Translations [28]
English
- Bhikkhu Sujato
- Bhikkhuni Upalavanna
- I.B. Horner (1954–9)
繁體字
- 莊春江
日本語
- 関西パーリ語実習会 (2023)
Français
- Christian Maës
- Môhan Wijayaratna (2010)
Deutsch
- Mettiko Bhikkhu (2001)
- Sabbamitta (2019)
Italiano
- De Lorenzo, Pier Antonio Morniroli, Enrico Federici (2007)
- Giovanni Zappa (2025)
Español
- Anton P. Baron
Português
- Michael Beisert (2008)
Русский
- SV theravada.ru (2023)
Norsk
- Kåre A. Lie (2013)
Magyar
- Vekerdi József (1989)
Srpski
- Branislav Kovačević (2014)
Čeština
- Bhikkhu Gavésakó, Štěpán Chromovský
Slovenščina
- Bojan Božič (2023)
हिंदी
- Rahul Sankrityayan (1933)
ಕನ್ನಡ
- Dr. B. V. Rajaram (2012)
বাংলা
- ড. বেণীমাধব বড়ুয়া
Việt Ngữ
- Thích Minh Châu
Bahasa Indonesia
- Indra Anggara
සිංහල
- A.P. de Zoysa
ပြန်သွားရန်
- Pitaka Myanmar Translation
ภาษาไทย
- Siam Rath
पाळिभासा (Pāli)
- Mahāsaṅgīti Tipiṭaka
Reference
- Sutta Central
Commentaries [4]
English
Việt Ngữ
I. TOÁT YẾU
Cùla-assapura Sutta - The shorter discourse at assapura.
The Buddha explains "the way proper to the recluse" to be not the mere outward practice of austerities but the inward purification from defilements.
Bài pháp ngắn giảng tại xóm ngựa.
Phật giải thích "con đường chân chính của sa môn" để ám chỉ không những chỉ có khổ hạnh bề ngoài, mà còn sự tịnh hóa những ô nhiễm nội tâm.
II. TÓM TẮT
Sa môn hạnh không chỉ tùy thuộc vào việc mang y ca sa hoại sắc, hay thực hành các loại khổ hạnh, mà tùy thuộc vào việc đoạn trừ các ô nhiễm: tham dục, sân hận, phẫn nộ, thù hằn, giả dối, não hại, tật đố, xan lẫn, man trá, xảo quyệt, ái dục, tà kiến. Khi tự ngã đã diệt hết những ô nhiễm không xứng sa môn hạnh, vị ấy được giải thoát, từ đấy tuần tự phát sinh theo nhân quả, các tịnh pháp như sau: hân hoan, hỷ, [thân] khinh an, lạc, định. Với tâm định tĩnh, vị ấy biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy các phương khác. Nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy tự mình chứng tri ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thành bậc sa môn chân chính.
III. CHÚ GIẢI
Kinh trước nói về sa môn pháp hay các pháp tác thành bậc sa môn; kinh này nói về tư cách sa môn. Mười pháp trước trong 12 "cấu uế của sa môn" cũng được nói trong "16 ấu uế của tâm" ở kinh số 7.
IV. PHÁP SỐ
Bốn phạm trú hay bốn vô lượng, năm triền cái.
V. KỆ TỤNG