủ nhân của các vật dụng phụ tùng, ta cũng tương tự y như vậy có thể liên kết với từ khi (vatthu) có mặt đồ vật ta cũng có. Có tính chất thật (saccato): với bản thể thật, những thứ đáng tin cậy (thetatoti): với những thứ chắc chắn hoặc xác thực.
idāni ime pañcakkhandhe aniccaṃ dukkhaṃ anattāti evaṃ tiparivaṭṭavasena aggaṇhanto ayaṃ ariṭṭho viya mayhaṃ sāsane kalalaṃ kacavaraṃ pakkhipatīti dassento taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vātiādimāha. tattha aniccaṃ, bhanteti, bhante, yasmā hutvā na hoti, tasmā aniccaṃ. uppādavayavattito vipariṇāmatāvakālikaniccapaṭikkhepaṭṭhena vāti catūhi kāraṇehi aniccaṃ. dukkhaṃ, bhanteti, bhante, paṭipīḷanākārena dukkhaṃ, santāpadukkhamadukkhavatthukasukhapaṭikkhepaṭṭhena vāti catūhi kāraṇehi dukkhaṃ. vipariṇāmadhammanti bhavasaṅkantiupagamanasabhāvaṃ pakatibhāvavijahanasabhāvaṃ. kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti yuttaṃ nu kho taṃ imesaṃ tiṇṇaṃ taṇhāmānadiṭṭhiggāhānaṃ vasena ahaṃ mamāti evaṃ gahetuṃ. no hetaṃ, bhanteti iminā te bhikkhū avasavattanākārena rūpaṃ, bhante, anattāti paṭijānanti. suññāssāmikānissarāttapaṭikkhepaṭṭhena vāti catūhi kāraṇehi anattā.
Bây giờ, khi không nắm lấy năm uẩn với ba luân (parivaṭṭa) là vô thường, khổ não và vô ngã khi thuyết giảng rằng Tỳ khưu này giống như Tỳ khưu Ariṭṭha đổ bùn lấy cặn bã vào trong Tôn Giáo của Ta, nên Ngài mới thuyết rằng: Này chư Tỳ khưu, các ông nghĩ ý nghĩa đó thế nào? Sắc là thường hay vô thường? Ở đó, Thưa Ngài (Sắc là) vô thường: nghĩa là thưa Ngài bởi Sắc có rồi không có cho nên Sắc là vô thường, gọi là vô thường do 4 lý do là do sanh rồi hoại diệt, hoặc bởi ý nghĩa biến hoại, diễn ra tạm thời và đối nghịch sự thường hằng. Thưa Ngài (Sắc là) là khổ: thưa Ngài, Sắc gọi là khổ do biểu hiện áp bức, đàn áp gọi là khổ do bốn lý do bởi ý nghĩa nóng đốt, khó kham nhẫn, làm chỗ thiết lập cho khổ đau và đối nghịch với sự an lạc. Có trạng thái thay đổi (vipariṇāmadhammaṃ): thực tính có sự chuyển biến (từ trạng thái này sang trạng thái khác) và hướng đến hữu, có sự dứt trừ sự thông thường trở thành thực tính. Cái ấy có thích hợp để nhận thức như vầy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”? nghĩa là có thích hợp để nắm giữ sắc đó như vầy ‘ta’ ‘của ta’ với mãnh lực chấp thủ của cả 3 pháp này là tham ái, ngã mạn và tà kiến. Không nên, bạch Thế Tôn: vị Tỳ khưu đó thừa nhận rằng: Sắc là vô ngã bạch Thế Tôn với biểu hiện không vận hành theo sức mạnh ‘sắc gọi là vô ngã’ với bốn lý do là bởi ý nghĩa là thứ rỗng không, vô chủ, không to lớn và đối nghịch với tự ngã.
bhagavā hi katthaci aniccavasena anattattaṃ dasseti, katthaci dukkhavasena, katthaci ubhayavasena. “cakkhu attāti yo vadeyya, taṃ na upapajjati, cakkhussa uppādopi vayopi paññāyati. yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, attā me uppajjati ca veti cāti iccassa evamāgataṃ hoti, tasmā taṃ na upapajjati cakkhu attāti yo vadeyya, iti cakkhu anattā”ti (ma. ni. 3.422) imasmiñhi chachakkasutte aniccavasena anattataṃ dasseti.
Thật vậy, do đâu đức Thế Tôn tuyên thuyết tính chất Vô Ngã bằng mãnh lực của Vô Thường ở nơi nào? bằng mãnh lực của Khổ Đau ở nơi nào? với mạnh lực của Vô Thường và sự Đau Khổ ở nơi nào? Thật vậy, Ngài đã trình bày tính chất Vô Ngã với sức mạnh của Vô Thường trong Kinh Chachakka này rằng: “Người nào có thể nói rằng con mắt là Tự Ngã, như vậy lời nói ấy là không thích hợp. Con mắt sẽ xuất hiện cả sự sanh và cả sự sự diệt. Vì rằng cái nào xuất hiện sự sanh và cả sự diệt thì cái đó cần phải nói như vầy: “Tự Ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, lời nói của người nói rằng: “ Con mắt là Tự Ngã”, như vậy là không hợp lý. Cho nên (cần phải nói rằng) con mắt là Vô Ngã.” (ma. ni. 3.422).
“rūpañca hidaṃ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṃ rūpaṃ ābādhāya saṃvatteyya, labbhetha ca rūpe ‘evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’ti. yasmā ca kho, bhikkhave, rūpaṃ anattā, tasmā rūpaṃ ābādhāya saṃvattati, na ca labbhati rūpe ‘evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’”ti (mahāva. 20; saṃ. ni. 3.59) imasmiṃ anattalakkhaṇasutte dukkhavasena anattataṃ dasseti.
Thuyết giảng tính chất vô ngã với mãnh lực tính chất sự khổ đau ở trong Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhaṇa) này rằng: “Này các Tỳ khưu, bởi vì nếu Sắc này là Tự Ngã thì Sắc này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở Sắc (theo ý muốn) rằng: ‘Sắc của ta hãy là như vầy, Sắc của ta đừng trở thành như vầy.’ Này các Tỳ khưu, chính vì Sắc là Vô Ngã do đó Sắc đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở Sắc (theo ý muốn) rằng: ‘Sắc của ta hãy là như vầy, Sắc của ta đừng trở thành như vầy.” (mahāva. 20; saṃ. ni. 3.59)
“rūpaṃ, bhikkhave, aniccaṃ, yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ, yaṃ dukkhaṃ tadanattā, yadanattā taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabban”ti (saṃ. ni. 3.76) imasmiṃ arahattasutte ubhayavasena anattataṃ dasseti. kasmā? aniccaṃ dukkhañca pākaṭaṃ. anattāti na pākaṭaṃ.
Thuyết giảng sự tính chất Vô Ngã với sức mạnh của Vô Thường và Đau Khổ cả hai trong Kinh Arahatta như sau: “Này các Tỳ khưu, sắc là Vô Thường; sắc nào là Vô Thường thì sắc đó cũng là Khổ; Sắc nào là Khổ thì sắc đó cũng là Vô Ngã; Sắc nào là Vô Ngã thì Sắc đó không phải của tôi; Sắc đó không phải là tôi; Sắc đó không phải tự ngã của tôi, cho nên cần phải thấy Sắc đó như thật với chánh trí tuệ”. (saṃ. ni. 3.76). Tại sao? Bởi vì Vô Thường và Khổ đã xuất hiện rồi Vô Ngã vẫn chưa xuất hiện.
paribhogabhājanādīsu hi bhinnesu aho aniccanti vadanti, aho anattāti vattā nāma natthi. sarīre gaṇḍapiḷakādīsu vā uṭṭhitāsu kaṇṭakena vā viddhā aho dukkhanti vadanti, aho anattāti pana vattā nāma natthi. kasmā? idañhi anattalakkhaṇaṃ nāma avibhūtaṃ duddasaṃ duppaññāpanaṃ. tena taṃ bhagavā aniccavasena vā dukkhavasena vā ubhayavasena vā dasseti. tayidaṃ imasmimpi teparivaṭṭe aniccadukkhavaseneva dassitaṃ. vedanādīsupi eseva nayo.
Bởi vậy, khi đồ dùng đựng thức ăn v.v, bị vỡ mọi người nói rằng ‘Ồ, Vô thường mà’, chẳng ai nói rằng ‘Vô Ngã’. Hoặc các dịch mủ xuất hiện trên thân hoặc người bị gai đâm cũng nói với nhau rằng ‘ồ, Khổ’ chẳng có ai nói rằng ‘ồ, Vô Ngã’. Tại sao? Bời vì, trạng thái Vô Ngã không rõ ràng, khó thấy, khó nhận biết bởi thế đức Thế Tôn không thuyết tính chất Vô Ngã đó với mãnh lực Vô Thường, Khổ, và cả hai là Vô Thường lẫn Khổ Đau. Sắc này đây thuyết giảng với mãnh lực Vô Thường chỉ là Khổ mà thôi trong ba luân (parivaṭṭe). Cả trong Thọ cũng có cách thức tương tự.
tasmā tiha, bhikkhaveti, bhikkhave, yasmā etarahi aññadāpi rūpaṃ aniccaṃ dukkhaṃ anattā, tasmāti attho. yaṃkiñci rūpantiādīni visuddhimagge khandhaniddese vitthāritāneva.
Vì lý do đó này chư Tỳ khưu bất kỳ một Sắc nào (tasmā tiha, bhikkhave): Này chư Tỳ khưu, do Sắc này là Vô Thường, là Khổ, là Vô Ngã cả hiện tại cả thời gian khác (quá khứ và vị lai). Sắc này không phải của các ông (yaṃkiñci rūpaṃ): đã được giải thích chi tiết trong Diễn Giải về Uẩn trong Thanh Tịnh Đạo.
nibbindatīti ukkaṇṭhati. ettha ca nibbidāti vuṭṭhānagāminīvipassanā adhippetā. vuṭṭhānagāminīvipassanāya hi bahūni nāmāni. esā hi katthaci saññagganti vuttā. katthaci dhammaṭṭhitiñāṇanti. katthaci pārisuddhipadhāniyaṅganti. katthaci paṭipadāñāṇadassanavisuddhīti. katthaci tammayatāpariyādānanti. katthaci tīhi nāmehi. katthaci dvīhīti.
[245] Nibbindati: Nhàm chán. Cũng trong từ nibbindati (nhàm chán) trong Pāḷi này Ngài có ý muốn nói đến vuṭṭhānagāminīvipassanā (Minh Sát đưa đến sự thoát khỏi sự dính mắc tham ái). Quả thật, vuṭṭhānagāminīvipassanā có nhiều tên gọi một số chỗ gọi là sañagga (sự nhận thức), một số nơi gọi là dhammaṭṭhitiñāṇa (trí tuệ về sự hiện diện các pháp), một số nơi gọi là pārisuddhipadhāniyaṅga (chi phần nỗ lực thanh tịnh), một số nơi gọi là paṭipadāñāṇadassanavisuddhi (đạo lộ thực hành cho sự biết và thấy thanh tịnh), một số nơi gọi là tammayatāpariyādāna, một số có ba tên gọi, một số thì có hai.
tattha poṭṭhapādasutte tāva “saññā kho, poṭṭhapāda, paṭhamaṃ uppajjati, pacchā ñāṇan”ti (dī. ni. 1.416) evaṃ saññagganti vuttā. susimasutte “pubbe kho, susima, dhammaṭṭhitiñāṇaṃ, pacchā nibbāne ñāṇan”ti (saṃ. ni. 2.70) evaṃ dhammaṭṭhitiñāṇanti vuttā. dasuttarasutte “paṭipadāñāṇadassanavisuddhi padhāniyaṅgan”ti (dī. ni. 3.359) evaṃ pārisuddhipadhāniyaṅganti vuttā. rathavinīte “kiṃ nu kho, āvuso, paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthaṃ bhagavati brahmacariyaṃ vussatī”ti (ma. ni. 1.257) evaṃ paṭipadāñāṇadassanavisuddhīti vuttā. saḷāyatanavibhaṅge “atammayataṃ, bhikkhave, nissāya atammayataṃ āgamma yāyaṃ upekkhā nānattā nānattasitā, taṃ abhinivajjetvā yāyaṃ upekkhā ekattā ekattasitā, taṃ nissāya taṃ āgamma evametissā pahānaṃ hoti, evametissā samatikkamo hotī”ti (ma. ni. 3.310) evaṃ tammayatāpariyādānanti vuttā. paṭisambhidāmagge “yā ca muñcitukamyatā, yā ca paṭisaṅkhānupassanā, yā ca saṅkhārupekkhā, ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti (paṭi. ma. 1.54) evaṃ tīhi nāmehi vuttā. paṭṭhāne “anulomaṃ gotrabhussa anantarapaccayena paccayo, anulomaṃ vodānassa anantarapaccayena paccayo”ti (paṭṭhā. 1.1.417) evaṃ dvīhi nāmehi vuttā. imasmiṃ pana alagaddasutte nibbindatīti nibbidānāmena āgatā.
Ở đó, trong Kinh Poṭṭhapāda sự nhận thức đã được nói như vầy: “Này Potthapàda, nhận thức khởi trước trí mới khởi sau.” (dī. ni. 1.416). Trong Kinh Susima “Này Susima, trí về sự hiện diện của các Pháp có trước, trí trong Niết bàn mới có sau.” (saṃ. ni. 2.70) đã nói về trí về sự hiện diện của các Pháp như vậy. Trong Kinh Dasuttara “đạo lộ thực hành cho sự biết và thấy thanh tịnh về chi phần lực” (dī. ni. 3.359) chi phần nỗ lực thanh tịnh đã được nói như vậy. Trong Kinh Rathavinīta “này hiền giả, Ngài được sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của đức Thế Tôn là vì đạo lộ thực hành cho sự biết và thấy thanh tịnh phải chằng? (ma. ni. 1.257), đạo lộ thực hành cho sự biết và thấy thanh tịnh đã được nói như vậy. Trong Kinh saḷāyatanavibhaṅga “Này các Tỳ khưu, thọ xả nào có thể đem đi sự không tham dục, y cứ sự không tham dục, có đối tượng đồng nhất, y cứ chung một đối tượng, các ông hãy đoạn tận thọ xả đó, hãy vượt qua xả đó, như vậy là sự vượt qua (xả) này.” (ma. ni. 3.310) tammayatāpariyādānaṃ đã được nói đến như vậy. Trong Paṭisambhidāmagga “Sự mong muốn giải thoát, sự quán xét do phân biệt rõ, và trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, các pháp này có cùng một ý nghĩa, khác biệt về văn tự.” (paṭi. ma. 1.54) như vậy ba tên gọi đã được nói đến. Trong bộ Paṭṭhāna “trí thuận dòng làm duyên cho trí chuyển tộc bằng vô gián duyên, trí thuận dòng làm duyên của tâm thanh tịnh (vodāna: tâm Đạo và tâm Quả) bằng vô gián duyên.” (paṭṭhā. 1.1.417) như vậy hai tên gọi đã được nói đến. Còn trong Kinh Alagadda này vuṭṭhānagāminīvipassanā đến với ý nghĩa ‘nhàm chán’ trong từ ‘trở nên chán nản’.
nibbidā virajjatīti ettha virāgoti maggo virāgā vimuccatīti ettha virāgena maggena vimuccatīti phalaṃ kathitaṃ. vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hotīti idha paccavekkhaṇā kathitā.
Đạo gọi là xa lìa ái luyến trong câu ‘do nhàm chán nên xa lìa ái luyến’ trong câu ‘do xa lìa ái luyến nên giải thoát’ này Ngài nói đến Quả được giải thoát do xa lìa ái luyến là Đạo. Ở đây, Ngài nói đến trí quán xét lại rằng ‘khi giải thoát trí tuệ biết rằng ta đã giải thoát.’
evaṃ vimuttacittaṃ mahākhīṇāsavaṃ dassetvā idāni tassa yathābhūtehi pañcahi kāraṇehi nāmaṃ gaṇhanto ayaṃ vuccati, bhikkhavetiādimāha. avijjāti vaṭṭamūlikā avijjā. ayañhi durukkhipanaṭṭhena palighoti vuccati. tenesa tassa ukkhittattā ukkhittapalighoti vutto. tālāvatthukatāti sīsacchinnatālo viya katā, samūlaṃ vā tālaṃ uddharitvā tālassa vatthu viya katā, yathā tasmiṃ vatthusmiṃ puna so tālo na paññāyati, evaṃ puna apaññattibhāvaṃ nītāti attho.
Như vậy sau khi đức Thế Tôn thuyết giảng về bậc đại lậu tận, vị đã có tâm giải thoát. Bây giờ, khi xác định tên gọi của bậc đại lậu tận ấy với năm lý do theo thực tính nên Ngài đã nói rằng ‘Này chư Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là…’ Vô minh bao gồm vô minh có luân hồi làm gốc. Thật vậy, vô minh này Ngài gọi là vật gây cản trở với ý nghĩa khó trèo lên. Bởi thế Tỳ khưu này Ngài gọi là vị đã treo lên vật gây cản trở do vô minh đó bị treo lên. Tālāvatthukatā: thực hiện giống như cây thốt nốt bị chặt đứt đầu, có nghĩa là hoặc sau khi đào cây thốt nốt cùng với rễ của nó làm giống như thân cây thốt nốt, đi đến trạng thái không còn tồn tại, giống như thân cây thốt nốt không còn xuất hiện ở nơi đó nữa.
ponobbhavikoti punabbhavadāyako. jātisaṃsārotiādīsu jāyanavasena ceva saṃsaraṇavasena ca evaṃ laddhanāmānaṃ punabbhavakhandhānaṃ paccayo kammābhisaṅkhāro. so hi punappunaṃ uppattikaraṇavasena parikkhipitvā ṭhitattā parikkhāti vuccati, tenesa tassā saṃkiṇṇattā vikiṇṇattā saṃkiṇṇaparikkhoti vutto. taṇhāti vaṭṭamūlikā taṇhā. ayañhi gambhīrānugataṭṭhena esikāti vuccati. tenesa tassā abbūḷhattā luñcitvā chaḍḍitattā abbūḷhesikoti vutto.
Khiến tái sanh trong kiếp sống mới: cho tái sanh vào kiếp sống mới. Luân chuyển của sự sanh: bao gồm sự tích lũy nghiệp làm duyên cho uẩn trong kiếp sống mới, được gọi tên như vậy với năng lực của sự sanh và với năng lực của sự luân chuyển trong các kiếp sống. Thật vậy, sự tích lũy nghiệp đó Ngài gọi là rào chắn bởi vì đã thiết lập bao vây bằng việc làm cho sự tái sanh lặp đi lặp lại, cho nên vị Tỳ khưu đó gọi là saṃkiṇṇaparikkho (người có rào chắn bị phá tan) do vô minh đó đã tiêu tan. Tham ái bao gồm tham ái có trong vòng luân hồi làm gốc. Thật vậy tham ái này Ngài gọi là cột kiên cố với ý nghĩa được chôn sâu. Vì thế, vị Tỳ khưu ấy Ngài gọi là abbūḷhesiko (người đã nhổ lên cột trụ) bởi tham ái đó vị ấy đã nhổ bỏ, đã liệng đi.
orambhāgiyānīti oraṃ bhajanakāni kāmabhave upapattipaccayāni. etāni hi kavāṭaṃ viya nagaradvāraṃ cittaṃ pidahitvā ṭhitattā aggaḷāti vuccanti. tenesa tesaṃ nirākatattā bhinnattā niraggaḷoti vutto. ariyoti nikkileso parisuddho. pannaddhajoti patitamānaddhajo. pannabhāroti khandhabhāra kilesabhārā bhisaṅkhārabhāra pañcakāmaguṇabhārā pannā orohitā assāti pannabhāro. apica idha mānabhārasseva oropitattā pannabhāroti adhippeto. visaṃyuttoti catūhi yogehi sabbakilesehi ca visaṃyutto. idha pana mānasaṃyogeneva visaṃyuttattā visaṃyuttoti adhippeto. asmimānoti rūpe asmīti māno, vedanāya… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe asmīti māno.
Hạ phần kiết sử: cho tái sanh ở chỗ thấp, làm duyên cho tái sanh trong cõi dục. Thật vậy, các kiết sử này Ngài gọi là chốt cửa bởi thiết lập đóng chặt tâm giống như đóng chặt cánh cửa ở cổng thành. Vì thế vị Tỳ khưu đó Ngài gọi là niraggaḷo (vị đã mở tung các chốt cửa) bởi các kiết sử đó vị ấy đã làm cho phá hủy. Bậc Thánh Nhân gồm bậc không còn phiền não, đã thanh tịnh. Đã hạ xuống ngọn cờ (ngã mạn): ngã mạn là ngọn cờ đã được hạ xuống. Đã đặt gánh nặng xuống: được gọi là người đã đặt gánh nặng xuống do vị Tỳ khưu đó có gánh nặng của uẩn, gánh nặng của phiền não, gánh nặng của sự tích lũy nghiệp và gánh nặng của năm loại dục đã được đặt xuống. Và hơn nữa, ở đây Ngài có ý muốn nói đến vị có gánh nặng đã được đặt xuống, do đã đặt gánh nặng chính là đặt ngã mạng xuống. Không có ách phược: không còn gắn bó với các pháp kết buộc và các phiền não. Ở đây Ngài muốn nói đến vị không còn gắn bó do xa lìa chính sợi dây trói buộc là ngã mạn. Đã đoạn trừ ngã mạn: có ngã mạn tôi có trong Sắc…trong Thọ…trong Tưởng…trong Hành…có ngã mạn tôi có trong Thức.
ettāvatā bhagavatā maggena kilese khepetvā nirodhasayanavaragatassa nibbānārammaṇaṃ phalasamāpattiṃ appetvā viharato khīṇāsavassa kālo dassito. yathā hi dve nagarāni ekaṃ coranagaraṃ, ekaṃ khemanagaraṃ. atha ekassa mahāyodhassa evaṃ bhaveyya — “yāvimaṃ coranagaraṃ tiṭṭhati, tāva khemanagaraṃ bhayato na muccati, coranagaraṃ anagaraṃ karissāmī”ti sannāhaṃ katvā khaggaṃ gahetvā coranagaraṃ upasaṅkamitvā nagaradvāre ussāpite esikatthambhe khaggena chinditvā sadvārabāhakaṃ kavāṭaṃ chinditvā palighaṃ ukkhipitvā pākāraṃ bhindanto parikkhaṃ saṃkiritvā nagarasobhanatthāya ussite dhaje pātetvā nagaraṃ agginā jhāpetvā khemanagaraṃ pavisitvā pāsādaṃ abhiruyha ñātigaṇaparivuto surasabhojanaṃ bhuñjeyya, evaṃ coranagaraṃ viya sakkāyo, khemanagaraṃ viya nibbānaṃ, mahāyodho viya yogāvacaro.
Chỉ chừng ấy lời Đức Thế Tôn đã thuyết giảng thời gian của bậc lậu tận, vị đã làm cạn kiệt phiền não bằng Thánh Đạo, vị đã đạt đến Niết bàn tối thượng, bằng sự thể nhập Thánh Quả có Niết bàn làm đối tượng. Tương tự y như hai thành phố, một thành phố của những kẻ trộm, một thành phố yên bình, khi ấy một chiến binh vĩ đại có thể nghĩ rằng: “khi nào thành phố của những tên trộm này được thành lập, thì khi ấy thành phố yên bình sẽ không được an toàn. Ta sẽ dẹp tan thành phố của những tên trộm không thể trở thành thành phố nữa.” Vì thế (vị ấy) đã mặc áo giáp, cầm gươm tiến vào thành phố của những tên cướp, rút thanh gươm chặt đứt một cây trụ gần cổng thành, phá hủy cửa cùng với các khung cửa. và tháo gỡ chốt cửa lên để phá tường, dỡ bỏ lều trại, cờ đã được giương lên vì mỹ quan thành phố, lấy lửa đốt cháy thành phố (của những tên cướp), rồi tiến vào thành phố yên bình, tiến lên lâu đài, được vay quanh bởi những thân quyến, thọ dụng vật thực có vị ngon thế nào, thì câu này cũng như vậy sắc thân giống như thành phố của những tên trộm, Niết bàn giống như thành phố yên bình, hành giả giống như một chiến binh vĩ đại.
tassevaṃ hoti, “yāva sakkāyavaṭṭaṃ vattati, tāva dvattiṃsakammakāraṇāṭṭhanavutirogapañcavīsatimahābhayehi parimuccanaṃ natthī”ti. so mahāyodho viya sannāhaṃ sīlasannāhaṃ katvā, paññākhaggaṃ gahetvā khaggena esikatthambhe viya arahattamaggena taṇhesikaṃ luñcitvā, so yodho sadvārabāhakaṃ nagarakavāṭaṃ viya pañcorambhāgiyasaṃyojanaggaḷaṃ ugghāṭetvā, so yodho palighaṃ viya, avijjāpalighaṃ ukkhipitvā, so yodho pākāraṃ bhindanto parikkhaṃ viya kammābhisaṅkhāraṃ bhindanto jātisaṃsāraparikkhaṃ saṃkiritvā, so yodho nagarasobhanatthāya ussāpite dhaje viya mānaddhaje pātetvā sakkāyanagaraṃ jhāpetvā, so yodho khemanagare uparipāsāde surasabhojanaṃ viya kilesanibbānaṃ nagaraṃ pavisitvā amatanirodhārammaṇaṃ phalasamāpattisukhaṃ anubhavamāno kālaṃ vītināmeti.
Hành giả ấy có suy nghĩ như vầy: “cho đến khi nào sự luân chuyển của sắc thân được vận hành, cho đến khi ấy sự thoát khỏi ba mươi hai loại hình phạt (kammakāraṇa), chín mươi tám loại tật bệnh, hai mươi lăm đại nạn cũng không còn tồn tại.” Hành giả giống như một chiến binh vĩ đại mặc áo giáp là áo giáp của giới, cầm thanh gươm là Trí Tuệ nắm lấy A-ra-hán Đạo chặt đứt cây trụ là tham ái tựa như cầm lấy thanh gươm chặt đứt cột trụ. Hành giả ấy nhấc chốt cửa là năm Hạ Phần Kiết Sử tựa như chiến binh nâng cửa sổ cùng với các khung cửa, nâng lên chốt cửa là Vô Minh giống như nhấc chốt cửa, vị ấy phá hủy sự tích lũy nghiệp, phá vỡ lều trại là vòng luân hồi tái sanh giống như chiến binh phá hủy bức tường phá hủy lều trại, hành giả hạ cờ xướng là ngã mạn, thiêu đốt thành phố là sắc thân giống như chiến binh hạ cờ đã được giương lên vì mỹ quan thành phố, hành giả tiến vào thành phố yên bình là phiền não Niết bàn xinh đẹp an lạc khởi lên từ sự thế nhập Thánh Quả mà có Pháp bất tử Niết bàn làm đối tượng (vị ấy) vượt qua thời gian giống như người chiến binh thọ dụng vật thực có vị ngon ở tần trên của tòa lâu đài trong thành phố yên bình.
idāni evaṃ vimuttacittassa khīṇāsavassa parehi anadhigamanīyaviññāṇataṃ dassento evaṃ vimuttacittaṃ khotiādimāha. tattha anvesanti anvesantā gavesantā. idaṃ nissitanti idaṃ nāma nissitaṃ. tathāgatassāti ettha sattopi tathāgatoti adhippeto, uttamapuggalo khīṇāsavopi. ananuvijjoti asaṃvijjamāno vā avindeyyo vā. tathāgatoti hi satte gahite asaṃvijjamānoti attho vaṭṭati, khīṇāsave gahite avindeyyoti attho vaṭṭati.
[246] bây giờ đức Thế Tôn trong khi thuyết giảng tính chất mà bậc lậu tận, vị có tâm đã giải thoát như vầy, là người có thức tánh mà người khác không thể tìm kiếm được nên Ngài đã nói rằng: “Các Tỳ khưu, Tỷ kheo đã giải thoát như vậy…”. Ở đó, tìm kiếm bao gồm nỗ lực tìm kiếm. idaṃ nissitaṃ: y cứ điều này. Thậm chí Ngài cũng có ý muốn đề cập rằng Như Lai trong từ tathāgatassa (đệ tử của Như Lai) này. Ngay cả bậc lậu tận cũng là người tối thượng. Ananuvijjo: người không có hoặc người mà người khác không thể tìm ra. Thật vậy, khi chấp rằng chúng sanh là Như Lai nên nói rằng có ý nghĩa “không tồn tại”. Khi chấp rằng bậc lậu tận, phải nói rằng “không ai có thể tìm thấy”.
tattha purimanaye ayamadhippāyo — bhikkhave, ahaṃ diṭṭheva dhamme dharamānakaṃyeva khīṇāsavaṃ tathāgato satto puggaloti na paññapemi. appaṭisandhikaṃ pana parinibbutaṃ khīṇāsavaṃ sattoti vā puggaloti vā kiṃ paññapessāmi? ananuvijjo tathāgato. na hi paramatthato satto nāma koci atthi, tassa avijjamānassa idaṃ nissitaṃ viññāṇanti anvesantāpi kiṃ adhigacchissanti? kathaṃ paṭilabhissantīti attho. dutiyanaye ayamadhippāyo — bhikkhave, ahaṃ diṭṭheva dhamme dharamānakaṃyeva khīṇāsavaṃ viññāṇavasena indādīhi avindiyaṃ vadāmi. na hi saindā devā sabrahmakā sapajāpatikā anvesantāpi khīṇāsavassa vipassanācittaṃ vā maggacittaṃ vā phalacittaṃ vā, idaṃ nāma ārammaṇaṃ nissāya vattatīti jānituṃ sakkonti. te appaṭisandhikassa parinibbutassa kiṃ jānissantīti?
Trong hai cách đó, cách thứ nhất được giải thích như sau: Này các Tỳ khưu, dầu bậc lậu tận vẫn duy trì mạng sống ngay trong hiện tại Ta cũng không tuyên bố rằng Như Lai, chúng sanh, hạng người (mà) ta sẽ tuyên bố bậc lậu tận vị đã tịch diệt Niết bàn không còn tái sanh, chúng sanh hay con người đạt được như thế nào. Tức là Như Lai không tồn tại, thật vậy nói theo Chân Nghĩa Pháp thì không có ai gọi là chúng sanh, khi chúng sanh không có chư Thiên nỗ lực tìm kiếm thức nương vào cái gì? sẽ cảm nghiệm như thế nào (tức là) sẽ gặp được như thế nào? Trong cách thứ hai giải thích như vậy “này chư Tỳ khưu, Ta nói rằng bậc lậu tận vị vẫn duy trì mạng sống chỉ trong kiếp hiện tại, mà chư Thiên có Vua Trời Đế Thích v.v, tìm không được bằng tâm thức. Bởi vậy chư Thiên cùng với Vua Trời Đế Thích, Sanh Chủ dù nỗ lực tìm kiếm cũng không thể nhận biết tâm Minh Sát, tâm Đạo hoặc Tâm Quả của bậc lậu tận rằng nương đối tượng này được vận hành, chư Thiên đó sẽ nhận biết điều gì của bậc lậu tận vị đã tịch diệt Niết bàn không còn tục sanh.
asatāti asantena. tucchāti tucchakena. musāti musāvādena. abhūtenāti yaṃ natthi, tena. abbhācikkhantīti abhiācikkhanti, abhibhavitvā vadanti. venayikoti vinayati vināsetīti vinayo, so eva venayiko, sattavināsakoti adhippāyo. yathā cāhaṃ na, bhikkhaveti, bhikkhave, yena vākārena ahaṃ na sattavināsako. yathā cāhaṃ na vadāmīti yena vā kāraṇena ahaṃ sattavināsaṃ na paññapemi. idaṃ vuttaṃ hoti — yathāhaṃ na sattavināsako, yathā ca na sattavināsaṃ paññapemi, tathā maṃ te bhonto samaṇabrāhmaṇā “venayiko samaṇo gotamo”ti vadantā sattavināsako samaṇo gotamoti ca, “sato sattassa ucchedaṃ vināsaṃ vibhavaṃ paññapetī”ti vadantā sattavināsaṃ paññapetīti ca asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhantīti.
Asata: không tồn tại.Tucchā: trống không. musā: vơi lời nói dối, không thật. abhūtena: với chuyện không có. Abbhācikkhanti: hư vọng, nói sai sự thật. Người làm cho chúng sanh hủy diệt: gọi là vinaya do diệt tận, khiến cho tan rã, vinaya ấy gọi là venayaka dịch là người làm cho chúng sanh hủy diệt. Ta không làm cho chúng sanh hủy diệt như thế: các Tỳ khưu Ta không phải làm chúng sanh khiện họ hủy diệt như thế. Dầu cho Ta không làm chúng sanh hủy diệt: hoặc Ta không tuyên bố chúng sanh bị hủy diệt như thế. Ngài giải thích rằng Ta không làm chúng sanh hủy diệt bằng cách nào và không tuyên bố việc làm cho chúng sanh hủy diệt bằng cách nào? Sa-môn Bà-la-môn buộc tội ta rằng Sa-môn Gotama làm cho chúng sanh hủy diệt, rằng Ta tuyên bố sự trống rỗng, sự hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình, và cả nói sai sự thật bằng những chuyện không có, rỗng tuếch, nói dối và không đúng sự thật, Như Lai tuyên bố sự hủy diệt của chúng sanh.
pubbe cāti pubbe mahābodhimaṇḍamhiyeva ca. etarahi cāti etarahi dhammadesanāyañca. dukkhañceva paññapemi, dukkhassa ca nirodhanti dhammacakkaṃ appavattetvā bodhimaṇḍe viharantopi dhammacakkappavattanato paṭṭhāya dhammaṃ desentopi catusaccameva paññapemīti attho. ettha hi dukkhaggahaṇena tassa mūlabhūto samudayo, nirodhaggahaṇena taṃsampāpako maggo gahitova hotīti veditabbo. tatra ceti tasmiṃ catusaccappakāsane. pareti saccāni ājānituṃ paṭivijjhituṃ asamatthapuggalā. akkosantīti dasahi akkosavatthūhi akkosanti. paribhāsantīti vācāya paribhāsanti. rosenti vihesentīti rosessāma vihesessāmāti adhippāyena ghaṭṭenti dukkhāpenti. tatrāti tesu akkosādīsu, tesu vā parapuggalesu. āghātoti kopo. appaccayoti domanassaṃ. anabhiraddhīti atuṭṭhi.
Cả trong thời quá khứ (pubbe ca): thời gian trước khi Ngài giác ngộ dưới cội Đại thọ Bồ-đề. Cả thời nay (etarahi ca): ngay lúc này, là trong lúc thuyết giảng Giáo Pháp. Ta tuyên bố (giảng dạy) Khổ và sự Diệt Khổ (dukkhañceva paññapemi, dukkhassa ca nirodhaṃ): Như Lai an trú ở cội Bồ-đề vẫn không tuyên thuyết chuyển vận bánh xe Pháp, hay thuyết giảng pháp kể từ lúc tuyên thuyết chuyển vận bánh xe Pháp, hay chỉ tuyên thuyết Tứ Thánh Đế. Thật vậy, trong Tứ Thánh Đế đó Tập khởi là bản thể gốc của Khổ đó, nên hiểu rằng việc nắm lấy với từ Khổ; còn Đạo để đạt đến Diệt đó, nên biết rằng nắm lấy với từ Diệt. Tatra ce: trong việc tuyên thuyết Tứ Thánh Đế đó. Những người khác bao gồm những hạng người không thể thấu triệt các Chân Lý. Akkosanti bao gồm mắng nhiếc bằng mười cách mạ lỵ (akkosavatthu). Paribhāsanti: phỉ báng bằng lời. Làm cho phẫn nộ, gây phiền nhiễu bao gồm mong rằng ta sẽ giận dữ, sẽ phiền nhiễu. Va chạm: cho cảm nghiệm khổ đau. Tatra: trong việc mắng nhiếc đó v.v, hoặc ở những người khác ấy. Không có sự hiềm khích: sự sân hận. Không buồn rầu: gồm sự đau lòng. Không có sự bất mãn: sự không hoan hỷ.
tatra ceti catusaccappakāsaneyeva. pareti catusaccappakāsanaṃ ājānituṃ paṭivijjhituṃ samatthapuggalā. ānandoti ānandapīti. uppilāvitattanti uppilāpanapīti. tatra ceti catusaccappakāsanamhiyeva. tatrāti sakkārādīsu. yaṃ kho idaṃ pubbe pariññātanti idaṃ khandhapañcakaṃ pubbe bodhimaṇḍe tīhi pariññāhi pariññātaṃ. tatthameti tasmiṃ khandhapañcake ime. kiṃ vuttaṃ hoti? tatrāpi tathāgatassa ime sakkārā mayi karīyantīti vā ahaṃ ete anubhavāmīti vā na hoti. pubbe pariññātakkhandhapañcakaṃyeva ete sakkāre anubhotīti ettakameva hotīti. tasmāti yasmā saccāni paṭivijjhituṃ asamatthā tathāgatampi akkosanti, tasmā. sesaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ.
tatra ce: gồm việc tuyên thuyết Tứ Thánh Đế đó. Những người đó bao gồm những người biết rõ thấu triệt việc tuyên thuyết Tứ Thánh Đế. Sự hoan hỷ: say xưa với sự hoan hỷ. Uppilāvitattaṃ: say mê nhờ vào năng lực sự thỏa thích. tatra ce lời tuyên bố về Tứ Thánh Đế. Tatrā: trong sự cung kính v.v. Ta đã từng biết rõ điều này trước kia: ngũ uẩn nào đức Thế Tôn đã biết rõ toàn diện với ba sự rõ biết tại cội Bồ-đề đạo trong quá khứ. Tatthame đồng nghĩa tasmiṃ khandhapañcake ime [sự cung kính này mà họ đã làm (đối với tôi) trong năm uẩn đó]. Ngài giải thích thế nào? Ngài giải thích rằng: “Nghĩ rằng sự cung kính này sẽ có trong Ta hoặc Ta sẽ thọ nhận sự cung kính này, không có đối với Như Lai trong ngũ uẩn đó và có sự tư duy chỉ có chừng ấy rằng: Như Lai thọ nhận sự cung kính của ngũ uẩn đã từng biết rõ điều này từ trước, và ngũ uẩn được thọ nhận sự cung kính này. Tasmā: bởi vì Sa-môn Bà-la-môn khác, người không có khả năng thấu triệt các Chân Lý mới mắng nhiếc Như Lai như thế. Các từ còn lại nên biết theo cách thức đã nói trước đó.
tasmā tiha, bhikkhave, yaṃ na tumhākanti yasmā attaniyepi chandarāgappahānaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya saṃvattati, tasmā yaṃ na tumhākaṃ, taṃ pajahathāti attho. yathāpaccayaṃ vā kareyyāti yathā yathā iccheyya tathā tathā kareyya. na hi no etaṃ, bhante, attā vāti, bhante, etaṃ tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ amhākaṃ neva attā na amhākaṃ rūpaṃ na viññāṇanti vadanti. attaniyaṃ vāti amhākaṃ cīvarādiparikkhāropi na hotīti attho. evameva kho, bhikkhave, yaṃ na tumhākaṃ taṃ pajahathāti bhagavā, khandhapañcakaṃyeva na tumhākanti dassetvā pajahāpeti, tañca kho na uppāṭetvā, luñcitvā vā. chandarāgavinayena panetaṃ pajahāpeti.
[247] Vì thế, này các Tỳ khưu cái nào không phải của các ông? Sự dứt bỏ mong muốn và ái luyến, cả những thứ không liên quan với bản thân, được vận hành vì lợi ích, vì sự an lạc lâu dài, bởi thế các ông hãy dứt bỏ những cái đó. Hãy thực hành theo sự ước muốn: họ muốn làm như thế nào thì hãy làm theo như thế đó. Thưa Ngài bởi vì cái đó không phải là tự ngã (na hi no etaṃ, bhante, attā vā): các Tỳ khưu đáp rằng, thưa Ngài (bởi vì) cái đó là cỏ, cây, cành cây, và lá cây không phải là của ta, không phải Sắc của ta, không phải Thức của ta. Hoặc những thứ liên quan đến tự ngã (attaniyaṃ vā): Cả những vật dụng phụ từng như y phục v.v, cũng không phải của ta. Như vậy, này các Tỳ khưu, những cái nào không phải của các ông, các ông hãy dứt bỏ những thứ đó (evameva kho, bhikkhave, yaṃ na tumhākaṃ taṃ pajahathā): Đức Thế Tôn đã thuyết giảng ngũ uẩn đó không phải của các ông, hãy dứt bỏ chúng, những không phải bứng gốc hay chặt đứt ngũ uẩn, mà từ bỏ nó bằng sự loại bỏ mong muốn và ái luyến.
Pháp mà Ta đã khéo thuyết như vậy: ở đây mặc dầu mang lại đầy đủ Tam Luân tính từ lúc chỉ có sự yêu mến nơi đức Phật đi đến tái sanh trong cõi trời đã được trù định trước rồi quay trở lại vị trí này (trở thành vị A-ra-hán). Đã khéo thuyết:
evaṃ svākkhātoti ettha tiparivaṭṭato paṭṭhāya yāva imaṃ ṭhānaṃ āharitumpi vaṭṭati, paṭilomena pemamattakena saggaparāyaṇato paṭṭhāya yāva imaṃ ṭhānaṃ āharitumpi vaṭṭati. svākkhātoti sukathito. sukathitattā eva uttāno vivaṭo pakāsito. chinnapilotikoti pilotikā vuccati chinnaṃ bhinnaṃ tattha tattha sibbitaṃ gaṇṭhikataṃ jiṇṇaṃ vatthaṃ, taṃ yassa natthi, aṭṭhahatthaṃ vā navahatthaṃ vā ahatasāṭakaṃ nivattho, so chinnapilotiko nāma. ayampi dhammo tādiso, na hettha kohaññādivasena chinnabhinnasibbitagaṇṭhikatabhāvo atthi. apica kacavaro pilotikoti vuccati. imasmiñca sāsane samaṇakacavaraṃ nāma patiṭṭhātuṃ na labhati. tenevāha —
[248] Pháp mà Ta đã khéo thuyết như vậy: ở đây mặc dầu mang lại đầy đủ Tam Luân tính từ lúc chỉ có sự yêu mến nơi đức Phật đi đến tái sanh trong cõi trời đã được trù định trước rồi quay trở lại vị trí này (trở thành vị A-ra-hán). Đã khéo thuyết: đã thuyết khéo léo, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị bởi vì là Pháp đã được khéo thuyết. Tấm vải sứt chỉ, tấm vải rách đã được vị ấy khâu lại làm nút thắt đặt ở nơi đó đó, tấm vải sờn màu Ngài gọi đó là tấm vải cũ trong câu đã cắt những tấm vải rách vải cũ. Vị nào không có vải cũ đó, vị đó mặc với vải mới tám hắt tay, hay chín hắt tay, gọi là người thiếu vải cũ. Ngay cả pháp này cũng như vậy, trong từ này không có tính chất (bhāva), như vải rách, bị sứt chỉ đã được khâu lại thắt nút bằng việc đánh lừa. Hơn nữa, đồ bỏ đi cũng gọi là đồ cũ. Sa-môn cặn bã (giả mạo) không thể sống trong Tôn Giáo này. Vì thế Ngài đã nói:
“kāraṇḍavaṃ niddhamatha, kasambuñcāpakassatha.
tato palāpe vāhetha, assamaṇe samaṇamānine.
niddhamitvāna pāpicche, pāpā acāragocare.
suddhā suddhehi saṃvāsaṃ, kappayavho patissatā.
tato samaggā nipakā, dukkhassantaṃ karissathā”ti. (su. ni. 283-285).
Các ông hãy tống đi (Sa-môn) cặn bã, và hãy lùa bỏ (Sa-môn) rác rưởi. Sau đó, các ngươi hãy loại bỏ các (Sa-môn) cặn bã, những kẻ không phải Sa-môn nhưng lại nghĩ bản thân là Sa-môn mất danh tiếng của Tôn Giáo đó,
Sau khi tống đi những kẻ có ước muốn ác xấu, có hành vi và nơi lai vãng xấu xa. Hãy là những người trong sạch sống cộng trú với những vị trong sạch, có niệm ghi nhớ tu tập trước mặt. Từ đó, có sự hợp nhất, có trí tuệ hộ trì bản thân, các ngươi sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.
iti samaṇakacavarassa chinnattāpi ayaṃ dhammo chinnapilotiko nāma hoti. vaṭṭaṃ tesaṃ natthi paññāpanāyāti tesaṃ vaṭṭaṃ apaññattibhāvaṃ gataṃ nippaññattikaṃ jātaṃ. evarūpo mahākhīṇāsavo evaṃ svākkhāte sāsaneyeva uppajjati. yathā ca khīṇāsavo, evaṃ anāgāmiādayopi.
Pháp này được gọi là cắt dứt vải rách vải cũ, do đã tống đi những Sa-môn cặn bã ra khỏi (Giáo Pháp này) bằng cách này. Vòng luân chuyển tái sanh của những vị này không thể chỉ bày: Vòng luân chuyển của các vị Tỳ khưu đó đạt đến bản thể không có paññatti, tìm kiếm paññatti không được. Bậc đại lậu tận thấy bằng hình thức như vậy phát sanh chính trong Tôn Giáo mà đã được đức Thế Tôn khéo thuyết như vậy, bậc lậu tận trở thành thế nào thì bậc Thánh Nhân như vị Thánh Bất Lai v.v, cũng trở thành như thế đó.
tattha dhammānusārino saddhānusārinoti ime dve sotāpattimaggaṭṭhā honti. yathāha — “katamo ca puggalo dhammānusārī? yassa puggalassa sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipannassa paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti, paññāvāhiṃ paññāpubbaṅgamaṃ ariyamaggaṃ bhāveti. ayaṃ vuccati puggalo dhammānusārī. sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno puggalo dhammānusārī, phale ṭhito diṭṭhippatto.
Trong số các bậc Thánh Nhân đó thì hai bậc Thánh Nhân là bậc tùy pháp hành (dhammānusārī) và bậc tùy tín hành (saddhānusārī) là vị đã được vững trú trong Nhập Lưu Thánh Đạo. Tương tự như Ngài đã nói rằng: Bậc tùy pháp hành như thế nào? Tuệ quyền của hạng người nào vị thực hành nhằm mục dịch làm tỏ ngộ Nhập Lưu Thánh Quả vượt trội vị ấy tu tập Thánh Đạo có trí tuệ làm phương tiện dẫn dắt, có trí tuệ làm trưởng, ngài gọi là bậc tùy pháp hành. Hạng người thực hành nhằm mục đích tỏ ngộ Nhập Lưu Thánh Quả là bậc tùy pháp hành, vị đã vững trú trong Thánh Quả gọi là bậc kiến đắc (diṭṭhippatta).
katamo ca puggalo saddhānusārī? yassa puggalassa sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipannassa saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti, saddhāvāhiṃ saddhāpubbaṅgamaṃ ariyamaggaṃ bhāveti. ayaṃ vuccati puggalo saddhānusārī. sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno puggalo saddhānusārī, phale ṭhito saddhāvimutto”ti (pu. pa. 30). yesaṃ mayi saddhāmattaṃ pemamattanti iminā yesaṃ añño ariyadhammo natthi, tathāgate pana saddhāmattaṃ pemamattameva hoti. te vipassakapuggalā adhippetā. vipassakabhikkhūnañhi evaṃ vipassanaṃ paṭṭhapetvā nisinnānaṃ dasabale ekā saddhā ekaṃ pemaṃ uppajjati. tāya saddhāya tena pemena hatthe gahetvā sagge ṭhapitā viya honti, niyatagatikā kira ete. porāṇakattherā pana evarūpaṃ bhikkhuṃ cūḷasotāpannoti vadanti. sesaṃ sabbattha uttānatthamevāti.
Bậc tùy tín hành như thế nào? Tín quyền của hạng người nào vị thực hành nhằm mục đích tỏ ngộ Nhập Lưu Thánh Quả vượt trội, vị ấy tu tập Thánh Đạo có tín là pháp dẫn dắt, có tín làm trưởng, hạng người này Ngài gọi là bậc tùy tín hành. Hạng người thực hành nhằm mục đích làm tỏ ngộ Nhập Lưu Thánh Quả là bậc tùy tín hành, vị vững trú trong trong Thánh Quả, vị hướng đến với đức tin. (pu. pa. 30). Hạng người nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta (yesaṃ mayi saddhāmattaṃ pemamattaṃ): Ngài có ý muốn đề cập hạng người tu tập Minh Sát mà không có Thánh Pháp mà chỉ có đức tin, chỉ có lòng thương mến đối với Như Lai. Thật vậy, chư Tỳ khưu ngồi đã bắt đầu ngồi (thực hành) Minh Sát phát sanh một loại đức tin, một loại lòng thương yêu đối với đấng Thập Lực, các ông cũng giống tương tự lòng tin đó, lòng thương yêu đó, nắm lấy tay đặt ở cõi trời. Bằng hình thức như vậy các Tỳ khưu đó chắc chắn có cảnh giới tái sanh an vui. Các vị tỳ khưu trưởng lão gọi các Tỳ khưu đó là vị Thánh Tiểu Nhập Lưu. Các từ còn lại đều đơn giản.
Giải Thích Kinh Ví Dụ Con Rắn Kết Thúc.