Translations [33]
English
- Bhikkhu Bodhi
- Bhikkhu Sujato
- Bhikkhuni Upalavanna
- I.B. Horner
- Suddhāso Bhikkhu
繁體字
- 莊春江
日本語
- 関西パーリ語実習会
한국어
- 케마짜라 빅쿠 한글 번
Français
- Christian Maës
- Môhan Wijayaratna
Deutsch
- Mettiko Bhikkhu
- Sabbamitta
Italiano
- De Lorenzo, Pier Antonio Morniroli, Enrico Federici
- Giovanni Zappa (2025)
Español
- Federico Angulo
Português
- Michael Beisert
Русский
- SV theravada.ru
- баян купи-ка
Norsk
- Kåre A. Lie
Magyar
- Vekerdi József
Srpski
- Branislav Kovačević
Čeština
- Štěpán Chromovský
Slovenščina
- Bojan Božič
Lietuvių Kalba
- Sayalay Piyadassi
हिंदी
- Rahul Sankrityayan
ಕನ್ನಡ
- Dr. B. V. Rajaram (2012)
বাংলা
- ড. বেণীমাধব বড়ুয়া
Việt Ngữ
- Thích Minh Châu
Bahasa Indonesia
- Indra Anggara
සිංහල
- A.P. de Zoysa
ပြန်သွားရန်
- Pitaka Myanmar Translation
ภาษาไทย
- Siam Rath
पाळिभासा (Pāli)
- Mahāsaṅgīti Tipiṭaka
Reference
- Sutta Central
Commentaries [5]
English
Việt Ngữ
I. TOÁT YẾU
Mahàsàropama, cùlasàropama Sutta - the greater and shorter discourse on the simile of the heartwood.
These two discourses emphasize that the proper goal of the holy life is the unshakable deliverance of the mind, to which all other benefits are subsidiary.
Cả hai kinh này nhấn mạnh rằng mục đích chính của đời sống phạm hạnh là tâm giải thoát bất động, đối với mục đích này thì tất cả những lợi lạc khác chỉ là cặn bã.
II. TÓM TẮT
Hai bản kinh cùng có nội dung như sau. Người ta có thể vì thấy khổ sinh tử nên phát tâm xuất gia tìm cách chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này, như người vào rừng tìm lõi cây. Nhưng có người, sau khi xuất gia, vì danh dự lợi dưỡng và sự tôn kính của người đời, đâm ra tự mãn, tham đắm, tự cho đã đạt mục đích. Người này ví như kẻ thay vì tìm lõi cây, lại đem về cành lá.
Có người xuất gia dù được danh dự lợi dưỡng cung kính cũng không phóng dật, sống có giới hạnh. Do thành tựu giới đức, vị ấy khen mình chê người, trở nên phóng dật: như người tìm lõi cây mà chỉ đem về vỏ ngoài.
Hạng thứ ba là người sau khi thành tựu giới, tập thiền định, do thành tựu thiền định, đâm ra tự mãn, khen mình chê người, trở nên phóng dật. Vị này giống như người đi rừng cốt lấy lõi cây nhưng chỉ đem về vỏ trong.
Hạng thứ tư không vì thành tựu thiền định mà phóng dật, nên có được tri kiến, và do tri kiến nên khen mình chê người: hạng này như người đi rừng chỉ đem về giác cây.
Hạng thứ năm nhờ có tri kiến nhưng không phóng dật, mà thành tựu giải thoát tạm thời và giải thoát vĩnh viễn. Tâm giải thoát bất động này chính là lõi cây, là mục tiêu của đời sống phạm hạnh.
III. CHÚ GIẢI
Tri kiến theo Luận giải là thiên nhãn, khả năng thấy được những sắc vi tế mà mắt thường không thể trông thấy.
"Thành tựu thiền định" là điều kiện để đạt tri kiến; tri kiến là căn bản để đắc 4 thiền 4 định và chứng diệt thọ tưởng -- gọi là thời giải thoát, và lậu tận, gọi là phi thời giải thoát.
Thời giải thoát, samayavimokkha: Giải thoát tạm thời, là bốn thiền, bốn định vô sắc và diệt định.
Phi thời giải thoát, asamayavimokkha, là bốn đạo bốn quả và niết bàn.
Tâm giải thoát bất động là quả vị A la hán. Như vậy, "phi thời giải thoát" có nghĩa rộng hơn là tâm "giải thoát bất động", được xem là mục đích duy nhất của đời sống phạm hạnh.
IV. PHÁP SỐ
Bốn thiền, Bốn định.
V. KỆ TỤNG