Loading

Commentaries [5]

No

Pāḷi

Việt

1

89. evaṃ me sutanti sammādiṭṭhisuttaṃ.

0

2

tattha “sammādiṭṭhi sammādiṭṭhīti,

āvuso, vuccati, kittāvatā nu kho,

āvuso”ti vā “katamaṃ panāvuso,

akusalan”ti vā evaṃ yattakā therena pucchā vuttā, sabbā kathetukamyatā pucchā eva.

Ở đoạn kinh đó, câu kinh ‘Này các ông, ‘Người có Chánh Kiến, người có Chánh Kiến’ được nói; này các ông, trong chừng mực nào?’ hay câu kinh ‘Vậy này các ông, cái gì là bất thiện?’; bất kỳ câu hỏi nào được nói bởi vị Trưởng lão (Sāriputta) như vậy, thì toàn bộ các câu hỏi ấy là nhằm để (Trưởng lão) phát biểu(i).

—–

(i) Ngài Sāriputta đặt câu hỏi không phải để nghe câu trả lời mà để Ngài có cơ hội phát biểu.

3

tattha yasmā jānantāpi sammādiṭṭhīti vadanti ajānantāpi bāhirakāpi

sāsanikāpi anussavādivasenāpi

attapaccakkhenāpi, tasmā taṃ

bahūnaṃ vacanaṃ upādāya

dvikkhattuṃ āmasanto “sammādiṭṭhi sammādiṭṭhīti, āvuso, vuccatī”ti āha.

Trong chủ đề đó; bởi vì những người biết lẫn những người không biết – dù thuộc ngoại đạo hay bổn đạo(i) – đều nói ‘người có Chánh Kiến’ do ảnh hưởng từ truyền thống vân vân cũng như do tự chứng; do đó, sau khi tiếp nhận lời nói đó của nhiều người, Ngài (Sāriputta) đã nói bằng cách nhấn 2 lần ‘Này các ông, ‘Người có Chánh Kiến, người có Chánh Kiến’ được nói.’ 

—–

(i) [Bổn đạo] tức thuộc đạo Phật.

4

ayañhi ettha adhippāyo, aparehipi

sammādiṭṭhīti vuccati, athāparehipi

sammādiṭṭhīti vuccati, svāyaṃ evaṃ vuccamāno atthañca lakkhaṇañca

upādāya kittāvatā nu kho, āvuso,

ariyasāvako sammādiṭṭhi hotīti.

Ở điểm này, quả thật đây là ý định (của lời nói Ngài Sāriputta): ‘Người có Chánh Kiến’ được nói bởi những người này; ‘Người có Chánh Kiến’ cũng được nói bởi những người kia; chính lời nói đó trong khi được nói như vậy, thì có phạm vi ra sao về mặt ý nghĩa và đặc điểm? Và này các ông, trong chừng mực nào vị thánh đệ tử là người có Chánh Kiến?  

5

tattha sammādiṭṭhīti sobhanāya

pasatthāya ca diṭṭhiyā samannāgato. yadā pana dhammeyeva ayaṃ

sammādiṭṭhisaddo vattati, tadāssa

sobhanā pasatthā ca diṭṭhi

sammādiṭṭhīti evamattho veditabbo.

Ở câu kinh đó, ‘Người có Chánh Kiến’ là người có Kiến trong sáng và được tán dương. Và khi nào tiếng nói ‘người có Chánh Kiến’ ấy xuất hiện ngay trong Pháp; thì khi ấy, ‘Chánh Kiến’ là Kiến trong sáng và được tán dương; ý nghĩa (của cụm từ đó) nên được hiểu như vậy.

6

sā cāyaṃ sammādiṭṭhi duvidhā hoti

lokiyā lokuttarāti. tattha

kammassakatāñāṇaṃ

saccānulomikañāṇañca lokiyā

sammādiṭṭhi, saṅkhepato vā

sabbāpi sāsavā paññā.

Chính Chánh Kiến ấy thì có 2 loại: Hiệp Thế, Siêu Thế. Trong chủ đề này, Trí về bản chất của Nghiệp và Trí phù hợp với Chân Lý là Hiệp Thế Chánh Kiến; hay tóm lại, tất cả Hữu Lậu Tuệ (là Hiệp Thế Chánh Kiến).

7

ariyamaggaphalasampayuttā paññā

lokuttarā sammādiṭṭhi. puggalo

pana tividho hoti puthujjano sekkho asekkho ca. tattha puthujjano duvidho hoti

bāhirako sāsaniko ca.

Tuệ hiệp hành với Thánh Đạo, Thánh Quả là Siêu Thế Chánh Kiến. Còn con người cũng có 3 hạng: thường nhân, hữu học và vô học. Trong chủ đề này, thường nhân có 2 hạng: ngoại đạo và bổn đạo.

8

tattha bāhirako kammavādī

kammassakatādiṭṭhiyā sammādiṭṭhi hoti, no saccānulomikāya

attadiṭṭhiparāmāsakattā.

Trong chủ đề này, người chủ trương Nghiệp thuộc ngoại đạo là người có Chánh Kiến theo dạng Kiến về bản chất của Nghiệp, không phải theo dạng Kiến phù hợp với Chân Lý do trạng thái tự mình chứng thấy. 

9

sāsaniko dvīhipi. sekkho niyatāya

sammādiṭṭhiyā sammādiṭṭhi.

asekkho asekkhāya.

Người thuộc bổn đạo có 2 hạng. Bậc hữu học là người có Chánh Kiến theo dạng Chánh Kiến chắc chắn. Bậc vô học là người có Chánh Kiến theo dạng vô học Chánh Kiến.

10

idha pana niyatāya niyyānikāya

lokuttarakusalasammādiṭṭhiyā

samannāgato “sammādiṭṭhī”ti

adhippeto.

Và ở đây, người có Chánh Kiến về cái thiện và cái siêu thế một cách chắc chắn, dẫn đến giải thoát thì được hiểu là ‘người có Chánh Kiến’.

11

tenevāha “ujugatāssa diṭṭhi dhamme aveccappasādena samannāgato

āgato imaṃ saddhamman”ti,

lokuttarakusalasammādiṭṭhiyeva hi

antadvayamanupagamma

ujubhāvena gatattā, kāyavaṅkādīni

ca sabbavaṅkāni samucchinditvā

gatattā ujugatā hoti, tāyeva ca

diṭṭhiyā samannāgato navappakārepi lokuttaradhamme

aveccappasādena acalappasādena

samannāgato hoti,

Chính bởi vậy, Đức Phật đã nói: ‘Người có Đức Tin không dao động trong Pháp, đã đến Chánh Pháp này là người có Kiến ngay thẳng.’; bởi vì chính người có Chánh Kiến về cái thiện và cái siêu thế không đi theo 2 cực đoan rồi có sự đi(i) bằng trạng thái ngay thẳng; và sau khi bứng lên hoàn toàn mọi cái cong vạy(ii) gồm những cái cong vạy về thân vân vân, người ấy có trạng thái đi một cách ngay thẳng; chính người có Kiến đó là người có Đức Tin không dao động, có Đức Tin không lay động trong Siêu Thế Pháp thể theo 9 loại.  

—–

(i) [Đi] có thể hiểu là [sống]; cách đi là cách sống, sinh hoạt… ở đời.

(ii) [Cong vạy] ám chỉ đến bất thiện, phiền não…

12

sabbadiṭṭhigahanāni ca

vinibbeṭhento sabbakilese pajahanto jātisaṃsārā nikkhamanto

paṭipattiṃ pariniṭṭhapento ariyena

maggena āgato imaṃ

sambuddhappaveditaṃ

amatogadhaṃ nibbānasaṅkhātaṃ

saddhammanti vuccati.

Để giải tan mọi Kiến Lâm(i), từ bỏ mọi phiền não, ra khỏi Sinh Luân(ii), hoàn thành sự thực hành bằng Thánh Đạo, người ấy đã đến Chánh Pháp này, được tuyên bố bởi bậc Toàn Giác, chìm vào trạng thái bất tử – tức tên gọi cho Niết Bàn; điều đó được nói như vậy.

—–

(i) [Kiến Lâm] tức khu rừng các Tà Kiến.

(ii) [Sinh Luân – jātisaṃsāra] tức vòng luân hồi sinh tử.

13

 yato khoti

kālaparicchedavacanametaṃ,

yasmiṃ kāleti vuttaṃ hoti.

[Khi], đây là một từ chỉ đến sự phân chia thời gian, tức vào thời điểm đó; điều đó được nói như vậy.

14

akusalañca pajānātīti

dasākusalakammapathasaṅkhātaṃ

akusalañca pajānāti,

nirodhārammaṇāya pajānanāya

kiccavasena “idaṃ dukkhan”ti

paṭivijjhanto akusalaṃ pajānāti.

[Vị ấy rõ biết cái Bất Thiện], vị ấy rõ biết cái Bất Thiện – là tên gọi của 10 con đường Bất Thiện Nghiệp; vị ấy rõ biết cái Bất Thiện do vị ấy thấu đạt rằng ‘Cái này là Khổ.’ do sức mạnh của phận sự thuộc về Tri Năng(i) có đối tượng là sự Diệt.

—–

(i) [Tri Năng – Pajānanā] xuất phát từ động từ [Pajānāti – rõ biết]; theo từ điển Pāḷi Text Society, từ này trong văn học luận giải tương đương với [Trí Tuệ – Paññā]. 

15

akusalamūlañca pajānātīti tassa

mūlapaccayabhūtaṃ

akusalamūlañca pajānāti, teneva

pakārena “ayaṃ dukkhasamudayo”ti paṭivijjhanto.

[Vị ấy rõ biết Bất Thiện Căn], vị ấy rõ biết Bất Thiện Căn bao gồm Căn và Duyên do vị ấy thấu đạt bằng chính lối ấy rằng ‘Cái này là Nguồn Gốc của Khổ.’

16

esa nayo kusalañca kusalamūlañcāti etthāpi. yathā cettha, evaṃ ito

paresu sabbavāresu kiccavaseneva

vatthupajānanā veditabbā.

Và đó là phương pháp (luận giải) đối với cụm từ ‘Cái Bất Thiện, Bất Thiện Căn’ ở đây. Cũng giống như ở đây, như vậy ở mọi chỗ khác kể từ đây, Tri Năng nền tảng nên được hiểu theo sức mạnh của phận sự.

17

ettāvatāpīti ettakena iminā

akusalādippajānanenāpi.

[Và trong chừng mực ấy], và bằng sự rõ biết Bất Thiện vân vân như thế ấy.

18

sammādiṭṭhi hotīti vuttappakārāya

lokuttarasammādiṭṭhiyā

samannāgato hoti.

[Vị ấy là người có Chánh Kiến], vị ấy có Siêu Thế Chánh Kiến theo lối được nói đó.

19

ujugatāssa … pe … imaṃ

saddhammanti ettāvatā

saṃkhittadesanā niṭṭhitā hoti.

desanāyeva cesā saṃkhittā, tesaṃ

pana bhikkhūnaṃ vitthāravaseneva

sammāmanasikārappaṭivedho

veditabbo.

[Ngay thẳng… Chánh Pháp này], lời giảng tóm lược như thế ấy được chấm dứt. Nếu chính lời giảng mang tính tóm lược thì sự thấu đạt dựa vào Chánh Tác Ý về phương diện chi tiết sẽ được các vị Tỳ Kheo ấy hiểu (i).

—–

(i) Ở đoạn kinh này, Ngài Sāriputta chỉ giảng về người có Chánh Kiến một cách tóm lược, các vị Tỳ Kheo muốn hiểu chi tiết phải có Chánh Tác Ý về chi tiết.

20

dutiyavāre pana desanāpi vitthārena manasikārappaṭivedhopi

vitthāreneva vuttoti veditabbo.

Còn ở lần thứ 2, lời giảng về phương diện chi tiết và sự thấu đạt dựa vào Tác Ý về chính phương diện chi tiết đã được nói; điều đó nên được hiểu như vậy.

21

tattha “saṃkhittadesanāya dve

heṭṭhimamaggā, vitthāradesanāya

dve uparimamaggā kathitā”ti

bhikkhū āhaṃsu

vitthāradesanāvasāne “sabbaso

rāgānusayaṃ pahāyā”tiādivacanaṃ sampassamānā.

Ở đoạn đó, vào cuối lời giảng chi tiết, khi các vị Tỳ Kheo suy xét lời nói ‘Sau khi từ bỏ hoàn toàn Luyến Ái Tùy Miên’ vân vân; họ đã nói rằng ‘Hai Đạo bậc thấp đã được giảng bằng lời giảng tóm lược, hai Đạo bậc cao đã được giảng bằng lời giảng chi tiết.’

22

thero panāha “saṃkhittadesanāyapi cattāro maggā rāsito kathitā,

vitthāradesanāyapī”ti.

Thế nhưng, vị Trưởng lão (Sāriputta) đã nói rằng ‘4 Đạo đã được giảng thành một khối bằng lời giảng tóm lược lẫn lời giảng chi tiết.’

23

yā cāyaṃ idha

saṃkhittavitthāradesanāsu vicāraṇā āvikatā, sā sabbavāresu idha

vuttanayeneva veditabbā.

apubbānuttānapadavaṇṇanāmattameva hi ito paraṃ karissāma.

Và ở đây, chính sự khảo sát nào đối với các lời giảng tóm lược và chi tiết thì sự khảo sát ấy nên được hiểu theo chính phương pháp được nói trên trong mọi lúc tại đây (tại bài kinh này)(i). Bởi vì từ đây về sau, chúng tôi(ii) sẽ tiến hành chú giải chỉ trong chừng mực các câu từ chưa rõ ràng, chưa (được chú giải) trước đây.

—–

(i) Tức hiểu theo lời Ngài Sāriputta: cả 4 Đạo đều được giảng tóm lược và giảng chi tiết.

(ii) [Chúng tôi tiến hành – karissāma], đây là động từ mô tả cách, chủ động, thì tương lai, ngôi 1, số nhiều (Indicative, Active, Future, First Person, Plural). Tuy nhiên, theo cách dùng đặc trưng của Pāḷi, có thể hiểu số nhiều ở đây mang tính lịch sự, vì soạn giả bộ Chú Giải này được thừa nhận là Ngài Buddhaghosa.

24

tattha paṭhamavārassa tāva

vitthāradesanāya “pāṇātipāto kho,

āvuso, akusalan”tiādīsu

akosallappavattiyā akusalaṃ

veditabbaṃ, parato

vattabbakusalappaṭipakkhato vā.

Ở đoạn kinh đó, xuyên suốt lời giảng chi tiết ở lần thứ nhất, ở những câu ‘Này các ông, việc giết hại sinh mạng là bất thiện.’ vân vân, cái Bất Thiện nên được hiểu theo phương diện là sự tiến hành cái không tốt đẹp(i) và hơn nữa, theo phương diện là cái đối lập với cái Thiện sẽ được nói (ở đoạn kế).

—–

(i) Hoặc [sự tiến hành một cách không khéo léo], do từ Pāḷi [kosalla] có cả 2 nghĩa là [khéo léo, tốt đẹp]. 

25

taṃ lakkhaṇato

sāvajjadukkhavipākaṃ saṃkiliṭṭhaṃ vā.  ayaṃ tāvettha

sādhāraṇapadavaṇṇanā.

Nó bị ô nhiễm và có quả đáng chê trách, quả Khổ là đặc điểm. Tính đến chỗ này, đó là phần chú giải câu từ tổng quát.

26

asādhāraṇesu pana pāṇassa atipāto

pāṇātipāto, pāṇavadho pāṇaghātoti

vuttaṃ hoti.

0

27

pāṇoti cettha vohārato satto,

paramatthato jīvitindriyaṃ.

[Sinh mạng], ở câu kinh này, đó là Chúng Sinh về mặt tên gọi, là Mạng Quyền về mặt Chân Đế(i).

—–

(i) Khi nói [Sát Sinh], về mặt tên gọi theo Tục Đế, ta hiểu [Sinh] là [Chúng Sinh], nhưng về mặt Chân Đế, cần hiểu [Sinh] là [Mạng Quyền].

28

tasmiṃ pana pāṇe pāṇasaññino

jīvitindriyupacchedakaupakkamasamuṭṭhāpikā kāyavacīdvārānaṃ

aññataradvārappavattā

vadhakacetanā pāṇātipāto.

Sự Sát Sinh là Tư Sát Hại(i) của kẻ nhận biết về chúng sinh ấy(ii), (Tư ấy) diễn tiến thông qua một môn nào đó trong số Thân Môn, Khẩu Môn, có tính kích hoạt những biện pháp cắt đứt mạng quyền đối với chúng sinh ấy.

—–

(i) [Tư – Cetanā] là một Tâm Sở, Tư Sát Hại là Tư nhắm đến việc Sát Hại.

(ii) Ở đây có 2 đối tượng: kẻ sát sinh là A, chúng sinh bị kẻ ấy giết là B. A là kẻ nhận biết về chúng sinh B nghĩa là A nhận biết được B là một chúng sinh có sinh mạng. Nếu A nhầm B là vật vô tri giác như cây cỏ rồi dẫm đạp làm chết B hay A vô tình đạp trúng B chết thì A không sát sinh.

29

so guṇavirahitesu tiracchānagatādīsu pāṇesu khuddake pāṇe appasāvajjo, mahāsarīre mahāsāvajjo.

Sự Sát Sinh đó có lỗi nhỏ đối với chúng sinh nhỏ(i) trong số các chúng sinh thuộc cõi súc sinh vân vân, vốn thiếu phẩm chất(ii); có lỗi lớn đối với chúng sinh có thân thể lớn.

—–

(i) Chúng sinh nhỏ ở đây là chúng sinh bị sát hại.

(ii) Các cõi khổ như súc sinh, ngạ quỷ… thiếu phẩm chất: trí tuệ, giới hạnh…

30

kasmā? payogamahantatāya. payogasamattepi vatthumahantatāya.

Vì sao? Do mức độ lớn lao trong việc thực hiện. Và do mức độ lớn lao của nền tảng cho việc hoàn thành sự thực hiện ấy.

31

guṇavantesu manussādīsu appaguṇe pāṇe appasāvajjo, mahāguṇe

mahāsāvajjo.

Trong số chúng sinh như con người vân vân vốn (là loại chúng sinh) có phẩm chất, (Sự Sát Sinh đó) có lỗi nhỏ đối với chúng sinh có phẩm chất ít, có lỗi lớn đối với chúng sinh có phẩm chất nhiều. 

32

sarīraguṇānaṃ pana samabhāve sati kilesānaṃ upakkamānañca

mudutāya appasāvajjo, tibbatāya

mahāsāvajjoti veditabbo.

Và khi kích cỡ thân thể hay mức độ phiền não ngang bằng nhau, thì (sự Sát Sinh ấy) có lỗi nhỏ bởi tính nhẹ nhàng của sự tấn công, có lỗi lớn bởi tính quyết liệt của sự tấn công; điều đó nên được hiểu như vậy(i).

—–

(i) Nếu sát sinh 2 con vật có cơ thể cùng kích cỡ, thì cách ra tay nhẹ nhàng ít lỗi, ra tay quyết liệt nhiều lỗi; nếu sát sinh 2 người có cùng mức độ phiền não như nhau, thì cách ra tay nhẹ nhàng ít lỗi, ra tay quyết liệt nhiều lỗi.

33

tassa pañca sambhārā honti pāṇo,

pāṇasaññitā, vadhakacittaṃ,

upakkamo, tena maraṇanti.

5 thành phần của sự Sát Sinh ấy là: (1) Chúng sinh, (2) Sự nhận biết chúng sinh, (3) Tâm sát hại, (4) Sự tấn công, (5) Cái chết (của chúng sinh) do sự tấn công đó. 

34

cha payogā sāhatthiko, āṇattiko,

nissaggiyo, thāvaro, vijjāmayo,

iddhimayoti.

6 kiểu thực hiện của sự Sát Sinh ấy là: (1) Tự tay mình, (2) Sai khiến, (3) Ném Phóng(i), (4) Bất Chuyển(ii), (5) Được làm bằng Bí Thuật(iii), (6) Được làm bằng Thần Thông(iv).

—–

Theo Chú Giải Tạng Luật,

(i) Sát Sinh kiểu Ném Phóng tức kẻ giết đứng từ xa ném phóng mũi tên, dao găm, đá…

(ii) [Bất Chuyển – Thāvara] tức giết bằng cách chuẩn bị thuốc (độc), đặt bẫy… Có thể hiểu Bất Chuyển ở đây là kẻ sát nhân không phải di chuyển đến tận chỗ nạn nhân để ra tay hoặc các phương tiện sử dụng ở đây – thuộc độc, cạm bẫy vân vân – không có tính di chuyển như mũi tên, dao găm…

(iii) [Được làm bằng Bí Thuật] tức giết dựa vào ma thuật, phù phép…

(iv) [Được làm bằng Thần Thông] tức giết dựa vào Thần Thông – Thần Thông này có được do quả của nghiệp. Chẳng hạn như Thần Thông của loài Rồng, chư Thiên…

35

imasmiṃ panettha vitthārīyamāne

atipapañco hoti, tasmā naṃ na

vitthārayāma, aññañca evarūpaṃ.

Ở đây, khi chủ đề này được giảng giải thì sẽ có sự chậm trễ lớn; do đó, chúng tôi không giảng giải chủ đề này hay các chủ đề khác tương tự vậy.

36

atthikehi pana samantapāsādikaṃ

vinayaṭṭhakathaṃ (pārā. aṭṭha. 2.172) oloketvā gahetabbo.

Còn những ai quan tâm nên xem và tiếp thu trong bộ Chú Giải Tạng Luật Samantapāsādika (pārā. aṭṭha. 2.172).

37

adinnassa ādānaṃ adinnādānaṃ, parassa haraṇaṃ theyyaṃ, corikāti vuttaṃ hoti.

0

38

tattha adinnanti parapariggahitaṃ,

yattha paro yathākāmakāritaṃ

āpajjanto adaṇḍāraho anupavajjo ca hoti.

Ở câu kinh đó, [của không được cho] tức là Sở Hữu Vật của người khác; khi đó, người khác ấy (tức người chủ món vật) định lãi suất(i) theo ý muốn thì không có lỗi, không bị chê trách(ii).

—–

(i) Theo từ điển PTS, từ Pāḷi [Kārita] không có nghĩa nào phù hợp trong bối cảnh này. Từ điển Sanskrit Monier-Williams có ghi một nghĩa phù hợp là [Lãi suất]. Tức ở đây, người A lấy trộm của người B một món vật nào đó, khi người B phát hiện, có quyền yêu cầu người A bồi thường món vật cộng thêm một mức lãi suất tùy ý người B định. Tuy nhiên, không rõ cách giải quyết này thuộc tập quán hay pháp luật thời đó.

(ii) Như chú thích (i) đã nói, người B nếu định một mức lãi suất rất cao cũng không có lỗi gì, vì người A đã phạm tội lấy cắp.

39

tasmiṃ pana parapariggahite

parapariggahitasaññino

tadādāyakaupakkamasamuṭṭhāpikā

theyyacetanā adinnādānaṃ. taṃ hīne parasantake appasāvajjaṃ, paṇīte mahāsāvajjaṃ.

Việc Lấy Của Không Được Cho là Tư Trộm Cắp của kẻ nhận biết về sở hữu vật của người khác, (Tư ấy) có tính kích hoạt các biện pháp lấy món vật ấy đối với sở hữu vật của người khác. Việc (lấy của không được cho) ấy có lỗi nhỏ đối với tài sản của người khác ở mức thấp kém, có lỗi lớn đối với tài sản của người khác ở mức hảo hạng.

40

kasmā? vatthupaṇītatāya. vatthusamatte sati guṇādhikānaṃ

santake vatthusmiṃ mahāsāvajjaṃ.

Vì sao? Do mức độ tuyệt hảo của món vật. Khi các món vật ngang bằng (về độ tuyệt hảo), việc ấy có lỗi lớn đối với món vật thuộc về những người vượt trội về phẩm chất(i).

—–

(i) Người A lấy trộm một món vật của người B, nếu người B có phẩm chất đạo đức càng cao thì lỗi của người A càng lớn.

41

taṃ taṃ guṇādhikaṃ upādāya tato

tato hīnaguṇassa santake

vatthusmiṃ appasāvajjaṃ.

So với người vượt trội về phẩm chất thế này thế kia, việc ấy có lỗi nhỏ đối với món vật thuộc về người có phẩm chất thấp kém thế này thế kia.

42

tassa pañca sambhārā honti

parapariggahitaṃ,

parapariggahitasaññitā, theyyacittaṃ, upakkamo, tena haraṇanti. cha payogā sāhatthikādayova.

5 thành phần của việc Lấy Của Không Được Cho ấy là: (1) Sở Hữu Vật của người khác; (2) Sự nhận biết Sở Hữu Vật của người khác; (3) Tâm trộm cắp; (4) Sự tiến hành; (5) Sự mang đi (món vật) do sự tiến hành đó. 6 kiểu thực hiện của việc Lấy Của Không Được Cho ấy là: tự tay mình vân vân.

43

te ca kho yathānurūpaṃ

theyyāvahāro, pasayhāvahāro,

paṭicchannāvahāro, parikappāvahāro, kusāvahāroti imesaṃ avahārānaṃ vasena pavattāti ayamettha

saṅkhepo. vitthāro pana

samantapāsādikāyaṃ (pārā. aṭṭha. 1.92) vutto.

Và dựa theo hình thức, chúng bao gồm: (1) Việc lấy đi theo cách trộm cắp; (2) Việc lấy đi bằng vũ lực; (3) Việc lấy đi được che đậy; (4) Việc lấy đi dựa vào mưu thuật; (5) Việc lấy đi khi bắt thăm(i); (các kiểu thực hiện ấy) diễn tiến do bởi các hình thức lấy đi này; ở đây, đó là nội dung tóm lược; còn nội dung chi tiết được nói trong bộ Samantapāsādikā (pārā. aṭṭha. 1.92).

—–

(i) Theo Chú Giải Tạng Luật, đây là hình thức gian lận khi bắt thăm nhằm lấy được món vật vốn đã được chia cho người khác. Từ Pāḷi [kusa] ở đây chỉ một loại cỏ thường được dùng làm lá thăm.

44

kāmesumicchācāroti ettha pana

kāmesūti methunasamācāresu.

micchācāroti ekantanindito

lāmakācāro. lakkhaṇato pana

asaddhammādhippāyena

kāyadvārappavattā agamanīyaṭṭhānavītikkamacetanā kāmesumicchācāro.

[Hành Vi Sai Trái trong các Dục], ở đây, [các Dục] tức là các hành vi đôi lứa. [Hành Vi Sai Trái] tức là hành vi xấu kém, bị chê trách cùng cực. Hành vi sai trái trong các Dục là Tư Vượt Quá điều kiện không nên bị vượt quá, diễn tiến thông qua Thân Môn do ý định sái quấy(i) là đặc điểm.

—–

(i) [Ý định sái quấy] tức ý định quan hệ đôi lứa.  

45

tattha agamanīyaṭṭhānaṃ nāma

purisānaṃ tāva māturakkhitā,

piturakkhitā, mātāpiturakkhitā,

bhāturakkhitā, bhaginirakkhitā,

ñātirakkhitā, gottarakkhitā,

dhammarakkhitā, sārakkhā,

saparidaṇḍāti māturakkhitādayo

dasa; dhanakkītā, chandavāsinī,

bhogavāsinī, paṭavāsinī,

odapattakinī, obhaṭacumbaṭā, dāsī ca bhariyā ca, kammakārī ca bhariyā

ca, dhajāhatā, muhuttikāti etā ca

dhanakkītādayo dasāti vīsati itthiyo.

Ở câu kinh đó, cái được gọi là Điều Kiện Không Nên Bị Vượt Quá bởi những người nam chỉ đến 20 hạng Phụ Nữ: 10 hạng Phụ Nữ được Giám Hộ như Giám Hộ bởi Mẫu Thân vân vân – bao gồm: (1) Được Giám Hộ bởi Mẫu Thân; (2) Được Giám Hộ bởi Phụ Thân; (3) Được Giám Hộ bởi Song Thân; (4) Được Giám Hộ bởi Huynh Đệ; (5) Được Giám Hộ bởi Tỷ Muội; (6) Được Giám Hộ bởi Thân Quyến; (7) Được Giám Hộ bởi Gia Tộc; (8) Được Giám Hộ bởi Pháp(i); (9) Người đã Thành Thân; (10) Người có Hình Phạt Vây Bọc(ii). 10 hạng Phụ Nữ như Được Mua Bằng Tiền vân vân – bao gồm: (1) Được Mua Bằng Tiền; (2) Sống do Ý Nguyện(iii); (3) Sống do Tài Sản(iv); (4) Sống do Quần Áo(v); (5) Dựa vào phép Bát Nước(vi); (6) Có Mạn Được Gỡ Ra(vii); (7) Hầu Gái cũng là Vợ; (8) Người Làm Công cũng là Vợ(viii); (9) Được Mang Đi Bởi Quân Kỳ(ix); (10) Vợ Tạm Thời.

—–

(i) Theo Sớ Giải tương ứng, [Sự Giám Hộ của Pháp] là Sự Giám Hộ bởi những bạn đồng đạo.

(ii) Theo Sớ Giải tương ứng:

Yassā gamane raññā daṇḍo ṭhapito,

sā saparidaṇḍā. = Hình phạt do nhà vua sai áp đặt lên việc đi đến với người phụ nữ nào, thì người phụ nữ ấy là người có Hình Phạt Vây Bọc [Saparidaṇḍā]. Tức nhà vua ra lệnh cấm bất kỳ người nam nào đi đến – tức quan hệ, ở đây thiên về quan hệ đôi lứa – với người phụ nữ ấy, kẻ nào trái lệnh thì bị trừng phạt.

(iii) Theo Chú Giải Tạng Luật, đây chỉ đến người phụ nữ tự nguyện sống cùng người đàn ông – tức người chồng mình.

(iv) Theo Chú Giải Tạng Luật, đây chỉ đến người phụ nữ ở tỉnh chấp nhận làm vợ để được giúp đỡ về nhà cửa vân vân.

(v) Theo Chú Giải Tạng Luật, đây chỉ đến người phụ nữ nghèo khổ chấp nhận làm vợ để có quần áo.

(vi) [odapattakinī] = [người có Bát Nước]. Theo Chú Giải Tạng Luật: theo phép này, đôi nam nữ cầm bát nước rồi có một người khác tuyên đọc ‘Chớ chia lìa, hãy hòa quyện như nước này!’.

(vii) Theo Chú Giải Tạng Luật, đây chỉ đến người phụ nữ sống chung với người đàn ông do người này gỡ được mạn che mặt của cô ta.

(viii) Thời xưa xã hội đa thê, nên có nhóm phụ nữ số (7) và (8). Theo Chú Giải Tạng Luật, Người Làm Công khác với Hầu Gái ở chỗ Người Làm Công được thuê làm theo việc và được trả lương.

(ix) Theo Chú Giải Tạng Luật, đây chỉ đến người phụ nữ thuộc về một vương quốc – có lẽ là phi hậu. Quân đội ngoại bang đến cướp nước, rồi mang người phụ nữ đó về làm vợ một người đàn ông – có lẽ là vương tướng. Quân kỳ là biểu tượng của đội quân đó.

46

itthīsu pana dvinnaṃ

sārakkhāsaparidaṇḍānaṃ,

dasannañca dhanakkītādīnanti

dvādasannaṃ itthīnaṃ aññe purisā,

idaṃ agamanīyaṭṭhānaṃ nāma.

Còn trong số những phụ nữ, những người đàn ông khác(i) (có thể(ii) được đi đến) bởi 12 hạng phụ nữ – gồm 10 hạng như Được Mua Bằng Tiền vân vân và 2 hạng là Người đã Thành Thân và Người có Hình Phạt Vây Bọc; đó được gọi là Điều Kiện Không Nên Bị Vượt Quá (bởi những người phụ nữ)(iii).

—–

(i) [Aññe purisā] = [những người đàn ông khác], dựa vào bối cảnh ở đây, có thể hiểu từ này chỉ đến những người đàn ông khác/không phải người chồng.

(ii) [Có thể] ở đây chỉ khả năng xảy ra, chứ không phải được phép làm.

(iii) Đoạn kinh trên đề cập tổng cộng 20 hạng phụ nữ, nhưng chỉ có 12 hạng được nói ở đây là có chồng. Vì đã có chồng nên khi họ đến với người đàn ông khác sẽ phạm giới Hành Vi Sai Trái trong các Dục. Còn 8 hạng phụ nữ còn lại chưa có chồng, nên có thể đến với người đàn ông mình lựa chọn.  

47

so panesa micchācāro

sīlādiguṇarahite agamanīyaṭṭhāne

appasāvajjo, sīlādiguṇasampanne

mahāsāvajjo.

Chính Hành Vi Sai Trái ấy có lỗi nhỏ đối với Điều Kiện Không Nên Bị Vượt Quá không có phẩm chất như Giới vân vân; có lỗi lớn đối với Điều Kiện Không Nên Bị Vượt Quá có phẩm chất như Giới vân vân.

48

tassa cattāro sambhārā

agamanīyavatthu, tasmiṃ

sevanacittaṃ, sevanapayogo,

maggenamaggappaṭipattiadhivāsananti. eko payogo sāhatthiko eva.

4 thành phần của Hành Vi Sai Trái trong các Dục ấy là: (1) Đối tượng không nên bị vượt quá; (2) Tâm giao hợp đối với đối tượng đó; (3) Việc thực hiện giao hợp; (4) Sự ưng thuận hành động (tiếp xúc) bộ phận sinh dục với bộ phận sinh dục(i). Hành Vi Sai Trái trong các Dục ấy chỉ có một cách thực hiện là tự tay mình.

—–

(i) Từ Pāḷi [magga] dựa theo từ điển PTS không có nghĩa nào phù hợp trong văn cảnh này. Dạng Sanskrit tương ứng của nó là [mārga]; từ điển Benfey Sanskrit-English có ghi nghĩa từ ghép [devamārga] là [dương vật, hậu môn]; từ điển Monier-Williams ghi nghĩa [mārga] là [hậu môn]; từ điển Online sanskritdictionary.com có chú [mārga] tương đương với [yonī, upastha] – 2 từ này cũng chỉ đến bộ phận sinh dục. Ngoài ra, trong đoạn kinh này, từ [sevana] có nghĩa [giao hợp] theo từ điển Monier-Williams.

49

musāti visaṃvādanapurekkhārassa

atthabhañjako vacīpayogo

kāyapayogo vā.

[(Nói) Dối], chỉ đến việc thực hiện bằng thân hay lời, mang tính phá hủy lợi ích, (việc thực hiện này) bởi kẻ xếp đặt sự lường gạt. 

50

visaṃvādanādhippāyena panassa

paravisaṃvādanakakāyavacīpayogasamuṭṭhāpikā cetanā musāvādo.

[Sự Nói Dối] là Tư kích hoạt sự thực hiện bằng thân hay lời của kẻ ấy (kẻ nói dối) nhằm lường gạt người khác với mong muốn lường gạt(i).

—–

(i) Câu này thoạt tưởng như dư thừa, nhưng nó củng cố ý nghĩa câu trước: nói dối là lường gạt nhằm gây hại người khác – tức lường gạt để… lường gạt, lừa đảo. Những trường hợp nói dối vì lợi ích cho người khác được loại trừ. 

51

aparo nayo musāti abhūtaṃ

atacchaṃ vatthu.

Theo thể thức khác, [(nói) dối] chỉ đến tính không đúng, không thật.

52

vādoti tassa bhūtato tacchato viññāpanaṃ. lakkhaṇato pana atathaṃ vatthuṃ

tathato paraṃ viññāpetukāmassa

tathāviññattisamuṭṭhāpikā cetanā

musāvādo.

[Sự nói] là sự thông tin(i) (một điều gì đó) như thể đúng, thật bởi người ấy. Và xét về đặc điểm, sự nói dối là Tư kích hoạt sự không truyền đạt cái thật của người muốn thông tin đến người khác cái không đúng như thể là cái thật(ii).

—–

(i) [Thông tin] ở đây dùng theo ngữ pháp Hán cổ, với [thông] là động từ và [tin] là túc từ trực tiếp cho nó. [Sự thông tin] là danh từ.

(ii) Trong giao tiếp thông thường, trừ những tình huống đùa cợt; một cách tự nhiên, người ta kỳ vọng lời nói của người khác là đúng, thật. Cho nên theo đây, khái niệm [nói] hàm ý với nó là [nói thật].

53

so yamatthaṃ bhañjati, tassa

appatāya appasāvajjo, mahantatāya mahāsāvajjo.

Sự nói dối ấy phá hủy lợi ích nào; thì do sự nhỏ nhoi của lợi ích ấy, sự nói dối ấy có lỗi nhỏ, do sự lớn lao của lợi ích ấy, sự nói dối ấy có lỗi lớn.

54

apica gahaṭṭhānaṃ attano santakaṃ adātukāmatāya

natthītiādinayappavatto appasāvajjo, sakkhinā hutvā atthabhañjanatthaṃ vutto mahāsāvajjo.

Và đối với những cư sĩ, do sự không muốn bố thí tài sản của mình, sự nói dối diễn tiến theo thể thức (nói rằng) ‘không có’ vân vân thì có lỗi nhỏ(i); sự nói dối được nói nhằm mục đích phá hủy lợi ích khi (người cư sĩ) làm chứng nhân thì có lỗi lớn(ii).

—–

(i) Tức người cư sĩ không muốn bố thí nên nói dối là mình không có tài sản, thiếu thốn, không thể bố thí.

(ii) Tức người cư sĩ ra làm chứng việc gì đó lại nói dối để phá lợi ích của bên kia.

55

pabbajitānaṃ appakampi telaṃ vā

sappiṃ vā labhitvā hasādhippāyena “ajja gāme telaṃ nadīmaññe

sandatī”ti purāṇakathānayena

pavatto appasāvajjo, adiṭṭhaṃyeva

pana diṭṭhantiādinā nayena

vadantānaṃ mahāsāvajjo.

Đối với các vị xuất gia, do việc kiếm được ít dầu hay ít bơ, sự nói dối với ý định vui đùa, diễn tiến theo thể thức lời nói kiểu thần thoại rằng ‘hôm nay ở trong làng, dầu chảy cứ như sông’ thì có lỗi nhỏ(i); sự nói dối bởi những kẻ nói theo thể thức ‘(nói) cái không được thấy thành cái được thấy(ii)’ vân vân thì có lỗi lớn.

—–

(i) Nói hoang đường trái sự thật để mua vui.  

(ii) Bản thân không thấy việc đó nhưng nói là có thấy.

56

tassa cattāro sambhārā honti atathaṃ vatthu, visaṃvādanacittaṃ, tajjo

vāyāmo, parassa tadatthavijānananti. eko payogo sāhatthikova.

4 thành phần của sự nói dối ấy là: (1) Câu chuyện không đúng; (2) Tâm lường gạt; (3) Sự nỗ lực tương ứng; (4) Việc nhận biết ý nghĩa đó bởi người khác(i). Sự nói dối chỉ có một cách thực hiện là tự tay mình.

—–

(i) Tức người khác hiểu theo lời nói dối ấy.

57

so kāyena vā kāyappaṭibaddhena vā vācāya vā visaṃvādakakiriyākaraṇe daṭṭhabbo.

Sự nói dối ấy nên được xem là sự tạo nên hành động lường gạt bằng lời, bằng vật dính với thân, hoặc bằng thân(i).

—–

(i) Người ta lường gạt không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng hành động – chẳng hạn ra hiệu – hoặc thông qua vật dính với thân mình như trang sức… Chẳng hạn: đeo nhiều trang sức giả để tỏ ra mình giàu có.

58

tāya ce kiriyāya paro tamatthaṃ

jānāti, ayaṃ

kiriyāsamuṭṭhāpikacetanākkhaṇeyeva musāvādakammunā bajjhati.

Nếu người khác hiểu ý nghĩa đó (ý nghĩa giả dối) thông qua 3 hành động đó thì người ấy (người nói dối) bị ràng buộc với nghiệp nói dối vào ngay thời khắc Tư kích hoạt hành động.

59

pisuṇā vācātiādīsu yāya vācāya

yassa taṃ vācaṃ bhāsati, tassa

hadaye attano piyabhāvaṃ parassa

ca suññabhāvaṃ karoti, sā pisuṇā

vācā.

Về cụm từ [Sự Nói Chia Rẽ] vân vân; bằng lời nói nào mà khi người ta nói lời nói ấy đến người nào, người ta gây ra trong tim người ấy trạng thái ưa thích mình và trạng thái dửng dưng đối với người khác; thì đó là sự nói chia rẽ(i).

—–

(i) Tức ở đây có 3 người: người A nói lời nói nào mà khiến cho người C ưa thích người A và dửng dưng với người B thì người A đã chia rẽ B với C.

60

yāya pana attānampi parampi

pharusampi karoti, sā vācā sayampi pharusā neva kaṇṇasukhā na

hadayasukhā vā, ayaṃ pharusā vācā.

Và bằng lời nói nào, người ta làm cho bản thân mình hay người khác trở nên thô lỗ; tự lời nói ấy thì thô lỗ, không hề vui tai cũng không đẹp lòng, đó là sự nói thô lỗ.

61

yena samphaṃ palapati niratthakaṃ, so samphappalāpo.

Bằng lời nói nào người ta nói điều nhảm nhí, vô lợi ích thì đó là sự nói phù phiếm.

62

tesaṃ mūlabhūtā cetanāpi

pisuṇāvācādināmameva labhati, sā

eva ca idha adhippetāti.

Tư vốn là gốc của chúng (lời nói chia rẽ, lời nói thô lỗ…) có chính tên gọi là sự nói chia rẽ vân vân, chính Tư đó được hàm ý ở đây.

63

tattha saṃkiliṭṭhacittassa paresaṃ vā bhedāya attano piyakamyatāya vā

kāyavacīpayogasamuṭṭhāpikā cetanā pisuṇā vācā.

Ở đó, sự nói chia rẽ là Tư của kẻ có tâm bị ô nhiễm, (Tư ấy) kích hoạt sự thực hiện bằng lời hay bằng thân do mong muốn bản thân mình được ưa thích hay vì sự phân rẽ những người khác.

64

sā yassa bhedaṃ karoti, tassa

appaguṇatāya appasāvajjā,

mahāguṇatāya mahāsāvajjā.

Sự nói chia rẽ ấy gây ra sự phân rẽ người nào thì nó có lỗi nhỏ do phẩm chất ít ỏi của người ấy, có lỗi lớn do phẩm chất lớn lao của người ấy. 

65

tassā cattāro sambhārā bhinditabbo paro, “iti ime nānā bhavissanti vinā bhavissantī”ti bhedapurekkhāratā vā, “ahaṃ piyo bhavissāmi vissāsiko”

ti piyakamyatā vā, tajjo vāyāmo,

tassa tadatthavijānananti.

4 thành phần của sự nói chia rẽ ấy là: (1) Người sẽ bị phân rẽ; (2) Sự thuận theo việc phân rẽ rằng ‘Như vậy, những người này sẽ khác biệt nhau, sẽ tách rời nhau.’ và mong muốn được ưa thích rằng ‘Ta sẽ được ưa thích, sẽ được tin cậy.’; (3) Sự nỗ lực tương ứng; (4) Việc nhận biết ý nghĩa đó (bởi người khác)(i).

—–

(i) Tức người khác hiểu và tin theo lời chia rẽ đó. 

66

parassa mammacchedakakāyavacīpayogasamuṭṭhāpikā ekantapharusā

cetanā pharusā vācā.

Sự Nói Thô Lỗ là Tư mang tính cực kỳ thô lỗ, kích hoạt việc thực hiện sự hung hãn thông qua lời hay thân đối với người khác.

67

tassa āvibhāvatthamidaṃ vatthu — eko kira dārako mātuvacanaṃ

anādiyitvā araññaṃ gacchati, taṃ

mātā nivattetuṃ asakkontī “caṇḍā

taṃ mahiṃsī anubandhatū”ti akkosi. athassa tattheva araññe mahiṃsī

uṭṭhāsi.

Câu chuyện này có ý nghĩa minh họa cho điều đó: một cậu bé không nghe lời mẹ mình mà đi đến rừng. Do không thể khiến cậu ta quay lại, người mẹ đã mắng nhiếc: ‘Cầu cho con trâu cái hung tợn dí theo mày!’ Thế rồi, chính ngay tại khu rừng đó, một con trâu cái đã xuất hiện cho cậu bé.   

68

dārako “yaṃ mama mātā mukhena

kathesi taṃ mā hotu, yaṃ cittena

cintesi taṃ hotū”ti

saccakiriyamakāsi. mahiṃsī tattheva baddhā viya

aṭṭhāsi.

Cậu bé đã lập lời thề rằng: ‘Điều nào mẹ ta đã nói bằng miệng, điều đó chớ xảy ra; điều nào mẹ ta đã suy nghĩ bằng tâm, điều đó hãy xảy ra!’ Con trâu cái đã đứng lại ngay tại đó như thể bị trói(i).

—–

(i) Người mẹ bên ngoài mắng nhiếc con mình, nhưng trong lòng vẫn thương con, không muốn điều xấu cho con.

69

evaṃ mammacchedakopi payogo

cittasaṇhatāya pharusā vācā na hoti. mātāpitaro hi kadāci puttake evampi vadanti “corā vo khaṇḍākhaṇḍikaṃ karontū”ti, uppalapattampi ca nesaṃ upari patantaṃ na icchanti.

Như vậy, sự nói thô lỗ không phải là sự thực hiện việc hung hãn bằng sự dịu dàng của tâm. Bởi vì đôi khi, cha mẹ nói với những đứa con nhỏ thế này: ‘Cầu cho bọn trộm cướp hãy xé tan chúng mày!’, nhưng họ còn không muốn một chiếc lá sen rơi xuống đầu chúng.

70

ācariyupajjhāyā ca kadāci nissitake evaṃ vadanti “kiṃ ime ahirikā

anottappino caranti niddhamatha ne”ti. atha kho nesaṃ

āgamādhigamasampattiṃ icchanti.

Hoặc đôi khi, các vị thầy dạy và thầy tế độ nói với các đệ tử thế này: ‘Những kẻ vô tàm, vô quý này thực hành điều gì? Hãy tống chúng đi!’ Thế nhưng, họ lại mong muốn thành quả, sự thành đạt trong thực hành của các học trò.

71

yathā ca cittasaṇhatāya pharusā vācā na hoti, evaṃ vacanasaṇhatāya

apharusā vācāpi na hoti. na hi mārāpetukāmassa “imaṃ

sukhaṃ sayāpethā”ti vacanaṃ

apharusā vācā hoti. cittapharusatāya panesā pharusā

vācāva.

Giống như không có sự nói thô lỗ dựa vào sự dịu dàng của tâm, như vậy không có sự nói không thô lỗ dựa vào sự dịu dàng của lời nói(i). Bởi vì lời nói của kẻ muốn ta bị giết rằng ‘Hãy làm người này ngủ ngon.’ thì không phải là lời nói không thô lỗ. Mà đó chính là lời nói thô lỗ do sự thô lỗ của tâm.

—–

(i) Nghiệp do Tư [Cetanā] quyết định, nên thô lỗ hay không thô lỗ phải xét ở Tư chứ không xét lời nói bên ngoài.

72

sā yaṃ sandhāya pavattitā, tassa

appaguṇatāya appasāvajjā,

mahāguṇatāya mahāsāvajjā.

Sự nói thô lỗ ấy diễn tiến nhắm đến người nào, thì (sự nói thô lỗ ấy) có lỗi nhỏ do phẩm chất ít ỏi của người ấy, có lỗi lớn do phẩm chất lớn lao của người ấy.

73

tassā tayo sambhārā akkositabbo

paro, kupitacittaṃ, akkosanāti.

 3 thành phần của sự nói thô lỗ ấy là: (1) Người sẽ bị mắng nhiếc; (2) Tâm phẫn nộ; (3) Sự mắng nhiếc.

74

anatthaviññāpakakāyavacīpayogasamuṭṭhāpikā akusalacetanā

samphappalāpo.

Sự Nói Phù Phiếm là Tư bất thiện kích hoạt sự thực hiện việc thông báo chuyện vô ích thông qua thân hay lời.

75

so āsevanamandatāya appasāvajjo,

āsevanamahantatāya mahāsāvajjo.

Sự nói phù phiếm đó có lỗi nhỏ do sự chậm chạp trong việc thi hành; có lỗi lớn do sự mạnh mẽ trong việc thi hành(i).

—–

(i) Theo Sớ Giải tương ứng, ở đây chỉ đến mức độ thường xuyên khi nói phù phiếm. Nói thi thoảng thì lỗi ít, nói thường xuyên thì lỗi nhiều.

76

tassa dve sambhārā bhāratayuddhasītāharaṇādiniratthakakathāpurekkhāratā, tathārūpīkathākathananti.

2 thành phần của sự nói phù phiếm ấy là: (1) Sự ưng thuận câu chuyện vô ích như Chiến tranh Bhārata, Bắt cóc Sītā vân vân(i); (2) Việc nói câu chuyện tương tự như vậy.

—–

(i) Chiến tranh Bhārata [Bhāratayuddha] là một chủ đề trong bộ Mahābhārata; Bắt cóc Sītā [Sītāharaṇa] là một chủ đề trong bộ Rāmāyaṇa. Đây là 2 bộ sử thi lớn của truyền thống Ấn giáo.

77

abhijjhāyatīti abhijjhā,

parabhaṇḍābhimukhī hutvā

tanninnatāya pavattatīti attho.

[Sự Khao khát] chỉ đến việc người ấy khao khát. Sau khi đối mặt với món vật của người khác, người ấy bắt đầu xu hướng (nhắm đến) món vật đó; ý nghĩa là như vậy.

78

sā “aho vata idaṃ mamassā”ti evaṃ parabhaṇḍābhijjhāyanalakkhaṇā. adinnādānaṃ viya appasāvajjā ca

mahāsāvajjā ca.

Sự khao khát ấy có đặc điểm là hành vi khao khát món vật của người khác rằng ‘Ôi chao, mong món vật ấy là của ta!’ Sự khao khát ấy có lỗi nhỏ hay lỗi lớn giống với sự lấy của không được cho.

79

tassā dve sambhārā parabhaṇḍaṃ,

attano pariṇāmanañca. parabhaṇḍavatthuke hi lobhe

uppannepi na tāva

kammapathabhedo hoti, yāva “aho

vatīdaṃ mamassā”ti attano na

pariṇāmeti.

2 thành phần của sự khao khát ấy là: (1) Món vật của người khác; và (2) Sự tìm đoạt của bản thân. Bởi vì khi tham đã sinh lên dựa vào món vật của người khác thì trong lúc nào bản thân người ấy chưa tìm đoạt rằng ‘Ôi chao, mong món vật ấy là của ta!’, trong lúc ấy, không có sự khác biệt về con đường tạo nghiệp(i).

—–

(i) Khi thấy món vật của người khác rồi thích thú, mê thích món vật ấy thì mới chỉ là Tham [Lobha]; nhưng muốn có chính món vật của người khác thì mới là Khao khát [Abhijjhā]. Cần lưu ý: Khao khát là muốn có chính món vật của người khác, muốn lấy món vật đó về cho mình; còn thích món vật đó rồi muốn mua một món giống vậy thì không phải Khao khát, cũng chỉ là Tham mà thôi. 

80

hitasukhaṃ byāpādayatīti byāpādo. so paravināsāya

manopadosalakkhaṇo, pharusā vācā viya appasāvajjo mahāsāvajjo ca.

[Sự Ác Ý] chỉ đến việc người ấy phá hủy lợi ích và an lạc. Sự ác ý ấy có đặc điểm là sự căm ghét của tâm nhằm phá hoại người khác; nó có lỗi nhỏ hay lỗi lớn giống với sự nói thô lỗ.

81

tassa dve sambhārā parasatto ca,

tassa ca vināsacintā. parasattavatthuke hi kodhe

uppannepi na tāva

kammapathabhedo hoti, yāva “aho

vatāyaṃ ucchijjeyya vinasseyyā”ti

tassa vināsaṃ na cinteti.

2 thành phần của sự ác ý ấy là: (1) Chúng sinh khác; và (2) Ý nghĩ phá hoại chúng sinh ấy. Bởi vì khi sự tức giận đã sinh lên dựa vào chúng sinh khác thì trong lúc nào người ấy chưa suy nghĩ sự phá hoại chúng sinh kia rằng ‘Ô, cầu kẻ kia tiêu tan, tiêu tùng!’ trong lúc ấy, không có sự khác biệt về con đường tạo nghiệp.

82

yathābhuccagahaṇābhāvena micchā passatīti micchādiṭṭhi. sā “natthi dinnan”tiādinā nayena

viparītadassanalakkhaṇā. samphappalāpo viya appasāvajjā

mahāsāvajjā ca.

[Tà Kiến] chỉ đến việc người ấy nhìn nhận một cách sai trái, theo trạng thái nghịch với việc nắm bắt cái hợp với sự thật. Tà Kiến có đặc điểm là cái nhìn nghịch đảo theo phương thức ‘Không có vật được bố thí’ vân vân. Tà Kiến có lỗi nhỏ hay lỗi lớn giống với sự nói phù phiếm.

83

apica aniyatā appasāvajjā, niyatā

mahāsāvajjā.  tassā dve sambhārā

vatthuno ca gahitākāraviparītatā,

yathā ca taṃ gaṇhāti, tathābhāvena

tassupaṭṭhānanti.

Hơn nữa, tà kiến bất định thì có lỗi nhỏ; tà kiến cố định thì có lỗi lớn. 2 thành phần của tà kiến ấy là: (1) Trạng thái nghịch đảo trong phương cách nắm bắt đối tượng; và (2) Sự hiểu biết đối tượng ấy theo phương cách nắm bắt ấy.

84

imesaṃ pana dasannaṃ

akusalakammapathānaṃ dhammato koṭṭhāsato ārammaṇato vedanāto

mūlatoti pañcahākārehi vinicchayo

veditabbo.

Sự phân biệt 10 con đường bất thiện nghiệp này nên được hiểu theo 5 phương cách: (1) Về bản chất; (2) Về thành tố; (3) Về đối tượng; (4) Về thọ và (5) Về căn.

85

tattha dhammatoti etesu hi

paṭipāṭiyā satta, cetanādhammāva

honti, abhijjhādayo tayo

cetanāsampayuttā.

Trong chủ đề này, [về bản chất] tức là: quả thật, trong số các con đường bất thiện nghiệp ấy, thì theo tuần tự, 7 con đường có bản chất là tư; 3 con đường gồm sự khao khát vân vân thì hiệp hành với tư(i).

—–

(i) 7 con đường bất thiện nghiệp đầu tiên đều được định nghĩa là tư [cetanā]; 3 con đường sau: sự khao khát, sự ác ý & tà kiến thì không phải là tư mà chúng hiệp hành với tư bất thiện. 

86

koṭṭhāsatoti paṭipāṭiyā satta,

micchādiṭṭhi cāti ime aṭṭha

kammapathā eva honti, no mūlāni. abhijjhābyāpādā kammapathā ceva mūlāni ca. abhijjhā hi mūlaṃ patvā lobho

akusalamūlaṃ hoti. byāpādo doso

akusalamūlaṃ.

[Về thành tố] tức là: theo tuần tự, 7 con đường cùng với tà kiến: 8 cái đó chính là những con đường nghiệp, không phải căn (bất thiện). Sự khao khát và sự ác ý vừa là con đường nghiệp vừa là căn (bất thiện). Bởi vì khi cần nói đến căn, sự khao khát là tham – một bất thiện căn; sự ác ý là sân – một bất thiện căn.  

87

ārammaṇatoti pāṇātipāto

jīvitindriyārammaṇato saṅkhārārammaṇo hoti. adinnādānaṃ sattārammaṇaṃ vā

saṅkhārārammaṇaṃ vā. micchācāro phoṭṭhabbavasena

saṅkhārārammaṇo.

[Về đối tượng] tức là: sự sát sinh có đối tượng thuộc loại hữu vi pháp – tức là mạng quyền. Việc lấy của không được cho có đối tượng là chúng sinh và cả đối tượng thuộc loại hữu vi pháp. Hành vi sai trái (trong các dục) có đối tượng thuộc loại hữu vi pháp – nghĩa là xúc.

88

sattārammaṇotipi eke. musāvādo

sattārammaṇo vā saṅkhārārammaṇo vā. tathā pisuṇā vācā. pharusā vācā

sattārammaṇāva.

Một số (con đường bất thiện nghiệp) thì có đối tượng là chúng sinh. Sự nói dối có đối tượng là chúng sinh và cả đối tượng thuộc loại hữu vi pháp. Sự nói chia rẽ cũng như thế. Sự nói thô lỗ có đối tượng chính là chúng sinh.

89

samphappalāpo

diṭṭhasutamutaviññātavasena

sattārammaṇo vā saṅkhārārammaṇo vā, tathā abhijjhā. byāpādo sattārammaṇova. micchādiṭṭhi

tebhūmakadhammavasena saṅkhārārammaṇā.

Sự nói phù phiếm có đối tượng là chúng sinh – nghĩa là đối tượng được thấy, được nghe, được nghĩ, được tưởng đến – và cả đối tượng thuộc loại hữu vi pháp; sự khao khát cũng như thế. Sự ác ý có đối tượng chính là chúng sinh. Tà kiến có đối tượng thuộc loại hữu vi pháp – nghĩa là các pháp thuộc tam giới.

90

vedanātoti pāṇātipāto dukkhavedano hoti. kiñcāpi hi rājāno coraṃ disvā hasamānāpi “gacchatha naṃ

ghātethā”ti vadanti,

sanniṭṭhāpakacetanā pana nesaṃ

dukkhasampayuttāva hoti.

[Về thọ] tức là: sự sát sinh có khổ thọ. Tuy nhiên, khi các vị vua nhìn thấy tên trộm rồi cười và bảo rằng: ‘(Các ngươi) hãy đến, giết nó’; các vị vua ấy vẫn có tư sai khiến hiệp hành với khổ(i).

—–

(i) Người trực tiếp giết có khổ thọ, người sai giết cũng có khổ thọ. 

91

adinnādānaṃ tivedanaṃ. micchācāro sukhamajjhattavasena

dvivedano, sanniṭṭhāpakacitte pana majjhattavedano na hoti.

Việc lấy của không được cho có 3 thọ. Hành vi sai trái (trong các dục) có 2 thọ – nghĩa là lạc và xả; tâm của người sai khiến không có thọ xả.

92

musāvādo tivedano, tathā pisuṇā

vācā. pharusā vācā dukkhavedanāva. samphappalāpo tivedano. abhijjhā

sukhamajjhattavasena dvivedanā,

tathā micchādiṭṭhi. byāpādo

dukkhavedano.

Sự nói dối có 3 thọ; sự nói chia rẽ cũng vậy. Sự nói thô lỗ chỉ có khổ thọ. Sự nói phù phiếm có 3 thọ. Sự khao khát có 2 thọ – nghĩa là lạc và xả; tà kiến cũng như thế. Sự ác ý có khổ thọ.

93

mūlatoti pāṇātipāto

dosamohavasena dvimūlako hoti.

adinnādānaṃ dosamohavasena vā

lobhamohavasena vā. micchācāro

lobhamohavasena.

[Về căn] tức là: sự sát sinh có 2 căn – nghĩa là sân cùng si. Việc lấy của không được cho có căn sân cùng si hoặc tham cùng si. Hành vi sai trái (trong các dục) có căn tham cùng si.

94

musāvādo dosamohavasena vā

lobhamohavasena vā, tathā pisuṇā

vācā samphappalāpo ca. pharusā

vācā dosamohavasena. abhijjhā

mohavasena ekamūlā, tathā byāpādo. micchādiṭṭhi lobhamohavasena

dvimūlāti.

Sự nói dối có căn sân cùng si hoặc căn tham cùng si; sự nói chia rẽ và sự nói phù phiếm cũng như thế. Sự nói thô lỗ có căn sân cùng si. Sự khao khát có một căn – nghĩa là si; sự ác ý cũng như thế. Tà kiến có 2 căn – nghĩa là tham cùng si.

95

lobho akusalamūlantiādīsu lubbhatīti lobho. dussatīti doso. muyhatīti moho. tesu lobho sayañca akusalo sāvajjadukkhavipākaṭṭhena, imesañca pāṇātipātādīnaṃ akusalānaṃ kesañci sampayuttappabhāvakaṭṭhena kesañci upanissayapaccayaṭṭhena mūlanti akusalamūlaṃ. vuttampi cetaṃ “ratto kho āvuso rāgena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanatī”tiādi. dosamohānaṃ akusalamūlabhāvepi eseva nayo.

0

96

pāṇātipātā veramaṇī kusalantiādīsu pāṇātipātādayo vuttatthā eva.

0

97

veraṃ maṇatīti veramaṇī, veraṃ

pajahatīti attho.

[Sự kềm tránh – veramaṇī] chỉ đến việc người ta nghiền nát cái nghịch, từ bỏ cái nghịch; ý nghĩa là như vậy(i).

—–

(i) Trong ngũ giới, từ Pāḷi [veramaṇī] thường hay được dịch là [tránh xa, cố ý tránh xa…]. Nghĩa đó không sai, tuy nhiên theo Sớ Giải tương ứng, còn một cách hiểu khác: [veramaṇī] là từ ghép, gồm [vera – cái nghịch, điều nghịch, kẻ thù…] và [maṇī – sự nghiền nát, sự phá hủy]. Khái niệm [vera – cái nghịch] ở đây chỉ đến sự sát sinh vân vân, vì chúng sẽ mang lại tai hại cho người thực hiện chúng, là kẻ thù của người thực hiện chúng. Câu Sớ Giải: Veranti pāṇātipātādipāpadhammaṃ.

98

viramati vā etāya karaṇabhūtāya,

vikārassa vekāraṃ katvāpi veramaṇī.

Hoặc [sự kềm tránh – veramaṇī] chỉ đến việc người ta kềm tránh [viramati] nhân tố gây ra việc đó(i), với âm [vi] được thay thế bằng âm [ve](ii).

—–

(i) Việc sát sinh vân vân.

(ii) Động từ [viramati] có nghĩa là [kềm tránh], danh từ phát xuất từ nó sẽ có nghĩa là [sự kềm tránh, việc kềm tránh…]. Danh từ này đáng lẽ phải là [viramaṇī], thì lại trở thành [veramaṇī] do biến âm [vi] thành [ve], có thể theo luật cường hóa nguyên âm Pāḷi. Tuy nhiên, các sự biến âm này đôi khi không thể giải thích được rõ ràng.

99

ayaṃ tāvettha byañjanato vaṇṇanā. atthato pana veramaṇīti

kusalacittasampayuttā virati.

Cho đến đây, đó là sự giải thích theo âm tự. Còn theo ý nghĩa, [sự kềm tránh] là sự tránh thoát hiệp hành với thiện tâm.

100

 yā “pāṇātipātā viramantassa, yā

tasmiṃ samaye pāṇātipātā ārati

viratī”ti evaṃ vuttā

kusalacittasampayuttā virati, sā

bhedato tividho hoti sampattavirati

samādānavirati samucchedaviratīti.

Đối với người đang tránh thoát sự sát sinh, cái nào là sự tránh né [ārati] sự sát sinh, sự tránh thoát [virati] sự sát sinh vào lúc đó, thì cái được nói như thế đó là sự tránh thoát hiệp hành với thiện tâm(i); khi phân chia, sự tránh thoát ấy có 3 loại: (1) Sự tránh thoát khỏi đối tượng hiện đến; (2) Sự tránh thoát do gìn giữ; và (3) Sự tránh thoát do đoạn tuyệt.

—–

(i) Câu này để ví dụ cụ thể, cung cấp bối cảnh cho ta hiểu về sự tránh thoát hiệp hành với thiện tâm. Khi hành giả tránh thoát việc bất thiện như sát sinh… thì sự tránh thoát đó là sự tránh thoát hiệp hành với thiện tâm. Còn như tránh thoát chủ nợ vì thiếu tiền thì không phải.

101

tattha asamādinnasikkhāpadānaṃ

attano jātivayabāhusaccādīni

paccavekkhitvā “ayuttaṃ amhākaṃ evarūpaṃ kātun”ti sampattavatthuṃ avītikkamantānaṃ uppajjamānā

virati sampattaviratīti veditabbā

sīhaḷadīpe cakkanaupāsakassa viya.

Trong chủ đề này, sự tránh thoát khỏi đối tượng hiện đến nên được hiểu là sự tránh thoát đang sinh lên cho những người chưa gìn giữ giới(i), (những người ấy) không xâm phạm đối tượng đã hiện đến, (với suy nghĩ) rằng ‘Việc như vậy thì không thích hợp để được làm bởi chúng ta’, sau khi đã suy xét tri thức sâu sắc về sinh, già vân vân của bản thân mình; giống như (câu chuyện) của vị cận sự nam Cakkana ở đảo Sīhaḷa(ii).

—–

(i) Tức chưa thọ giới.

(ii) Khái niệm này được định nghĩa khá trừu tượng, câu chuyện minh họa sẽ làm rõ hơn.

102

tassa kira daharakāleyeva mātuyā

rogo uppajji. vejjena ca

“allasasamaṃsaṃ laddhuṃ vaṭṭatī”ti vuttaṃ. tato cakkanassa bhātā “gaccha tāta

khettaṃ āhiṇḍāhī”ti cakkanaṃ

pesesi. so tattha gato.

Quả thật, vào chính giai đoạn trẻ tuổi của vị ấy (Cakkana), một căn bệnh đã sinh lên cho thân mẫu vị ấy. Và lời nói của người thầy thuốc là: ‘Cần có được thịt thỏ tươi!’ Vì thế, người anh của Cakkana đã phái Cakkana đi (với lời nói) rằng ‘Em yêu quý! Hãy đi! Hãy lùng sục ở cánh đồng!’ Cakkana đã đi đến đó.

103

tasmiñca samaye eko saso

taruṇasassaṃ khādituṃ āgato hoti,

so taṃ disvā vegena dhāvento

valliyā baddho “kiri kirī”ti

saddamakāsi. cakkano tena saddena gantvā taṃ

gahetvā cintesi “mātu bhesajjaṃ

karomī”ti.

Rồi vào lúc ấy, một con thỏ đã đến (cánh đồng) để ăn hạt và chồi cây; nó nhìn thấy vị ấy, trong khi bỏ chạy thật nhanh, nó bị mắc vào một dây leo và phát ra tiếng ‘Kiri kiri.’ Nhờ âm thanh đó, Cakkana đi đến (đó), bắt lấy nó rồi nghĩ rằng ‘Ta hãy làm thuốc cho mẹ ta!’

104

puna cintesi “na metaṃ patirūpaṃ,

yvāhaṃ mātu jīvitakāraṇā paraṃ

jīvitā voropeyyan”ti. atha naṃ “gaccha araññe sasehi

saddhiṃ tiṇodakaṃ paribhuñjā”ti

muñci.

Vị ấy lại suy nghĩ lần nữa rằng ‘Điều đó thật không thích hợp cho ta; do nguyên nhân là mạng sống của mẹ ta, chính ta lại cướp mất mạng sống khỏi chúng sinh khác. Thế là vị ấy đã thả con thỏ, (với lời nói) rằng: ‘Hãy đi vào trong rừng, hãy ăn cỏ uống nước với những con thỏ khác!’

105

bhātarā ca “kiṃ tāta saso laddho”ti

pucchito taṃ pavattiṃ ācikkhi. tato naṃ bhātā paribhāsi. so mātusantikaṃ gantvā “yatohaṃ

jāto, nābhijānāmi sañcicca pāṇaṃ

jīvitā voropetā”ti saccaṃ vatvā

adhiṭṭhāsi. tāvadevassa mātā arogā ahosi.

Khi được hỏi bởi người anh rằng ‘Em yêu quý! Thỏ có được bắt hay không?’, vị ấy đã thuật lại sự việc đó. Thế là người anh trách mắng Cakkana. Vị ấy bèn đi đến gần người mẹ, nói sự thật rằng ‘Từ khi con được sinh ra, con không biết cố ý cướp sinh mạng khỏi chúng sinh!’ rồi kiên định. Ngay khi ấy, người mẹ của vị ấy đã hết bệnh(i).

—–

(i) Chú giải cho biết vị Cakkana này là cận sự nam [upāsaka], tuy nhiên, bối cảnh câu chuyện cho thấy lúc này vị ấy chưa biết đến 5 giới; đối tượng hiện đến ở đây là con thỏ; vị ấy tha mạng con thỏ vì suy xét đến mạng sống của mẹ mình và mạng sống của con thỏ.

106

samādinnasikkhāpadānaṃ pana

sikkhāpadasamādāne ca tatuttari ca attano jīvitampi pariccajitvā vatthuṃ avītikkamantānaṃ uppajjamānā

virati samādānaviratīti veditabbā

uttaravaḍḍhamānapabbatavāsīupāsakassa viya.

Sự tránh thoát do gìn giữ nên được hiểu là sự tránh thoát đang sinh lên cho những người gìn giữ giới, (những người ấy) không xâm phạm đối tượng bằng cách từ bỏ sinh mạng của bản thân trong khi gìn giữ các điều giới hoặc trong khi (thực hành) những điều cao cả hơn; giống như (câu chuyện) của vị cận sự nam sống ở núi Uttaravaḍḍhamāna.

107

so kira

ambariyavihāravāsīpiṅgalabuddharakkhitattherassa santike sikkhāpadāni gahetvā khettaṃ kassati. athassa

goṇo naṭṭho, so taṃ gavesanto

uttaravaḍḍhamānapabbataṃ āruhi,

tatra naṃ mahāsappo aggahesi.

Khi đó, vị ấy (vị cận sự nam) nhận các điều giới trong sự hiện diện của trưởng lão Piṅgala Buddharakkhita – là người ngụ ở chùa Ambariya, rồi cày ruộng. Thế rồi, một con bò của vị ấy bị mất; trong khi tìm con bò đó, vị ấy đã đi lên núi Uttaravaḍḍhamāna, tại đó, một con rắn lớn đã mổ vị ấy. 

108

so cintesi “imāyassa tikhiṇavāsiyā

sīsaṃ chindāmī”ti. puna cintesi “na metaṃ patirūpaṃ,

yvāhaṃ bhāvanīyassa garuno

santike sikkhāpadaṃ gahetvā

bhindeyyan”ti.

Vị ấy nghĩ: ‘Ta hãy chặt đầu nó bằng con dao nhọn này.’ Vị ấy lại nghĩ: ‘Điều đó thật không thích hợp cho ta, khi ta đã nhận điều giới trong sự hiện diện của vị thầy đáng được kính trọng rồi lại phá vỡ nó.’

109

evaṃ yāvatatiyaṃ cintetvā “jīvitaṃ pariccajāmi, na sikkhāpadan”ti aṃse ṭhapitaṃ tikhiṇadaṇḍavāsiṃ araññe chaḍḍesi. tāvadeva naṃ mahāvāḷo

muñcitvā agamāsīti.

Đến lần thứ 3, vị ấy nghĩ như thế này: ‘Ta hãy từ bỏ mạng sống, chứ đừng từ bỏ điều giới!’ rồi ném con dao và cây gậy nhọn được đặt ở bên vai vào trong rừng. Đúng lúc đó, con rắn lớn thả vị ấy rồi đi.

110

ariyamaggasampayuttā pana virati

samucchedaviratīti veditabbā.  yassā uppattito pabhuti “pāṇaṃ

ghātessāmī”ti ariyapuggalānaṃ

cittampi na uppajjatīti.

Sự tránh thoát do đoạn tuyệt nên được hiểu là sự tránh thoát hiệp hành với thánh đạo. Kể từ lúc sự tránh thoát đó sinh lên, tâm của các thánh nhân không còn sinh lên rằng ‘Ta sẽ giết hại sinh mạng.’ 

111

sā panāyaṃ virati kosallappavattiyā kusalanti vuttā. kucchitasayanato vā kusanti laddhavohāraṃ dussīlyaṃ

lunātītipi kusalaṃ.

Chính sự tránh thoát đó được gọi là ‘thiện’ do sự tiến hành điều thiện. (Hoặc nó là) thiện [kusala] do sự dẹp trừ cái hạ tiện, hoặc do nó cắt bỏ tà giới – còn có biệt danh là cỏ Kusa(i).

—–

(i) Giải thích theo cách chơi chữ: [Kusala – thiện] gồm có [Kusa] + [la], kusa là một giống cỏ. Kusala là cái trừ bỏ cỏ kusa.

112

katamañcāvuso kusalanti imassa pana pañhassa ananurūpattā kusalāti na vuttā.

0

113

yathā ca akusalānaṃ, evaṃ

imesampi kusalakammapathānaṃ

dhammato koṭṭhāsato ārammaṇato

vedanāto mūlatoti pañcahākārehi

vinicchayo veditabbo.

Giống như (sự phân biệt) các bất thiện nghiệp, cũng vậy, sự phân biệt các con đường thiện nghiệp này nên được hiểu theo 5 phương cách: (1) Về bản chất; (2) Về thành tố; (3) Về đối tượng; (4) Về thọ và (5) Về căn.

114

tattha dhammatoti etesu hi

paṭipāṭiyā satta cetanāpi vaṭṭanti,

viratiyopi. ante tayo

cetanāsampayuttāva.

Trong chủ đề này, [về bản chất] tức là: quả thật, trong số các con đường thiện nghiệp ấy, thì theo tuần tự, 7 con đường có bản chất là tư và sự tránh thoát; 3 con đường cuối cùng thì hiệp hành với tư.

115

koṭṭhāsatoti paṭipāṭiyā satta

kammapathā eva, no mūlāni. ante

tayo kammapathā ceva mūlāni ca.

anabhijjhā hi mūlaṃ patvā alobho

kusalamūlaṃ hoti. abyāpādo adoso kusalamūlaṃ. sammādiṭṭhi amoho

kusalamūlaṃ.

[Về thành tố] tức là: theo tuần tự, 7 con đường (đầu tiên) chỉ là con đường nghiệp, không phải là căn; 3 con đường cuối cùng vừa là con đường nghiệp vừa là căn. Bởi vì khi cần nói đến căn, sự không khao khát là vô tham – một thiện căn; sự không ác ý là vô sân – một thiện căn; chánh kiến là vô si – một thiện căn.  

116

 ārammaṇatoti pāṇātipātādīnaṃ

ārammaṇāneva etesaṃ ārammaṇāni, vītikkamitabbatoyeva hi veramaṇī

nāma hoti. yathā pana

nibbānārammaṇo ariyamaggo kilese pajahati, evaṃ

jīvitindriyādiārammaṇāpete

kammapathā pāṇātipātādīni

dussīlyāni pajahantīti veditabbā.

[Về đối tượng] tức là: các đối tượng của những con đường thiện nghiệp ấy cũng chính là các đối tượng của sự sát sinh vân vân; bởi vì (sự tránh thoát) chính là sự kềm tránh khỏi (đối tượng) có thể bị xâm phạm. Giống như thánh đạo trong khi có đối tượng là Niết Bàn thì từ bỏ các phiền não; cũng vậy, các con đường nghiệp ấy trong khi có đối tượng là mạng quyền vân vân thì từ bỏ các tà giới như sát sinh vân vân; chúng nên được hiểu như vậy.

117

 vedanātoti sabbe sukhavedanā vā

honti, majjhattavedanā vā. kusalaṃ patvā hi dukkhavedanā nāma natthi.

[Về thọ] tức là: tất cả các con đường thiện nghiệp đều có khổ thọ hoặc xả thọ. Bởi vì khi nói đến cái thiện thì không có cái được gọi là khổ thọ.

118

 mūlatoti paṭipāṭiyā satta

kammapathā ñāṇasampayuttacittena viramantassa

alobhādosāmohavasena timūlā honti. ñāṇavippayuttacittena viramantassa dvimūlā. anabhijjhā

ñāṇasampayuttacittena viramantassa dvimūlā. ñāṇavippayuttacittena

ekamūlā. alobho pana attanāva

attano mūlaṃ na hoti, abyāpādepi

eseva nayo. sammādiṭṭhi

alobhādosavasena dvimūlāvāti.

[Về căn] tức là: theo tuần tự, 7 con đường nghiệp (đầu tiên) có 3 căn – tức là vô tham, vô sân và vô si – đối với người tránh thoát bằng tâm hiệp hành với trí; có 2 căn đối với người tránh thoát bằng tâm bất hiệp hành với trí. Sự không khao khát có 2 căn đối với người tránh thoát bằng tâm hiệp hành với trí; có một căn đối với người tránh thoát bằng tâm bất hiệp hành với trí. Vô tham tự mình không phải là căn cho mình(i); chính phương thức đó (nên được hiểu) cho vô sân. Chánh kiến có 2 căn – tức là vô tham và vô sân.

—–

(i) Vô tham [alobha] là căn cho các pháp thiện khác, nó không có cái gì làm căn cho nó. Giống như cái nền nhà chống đỡ căn nhà thì không có cái gì làm nền cho nó nữa.

119

 alobho kusalamūlantiādīsu na lobhoti alobho, lobhapaṭipakkhassa dhammassetaṃ adhivacanaṃ. adosāmohesupi eseva nayo.

0

120

tesu alobho sayañca kusalaṃ,

imesañca pāṇātipātā

veramaṇīādīnaṃ kusalānaṃ kesañci sampayuttappabhāvakaṭṭhena

kesañci upanissayapaccayaṭṭhena

mūlanti kusalamūlaṃ.

Trong số chúng (vô tham, vô sân, vô si), vô tham tự mình là thiện; và nó là căn của những con đường thiện ấy – tức sự kềm tránh sát sinh vân vân; đối với một số con đường, (nó là căn) theo nghĩa là sức mạnh hiệp hành; đối với một số con đường, (nó là căn) theo nghĩa là nhân làm nền tảng. Thiện căn là như vậy.

121

adosāmohānampi kusalamūlabhāve eseva nayo.

Cũng chính phương thức đó (nên được hiểu) cho trạng thái thiện căn của vô sân và vô si.

122

 idāni sabbampi taṃ saṅkhepena ca vitthārena ca desitamatthaṃ nigamento yato kho āvusotiādiappanāvāramāha. tattha evaṃ akusalaṃ pajānātīti evaṃ yathāniddiṭṭhadasākusalakammapathavasena akusalaṃ pajānāti. evaṃ akusalamūlantiādīsupi eseva nayo.

0

123

ettāvatā ekena nayena

catusaccakammaṭṭhānikassa yāva

arahattā niyyānaṃ kathitaṃ hoti.

kathaṃ? ettha hi ṭhapetvā abhijjhaṃ dasa akusalakammapathā ca

kusalakammapathā ca

dukkhasaccaṃ.

Cho đến chừng mực ấy, sự giải thoát cho đến trạng thái A La Hán đã được giảng giải bằng một thể thức cho người có đề mục thiền là 4 chân lý. Như thế nào? Trong chủ đề này, quả thực, 10 con đường bất thiện nghiệp ngoại trừ sự khao khát [abhijjhā] và 10 con đường thiện nghiệp là Chân Lý về Khổ.

124

abhijjhā ca lobho akusalamūlañcāti

ime dve dhammā nippariyāyena

samudayasaccaṃ.  pariyāyena pana sabbepi kammapathā dukkhasaccaṃ. sabbāni kusalākusalamūlāni

samudayasaccaṃ. ubhinnaṃ appavatti nirodhasaccaṃ.

Một cách chặt chẽ, sự khao khát hay tham – vốn là bất thiện căn – 2 pháp này là Chân Lý về Nguồn Gốc Khổ. Một cách mở rộng, tất cả các con đường nghiệp là Chân Lý về Khổ; tất cả các thiện và bất thiện căn là Chân Lý về Nguồn Gốc Khổ. Sự không xảy ra của cả 2 cái đó là Chân Lý về Diệt Khổ.

125

dukkhaṃ parijānanto samudayaṃ

pajahamāno nirodhaṃ pajānanto

ariyamaggo maggasaccanti iti dve

saccāni sarūpena vuttāni, dve

āvattahāravasena veditabbāni.

Thánh đạo trong khi thấu biết khổ, từ bỏ nguồn gốc khổ, rõ biết sự diệt khổ chính là Chân Lý về Đạo; như vậy, 2 chân lý được nói dựa theo dạng thức của chúng, 2 chân lý (còn lại) nên được hiểu theo Phép Nghịch Đảo(i).

—–

(i) Phép nghịch đảo [Āvattahāra] là một phương pháp diễn giải, được trình bày trong bộ Nettippakaraṇa – một cẩm nang về luận giải kinh. Theo phương pháp này, khi đọc một bài kinh, người ta quan sát và rút ra từ nội dung bài kinh một khái niệm Phật Pháp, giải thích nội dung, giảng rộng khái niệm đó rồi chỉ ra tiếp một khái niệm khác liên quan đến khái niệm trước và giảng tiếp về nó; khái niệm thứ 2 có thể được nói thẳng, hàm ý hoặc không hề được nói đến trong nội dung bài kinh. 2 khái niệm này thường đi thành cặp liên quan nhau – chẳng hạn: khổ/nguồn gốc khổ; khổ/diệt khổ; tinh tấn/dễ duôi… 

126

 so sabbaso rāgānusayaṃ pahāyāti so evaṃ akusalādīni pajānanto sabbākārena rāgānusayaṃ pajahitvā. paṭighānusayaṃ paṭivinodetvāti paṭighānusayañca sabbākāreneva nīharitvāti vuttaṃ hoti.

0

127

ettāvatā anāgāmimaggo kathito.

Cho đến chừng mực ấy, bất lai đạo đã được nói.

128

asmīti diṭṭhimānānusayaṃ samūhanitvāti pañcasu khandhesu kañci dhammaṃ anavakārīkaritvā “asmī”ti iminā samūhaggahaṇākārena pavattaṃ diṭṭhimānānusayaṃ samugghāṭetvā.

0

129

tattha diṭṭhimānānusayanti

diṭṭhisadisaṃ mānānusayanti vuttaṃ hoti. ayañhi mānānusayo asmīti

pavattattā diṭṭhisadiso hoti, tasmā

evaṃ vutto. imañca asmimānaṃ

vitthārato viññātukāmena

khandhiyavagge khemakasuttaṃ

(saṃ. ni. 3.89) oloketabbanti.

Tại câu kinh đó, Mạn Tùy Miên tương tự như Kiến được gọi là [Kiến Mạn Tùy Miên]. Bởi vì mạn tùy miên ấy thì giống với Kiến do sự diễn tiến của ý niệm ‘Ta là/Ta tồn tại(i)’, do đó, nó được gọi như vậy. Và người nào muốn hiểu chi tiết ngã mạn ‘Ta là/Ta tồn tại’ đó nên xem bài kinh Khemakasutta trong Khandhiyavagga.

—–

 

(i) Động từ Pāḷi [asmi] có 2 chức năng: (1) Làm liên động từ, sẽ có nghĩa [ta là (ai đó)]; (2) Làm nội động từ, sẽ có nghĩa [ta tồn tại].

130

avijjaṃ pahāyāti vaṭṭamūlaṃ avijjaṃ pajahitvā. vijjaṃ uppādetvāti tassā avijjāya samugghāṭikaṃ arahattamaggavijjaṃ uppādetvā. ettāvatā arahattamaggo kathito. ettāvatāpi kho, āvusoti desanaṃ niyyāteti, imāya kammapathadesanāya vuttamanasikārappaṭivedhavasenapīti vuttaṃ hoti. sesaṃ vuttanayameva. evaṃ anāgāmimaggārahattamaggehi desanaṃ niṭṭhapesīti.

0

131

90. sādhāvusoti kho … pe … āgato imaṃ saddhammanti evaṃ āyasmato sāriputtassa kusalākusalamukhena catusaccadesanaṃ sutvā taṃ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ “sādhāvuso”ti iminā vacanena te bhikkhū abhinanditvā imasseva vacanassa samuṭṭhāpakena cittena anumoditvā vacasā sampaṭicchitvā cetasā sampiyāyitvāti vuttaṃ hoti. idāni yasmā thero nānappakārena catusaccadesanaṃ desetuṃ paṭibalo, yathāha “sāriputto, bhikkhave, pahoti cattāri ariyasaccāni vitthārena ācikkhituṃ desetun”ti yasmā vā uttarimpi desetukāmova hutvā “ettāvatāpi kho”ti avaca, tasmā aparenapi nayena saccadesanaṃ sotukāmā te bhikkhū āyasmantaṃ sāriputtaṃ uttariṃ pañhaṃ apucchiṃsu. tena sayameva pucchitvā vissajjitapañhato uttariṃ siyā kho panāvuso, aññopi pariyāyo bhaveyya aññampi kāraṇanti iminā nayena aññaṃ atirekaṃ pañhaṃ pucchiṃsu, purimapañhassa vā uparibhāge pucchiṃsūti vuttaṃ hoti. atha nesaṃ byākaramāno thero siyā, āvusotiādimāha.

0

132

tatthāyaṃ anuttānapadavaṇṇanā,

āhāranti paccayaṃ. paccayo hi

āharati attano phalaṃ, tasmā

“āhāro”ti vuccati.

Trong chủ đề này, đây là sự giải thích cho từ chưa rõ (nghĩa): [thức ăn] là duyên. Bởi vì duyên nuôi dưỡng quả của chính nó, cho nên nó được gọi là ‘thức ăn’.

133

bhūtānaṃ vā sattānantiādīsu bhūtāti sañjātā, nibbattā. sambhavesīnanti ye sambhavaṃ

jātiṃ nibbattiṃ esanti gavesanti. 

tattha catūsu yonīsu aṇḍajajalābujā

sattā yāva aṇḍakosaṃ vatthikosañca na bhindanti, tāva sambhavesino

nāma. aṇḍakosaṃ vatthikosañca

bhinditvā bahi nikkhantā bhūtā

nāma.

Trong cụm từ [các chúng sinh đã sinh ra] vân vân; [đã sinh ra] tức là đã sinh [sañjāta], đã tái sinh [nibbatta]. [(Những chúng sinh) tìm kiếm hiện hữu] tức những chúng sinh ấy tìm kiếm, tầm cầu sự hiện hữu, sự sinh, sự tái sinh. Trong chủ đề này, trong số 4 loài, các chúng sinh noãn sinh và thai sinh khi nào (chúng) chưa phá vỡ vỏ trứng hay màng thai(i) thì khi ấy (chúng) được gọi là [(những chúng sinh) tìm kiếm hiện hữu]. Khi chúng phá vỡ vỏ trứng hay màng thai, ra ngoài rồi thì được gọi là [(những chúng sinh) đã sinh ra].

—–

(i) Tức màng ối.

134

saṃsedajā opapātikā ca

paṭhamacittakkhaṇe sambhavesino

nāma. dutiyacittakkhaṇato pabhuti

bhūtā nāma. yena yena vā iriyāpathena jāyanti,

yāva te tato aññaṃ na pāpuṇanti,

tāva sambhavesino nāma. tato paraṃ bhūtā nāma.

Các chúng sinh thấp sinh và hóa sinh vào thời khắc tâm đầu tiên được gọi là (những chúng sinh) tìm kiếm hiện hữu; kể từ thời khắc tâm thứ hai, được gọi là (những chúng sinh) đã sinh ra. Hoặc chúng sinh ra trong chính tư thế nào, thì khi nào chúng chưa đạt đến tư thế khác với tư thế đó, thì khi đó chúng được gọi là (những chúng sinh) tìm kiếm hiện hữu; khi nào chúng đạt đến tư thế khác với tư thế đó, thì khi đó chúng được gọi là (những chúng sinh) đã sinh ra.

135

atha vā bhūtāti jātā abhinibbattā, ye bhūtāyeva na puna bhavissantīti

saṅkhyaṃ gacchanti, tesaṃ

khīṇāsavānametaṃ adhivacanaṃ.

sambhavamesantīti sambhavesino.

appahīnabhavasaṃyojanattā

āyatimpi sambhavaṃ esantānaṃ

sekkhaputhujjanānametaṃ

adhivacanaṃ. evaṃ sabbathāpi imehi dvīhi padehi sabbasatte pariyādiyati.

Hoặc [đã sinh ra] tức là đã sinh [jāta], đã tái sinh [abhinibbatta]; chính những chúng sinh nào được quan niệm là ‘(họ) sẽ không tồn tại trở lại nữa’, thì đó (đã sinh ra) là thuật ngữ gọi các bậc lậu tận ấy(i). Những chúng sinh nào tìm kiếm sự hiện hữu, thì (được gọi là) [(những chúng sinh) tìm kiếm hiện hữu]; đó là thuật ngữ gọi các thường nhân và các bậc hữu học đang tìm kiếm sự hiện hữu trong tương lai do trạng thái trói buộc vào hữu chưa được từ bỏ. Như vậy bằng 2 từ đó, (Đức Phật) bao hàm mọi chúng sinh theo mọi thể thức.

—–

(i) Các bậc lậu tận đã sinh ra (trong kiếp cuối) nhưng sẽ không tái sinh thêm kiếp nào nữa; nên họ được gọi là bậc đã sinh ra (chứ không sinh ra thêm nữa). 

136

vāsaddo cettha sampiṇḍanattho, tasmā bhūtānañca sambhavesīnañcāti ayamattho veditabbo. ṭhitiyāti ṭhitatthaṃ. anuggahāyāti anuggahatthaṃ upakāratthaṃ. vacanabhedo cesa, attho pana dvinnampi padānaṃ ekoyeva.

0

137

atha vā ṭhitiyāti tassa tassa sattassa

uppannadhammānaṃ

anuppabandhavasena avicchedāya. anuggahāyāti anuppannānaṃ

uppādāya. ubhopi cetāni bhūtānaṃ ṭhitiyā ceva anuggahāya ca. sambhavesīnaṃ vā

ṭhitiyā ceva anuggahāya cāti evaṃ

ubhayattha daṭṭhabbāni.

Hoặc [vì sự duy trì] tức là vì sự không đứt đoạn của chúng sinh này chúng sinh kia dựa vào sự tiếp nối của các pháp đã sinh lên. [Vì sự hỗ trợ] tức là vì sự sinh lên của các pháp chưa sinh lên. Cả 2 từ đó nên được hiểu ở cả 2 trường hợp như thế này: ‘Vì sự duy trì và vì sự hỗ trợ của các chúng sinh đã sinh ra; và vì sự duy trì và vì sự hỗ trợ của các chúng sinh tìm kiếm hiện hữu.’

138

kabaḷīkāro āhāroti kabaḷaṃ katvā

ajjhoharitabbato kabaḷīkāro āhāro,

odanakummāsādivatthukāya

ojāyetaṃ adhivacanaṃ. oḷāriko vā sukhumo vāti

vatthuoḷārikatāya oḷāriko,

vatthusukhumatāya sukhumo.

[Đoàn thực(i)] tức là sau khi vo lại, thức ăn đã được vo lại đó sẽ được người ta nuốt lấy; đó là thuật ngữ chỉ đến dưỡng chất từ (vật thực như) cơm, sữa đông vân vân. [Thô hay tế] tức là thô do tính chất thô của vật thực, tế do tính chất tế của vật thực.

 

—–

(i) [Đoàn thực] là một từ Hán Việt, với [thực = thức ăn, đồ ăn], [đoàn = cuộn lại, vo lại]; [đoàn thực] tức là thức ăn được vo nắm lại – hợp với thói quen ăn bốc của người Ấn mà ngày nay vẫn còn.

139

sabhāvena pana

sukhumarūpapariyāpannattā

kabaḷīkāro āhāro sukhumova hoti.

Thế nhưng, về mặt bản chất, đoàn thực có tính chất tế do thuộc về nhóm tế sắc(i).

—–

(i) Về mặt tục đế, thì đoàn thực gồm có 2 loại là thô và tế. Trong đó thô là loại đoàn thực có trong những thực phẩm thô, xấu, không ngon; tế là loại đoàn thực có trong những thực phẩm ngon, hảo hạng. Nhưng về mặt chân đế – theo giáo lý Vi Diệu Pháp – thì đoàn thực chỉ có một loại là tế, vì nó thuộc vào nhóm tế sắc.

140

sāpi cassa vatthuto oḷārikatā sukhumatā ca upādāyupādāya veditabbā.

0

141

kumbhīlānañhi āhāraṃ upādāya

morānaṃ āhāro sukhumo.  kumbhīlā kira pāsāṇe gilanti. te ca nesaṃ kucchippattāva

vilīyanti.  morā sappavicchikādipāṇe khādanti.

Quả thực, thực phẩm của loài công thì tinh tế hơn thực phẩm của loài cá sấu. Thực vậy, cá sấu nuốt những hòn đá. Những hòn đá ấy tiêu tan đi vào lúc đến bao tử của lũ cá sấu. Loài công ăn các sinh vật như rắn, bò cạp vân vân. 

142

morānaṃ pana āhāraṃ upādāya

taracchānaṃ āhāro sukhumo. te kira tivassachaḍḍitāni visāṇāni

ceva aṭṭhīni ca khādanti. tāni ca nesaṃ kheḷena

temitamatteneva kandamūlaṃ viya mudukāni honti.

Nhưng thực phẩm của loài linh cẩu thì tinh tế hơn thực phẩm của loài công. Thực vậy, chúng ăn những khúc xương và sừng đã bị bỏ đi từ 3 năm trước. Những thức ăn này thì mềm như ruột củ ngay khi được thấm ướt bởi nước bọt của chúng.

143

taracchānampi āhāraṃ upādāya

hatthīnaṃ āhāro sukhumo. tepi nānārukkhasākhāyo khādanti. hatthīnaṃ āhārato

gavayagokaṇṇamigādīnaṃ āhāro

sukhumo. te kira nissārāni

nānārukkhapaṇṇādīni khādanti.

Nhưng thực phẩm của loài voi thì tinh tế hơn thực phẩm của loài linh cẩu. Chúng ăn các cành của nhiều loại cây. Thực phẩm của bò tót, hươu, nai vân vân thì tinh tế hơn thực phẩm của loài voi. Thực vậy, chúng ăn các lá cây vân vân không còn nhựa sống thuộc nhiều loại cây.

144

tesampi āhārato gunnaṃ āhāro sukhumo. te allasukkhatiṇāni khādanti. tesaṃ āhārato sasānaṃ āhāro sukhumo. sasānaṃ āhārato sakuṇānaṃ āhāro sukhumo. sakuṇānaṃ āhārato paccantavāsīnaṃ āhāro sukhumo. paccantavāsīnaṃ āhārato gāmabhojakānaṃ āhāro sukhumo. gāmabhojakānaṃ āhārato rājarājamahāmattānaṃ āhāro sukhumo. tesampi āhārato cakkavattino āhāro sukhumo. cakkavattino āhārato bhummadevānaṃ āhāro sukhumo. bhummadevānaṃ āhārato cātumahārājikānaṃ āhāro sukhumo. evaṃ yāva paranimmitavasavattīnaṃ āhāro vitthāretabbo, tesaṃ āhāro sukhumotveva niṭṭhaṃ patto.

0

145

ettha ca oḷārike vatthusmiṃ ojā

parittā hoti dubbalā, sukhume

balavatī. tathā hi ekapattapūrampi yāguṃ

pīvato muhutteneva jighacchito hoti, yaṃkañcideva khāditukāmo. sappiṃ pana pasaṭamattaṃ pivitvā

divasaṃ abhottukāmo hoti.

Trong chủ đề này, dưỡng chất trong vật thực thô thì ít ỏi, yếu kém; trong vật thực tinh tế thì mạnh mẽ. Quả thực như thế này: người nào đã húp một lượng cháo đầy một tô, chỉ trong phút chốc người đó lại thèm ăn; muốn ăn bất kỳ thứ gì. Nhưng người nào húp một ít bơ, cả ngày người ấy chẳng thèm ăn.

146

tattha vatthu parissamaṃ vinodeti,

na pana sakkoti pāletuṃ. ojā pāleti, na sakkoti parissamaṃ vinodetuṃ.

dve pana ekato hutvā

parissamañceva vinodenti pālenti

cāti.

Trong chủ đề này, vật thực triệt tiêu sự mệt nhọc nhưng không thể bảo quản được; dưỡng chất bảo quản được, nhưng không thể triệt tiêu sự mệt nhọc; nhưng khi 2 thứ này trở thành một, chúng vừa triệt tiêu sự mệt nhọc lẫn (có thể) bảo quản được.

147

phasso dutiyoti

cakkhusamphassādi chabbidhopi

phasso. etesu catūsu āhāresu dutiyo āhāroti

veditabbo. desanānayo eva cesa. tasmā iminā

nāma kāraṇena dutiyo vā tatiyo vāti idamettha na gavesitabbaṃ. manosañcetanāti cetanā eva vuccati. viññāṇanti yaṃkiñci cittaṃ.

[Xúc – (loại thức ăn) thứ 2] tức là: Xúc gồm 6 loại, như Nhãn Xúc vân vân. Trong 4 loại thức ăn đó, xúc nên được hiểu là loại thức ăn thứ 2. Và đó chính là phương pháp của bài giảng. Do đó, ở đây, điều đó không nên được khảo sát rằng: do nguyên nhân này kia mà xúc là loại thức ăn thứ 2 hay thứ 3(i). Chính Tư được gọi là [Tư Niệm]. [Thức] tức là bất kỳ tâm gì.  

—–

(i) Việc xem xúc là loại thức ăn thứ 2 là quy định, quy ước của bài giảng như thế, không nên cố tìm nguyên nhân sâu xa gì khác.

148

etthāha, yadi paccayaṭṭho āhāraṭṭho, atha kasmā aññesupi sattānaṃ

paccayesu vijjamānesu imeyeva

cattāro vuttāti?

Trong chủ đề này, người ta hỏi rằng: ‘Nếu ý nghĩa của (khái niệm) thức ăn chính là ý nghĩa của (khái niệm) duyên, thế thì tại sao trong khi có những duyên khác cho (sự tồn tại của) chúng sinh, thì chỉ 4 loại duyên này được nói?’

149

vuccate, ajjhattikasantatiyā

visesapaccayattā. visesapaccayo hi

kabaḷīkārāhārabhakkhānaṃ

sattānaṃ rūpakāyassa kabaḷīkāro

āhāro. nāmakāye vedanāya phasso,

viññāṇassa manosañcetanā,

nāmarūpassa viññāṇaṃ.

Điều đó được giải đáp rằng: (4 loại duyên đó được nói) do trạng thái là duyên đặc biệt cho sự tiếp diễn bên trong (chúng sinh). Bởi vì duyên đặc biệt cho sắc thân của các chúng sinh sống nhờ đoàn thực chính là đoàn thực; duyên đặc biệt cho thọ trong danh thân chính là xúc; duyên đặc biệt cho thức chính là tư niệm; duyên đặc biệt cho danh và sắc chính là thức.

150

yathāha —

“seyyathāpi, bhikkhave, ayaṃ kāyo āhāraṭṭhitiko, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhati, anāhāro no tiṭṭhati. tathā

phassapaccayā vedanā,

saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ,

viññāṇapaccayā nāmarūpan”ti.

 

Giống như (Đức Phật) đã nói:

‘Này các Tỳ Kheo, giống như thân này phụ thuộc thức ăn, tồn tại dựa vào thức ăn, không tồn tại khi thiếu thức ăn. Cũng vậy, thọ tồn tại do duyên là xúc, thức tồn tại do duyên là các hành, danh & sắc tồn tại do duyên là thức.’

151

ko panettha āhāro, kiṃ āharatīti? kabaḷīkārāhāro ojaṭṭhamakarūpāni

āharati. phassāhāro tisso vedanā,

manosañcetanāhāro tayo bhave,

viññāṇāhāro paṭisandhināmarūpanti.

Thế nhưng, trong chủ đề này, cái gì là thức ăn? Nó nuôi dưỡng cái gì? Đoàn thực nuôi dưỡng các sắc bằng dưỡng chất – tức sắc thứ 8(i). Xúc thực nuôi dưỡng 3 loại thọ. Tư niệm thực nuôi dưỡng 3 loại hữu. Thức thực nuôi dưỡng danh sắc tái hợp(ii).

—–

(i) Theo Vi Diệu Pháp, ở đây chỉ đến nhóm sắc [rūpakalāpa] đơn giản nhất – gồm: 4 đại, màu sắc, mùi, vị & dưỡng chất.

(ii) [Tái hợp – paṭisandhi] trước nay thường được dịch/hiểu là [tái sinh].

152

kathaṃ? kabaḷīkārāhāro tāva mukhe ṭhapitamattoyeva aṭṭha rūpāni

samuṭṭhāpeti. dantavicuṇṇitaṃ pana ajjhohariyamānaṃ ekekaṃ sitthaṃ

aṭṭhaṭṭha rūpāni samuṭṭhāpetiyeva.

evaṃ ojaṭṭhamakarūpāni āharati.

Như thế nào? Đoàn thực – ngay khi được đặt vào trong miệng – tạo ra 8 loại sắc. Thế rồi, từng bụm cơm – được nghiền nát bởi răng – trong khi được nuốt cũng liên tiếp tạo ra 8 loại sắc. Đoàn thực nuôi dưỡng các sắc bằng dưỡng chất – tức sắc thứ 8 – theo cách như vậy. 

153

phassāhāro pana sukhavedaniyo

phasso uppajjamāno sukhavedanaṃ āharati, tathā dukkhavedaniyo

dukkhaṃ,

adukkhamasukhavedaniyo

adukkhamasukhanti evaṃ

sabbathāpi phassāhāro tisso vedanā āharati.

Về xúc thực: loại xúc sinh ra lạc thọ – trong khi sinh lên – nuôi dưỡng lạc thọ; cũng vậy, loại xúc sinh ra khổ thọ – trong khi sinh lên – nuôi dưỡng khổ thọ; loại xúc sinh ra phi khổ phi lạc thọ – trong khi sinh lên – nuôi dưỡng phi khổ phi lạc thọ; như vậy, xúc thực nuôi dưỡng 3 loại thọ theo mọi trường hợp.

154

manosañcetanāhāro

kāmabhavūpagaṃ kammaṃ

kāmabhavaṃ āharati,

rūpārūpabhavūpagāni taṃ taṃ

bhavaṃ. evaṃ sabbathāpi

manosañcetanāhāro tayo bhave

āharati.

Về tư niệm thực: nghiệp dẫn đến dục hữu thì nuôi dưỡng dục hữu; các nghiệp dẫn đến sắc hữu hay phi sắc hữu thì nuôi dưỡng hữu tương ứng; như vậy, tư niệm thực nuôi dưỡng 3 loại hữu theo mọi trường hợp.

155

viññāṇāhāro pana ye ca

paṭisandhikkhaṇe taṃsampayuttakā tayo khandhā, yāni ca

tisantativasena tiṃsarūpāni

uppajjanti, sahajātādipaccayanayena tāni āharatīti vuccati. evaṃ

viññāṇāhāro paṭisandhināmarūpaṃ

āharatīti.

Về thức thực: những cái nào là 3 uẩn hiệp hành với nó (thức) vào thời điểm tái hợp và 30 loại sắc nào sinh lên do tác động của tam trú(i) thì thức nuôi dưỡng chúng bằng phương thức là điều kiện đồng sinh vân vân; điều đó được nói như vậy. Như vậy, thức thực nuôi dưỡng danh sắc tái hợp.

—–

(i) Theo Vi Diệu Pháp, tam trú [tisantati] tức là sự trú – sự tiếp tục, tiếp diễn – của tam thập sắc là thân thập pháp [kāyadasaka], tánh thập pháp [bhāvadasaka] và cơ thập pháp [vatthudasaka].

156

ettha ca manosañcetanāhāro tayo

bhave āharatīti sāsavā

kusalākusalacetanāva vuttā.

viññāṇaṃ paṭisandhināmarūpaṃ

āharatīti paṭisandhiviññāṇameva

vuttaṃ. avisesena pana

taṃsampayuttataṃsamuṭṭhānadhammānaṃ āharaṇato pete āhārāti

veditabbā.

Trong chủ đề này, về chi tiết [tư niệm thực nuôi dưỡng 3 loại hữu]: (tư niệm thực đó) chỉ đến thiện tư và bất thiện tư hữu lậu(i). Về chi tiết [thức thực nuôi dưỡng danh sắc tái hợp]: (thức thực đó) chỉ chỉ đến tái hợp thức. Thế nhưng, chúng được gọi là thức ăn một cách không phân biệt vì (chúng) nuôi dưỡng các pháp hiệp hành với chúng và khởi sinh bởi chúng.

—–

 

(i) Tư được chia thành 2 loại là thiện tư & bất thiện tư; chúng mang tính hữu lậu – tức thuộc về thường nhân cho đến bậc A Na Hàm.

157

etesu catūsu āhāresu kabaḷīkārāhāro upatthambhento āhārakiccaṃ

sādheti. phasso phusantoyeva,

manosañcetanā āyūhamānāva.

viññāṇaṃ vijānantameva.

Trong số 4 loại thức ăn này, đoàn thực hoàn thành chức năng thức ăn bằng cách củng cố (sức khỏe, sinh mạng); xúc thực hoàn thành chức năng thức ăn bằng cách xúc chạm; tư niệm thực hoàn thành chức năng thức ăn bằng cách tích trữ; thức thực hoàn thành chức năng thức ăn bằng cách tỏ biết.

158

kathaṃ? kabaḷīkārāhāro hi

upatthambhentoyeva

kāyaṭṭhapanena sattānaṃ ṭhitiyā

hoti. kammajanitopi hi ayaṃ kāyo

kabaḷīkārāhārena upatthambhito

dasapi vassāni vassasatampi yāva

āyuparimāṇaṃ tiṭṭhati. yathā kiṃ? yathā mātuyā janitopi

dārako dhātiyā thaññādīni pāyetvā

posiyamānova ciraṃ tiṭṭhati, yathā

cupatthambhena

upatthambhitagehaṃ.

Như thế nào? Quả thực, bằng cách củng cố, đoàn thực đạt đến mục đích duy trì các chúng sinh thông qua sự gìn giữ thân. Bởi vì thân này – được sinh ra do nghiệp, được củng cố bằng đoàn thực – tồn tại 10 năm hay 100 năm cho đến giới hạn tuổi thọ. Giống như chuyện gì? Giống như cậu bé trai – được sinh ra bởi người mẹ, được nuôi dưỡng bởi người vú bằng cách cho uống sữa mẹ vân vân – thì sống lâu dài; giống như ngôi nhà được củng cố bằng cái cột.

159

vuttampi cetaṃ —

“yathā mahārāja gehe patante aññena dārunā upatthambhenti, aññena dārunā upatthambhitaṃ santaṃ evaṃ taṃ gehaṃ na patati, evameva kho mahārāja ayaṃ kāyo āhāraṭṭhitiko, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhatī”ti.

0

160

evaṃ kabaḷīkāro āhāro

upatthambhento āhārakiccaṃ

sādheti. evaṃ sādhentopi ca

kabaḷīkāro āhāro dvinnaṃ

rūpasantatīnaṃ paccayo hoti

āhārasamuṭṭhānassa ca

upādinnassa ca. kammajānaṃ

anupālako hutvā paccayo hoti.

āhārasamuṭṭhānānaṃ janako hutvā

paccayo hoti.

Đoàn thực hoàn thành chức năng thức ăn bằng cách củng cố (sức khỏe, sinh mạng) như thế. Khi hoàn thành như vậy, đoàn thực là duyên cho 2 sự tiếp diễn của sắc – (sự tiếp diễn) của nhóm sắc được khởi sinh do thức ăn và (sự tiếp diễn) của nhóm thủ sắc(i). Nó là duyên cho các loại sắc được sinh do nghiệp bằng cách trở thành yếu tố gìn giữ (loại sắc đó). Nó là duyên cho các loại sắc được khởi sinh do thức ăn bằng cách trở thành yếu tố tạo sinh.

—–

(i) Theo Vi Diệu Pháp, [Thủ sắc – Upādinnarūpa] là loại sắc sinh ra do nghiệp, nhưng vẫn cần thức ăn hỗ trợ cho sự tiếp diễn của chúng.

161

phasso pana sukhādivatthubhūtaṃ ārammaṇaṃ phusantoyeva sukhādivedanāpavattanena sattānaṃ ṭhitiyā hoti. manosañcetanā kusalākusalakammavasena āyūhamānāyeva bhavamūlanipphādanato sattānaṃ ṭhitiyā hoti. viññāṇaṃ vijānantameva nāmarūpappavattanena sattānaṃ ṭhitiyā hoti.

0

162

evaṃ upatthambhanādivasena

āhārakiccaṃ sādhayamānesu

panetesu cattāri bhayāni

daṭṭhabbāni. seyyathidaṃ,

kabaḷīkārāhāre nikantiyeva bhayaṃ, phasse upagamanameva,

manosañcetanāya āyūhanameva,

viññāṇe abhinipātoyeva bhayanti.

Thế nhưng, trong khi chúng hoàn thành chức năng thức ăn bằng sức mạnh hỗ trợ vân vân, 4 sự nguy hiểm nên được nhìn thấy – tức là: đối với đoàn thực, sự nguy hiểm là sự tham muốn; đối với xúc, sự nguy hiểm là sự tiếp cận; đối với tư niệm, sự nguy hiểm là sự tích trữ; đối với thức, sự nguy hiểm là sự khởi đầu (kiếp sống mới).

163

kiṃ kāraṇā? kabaḷīkārāhāre hi

nikantiṃ katvā sītādīnaṃ

purekkhatā sattā āhāratthāya

muddāgaṇanādikammāni karontā

anappakaṃ dukkhaṃ nigacchanti.

Do nguyên nhân gì? Do vì các chúng sinh sau khi khởi sự tham muốn đối với đoàn thực, bị theo đuổi bởi lạnh (nóng) vân vân vì mục đích là thức ăn, (chúng) làm các nghề nghiệp như tính toán, kế toán vân vân và đi đến nỗi khổ không nhỏ.

164

ekacce ca imasmiṃ sāsane pabbajitvāpi vejjakammādikāya anesanāya āhāraṃ pariyesantā diṭṭhepi dhamme gārayhā honti. samparāyepi tassa saṅghāṭipi ādittā sampajjalitātiādinā lakkhaṇasaṃyutte vuttanayena samaṇapetā honti. imināva tāva kāraṇena kabaḷīkārāhāre nikantiyeva bhayanti veditabbā.

0

165

phassaṃ upagacchantāpi

phassassādino paresaṃ

rakkhitagopitesu dārādīsu bhaṇḍesu aparajjhanti. te saha bhaṇḍena bhaṇḍasāmikā

gahetvā khaṇḍākhaṇḍikaṃ vā

chinditvā saṅkārakūṭesu chaḍḍenti. rañño vā niyyātenti. tato ne rājā vividhā kammakāraṇā

kārāpeti. kāyassa ca bhedā duggati

nesaṃ pāṭikaṅkhā hoti.

Do tiếp cận xúc, những kẻ thỏa mãn trong xúc xâm phạm hàng hóa, vợ con vân vân vốn được bảo vệ, được canh giữ bởi những kẻ khác. Những người chủ hàng hóa bắt được những kẻ ấy cùng hàng hóa, chặt chúng thành từng mảnh rồi ném vào những đống rác hoặc dẫn chúng đến chỗ nhà vua. Từ đó, nhà vua khiến chúng chịu nhiều hình phạt đa dạng. Vào thời điểm tan rã thân, cõi khổ sẽ được mong chờ bởi chúng.

166

iti phassassādamūlakaṃ diṭṭhadhammikampi samparāyikampi bhayaṃ sabbamāgatameva hoti. iminā kāraṇena phassāhāre upagamanameva bhayanti veditabbaṃ.

0

167

kusalākusalakammāyūhaneneva

pana tammūlakaṃ tīsu bhavesu

bhayaṃ sabbamāgataṃyeva hoti.

iminā kāraṇena manosañcetanāhāre āyūhanameva bhayanti veditabbaṃ.

Toàn bộ sự nguy hiểm trong tam giới đã xuất hiện do chính sự tích trữ thiện nghiệp & bất thiện nghiệp và có gốc là (sự tích trữ) đó. Bởi nguyên nhân đó, đối với tư niệm thực, sự tích trữ nên được hiểu là sự nguy hiểm.

168

paṭisandhiviññāṇañca yasmiṃ

yasmiṃ ṭhāne abhinipatati, tasmiṃ

tasmiṃ ṭhāne paṭisandhināmarūpaṃ gahetvāva nibbattati, tasmiñca

nibbatte sabbabhayāni

nibbattāniyeva honti,

tammūlakattāti, iminā kāraṇena

viññāṇāhāre abhinipātoyeva

bhayanti veditabbo.

Và ở bất kỳ nơi nào, tái hợp thức khởi đầu (kiếp sống mới); thì tại chính nơi đó, nó tái sinh bằng cách nắm bắt tái hợp danh sắc. Khi nó tái sinh, toàn bộ các sự nguy hiểm cũng sinh ra do chúng có gốc là nó. Bởi nguyên nhân đó, đối với thức thực, chính sự khởi đầu nên được hiểu là sự nguy hiểm.

169

evaṃ sabhayesu pana imesu āhāresu sammāsambuddho kabaḷīkārāhāre nikantipariyādānatthaṃ “seyyathāpi, bhikkhave, dve jāyampatikā”tiādinā (saṃ. ni. 2.63) nayena puttamaṃsūpamaṃ desesi. phassāhāre nikantipariyādānatthaṃ “seyyathāpi, bhikkhave, gāvī niccammā”tiādinā nayena niccammagāvūpamaṃ desesi. manosañcetanāhāre nikantipariyādānatthaṃ “seyyathāpi, bhikkhave, aṅgārakāsū”tiādinā nayena aṅgārakāsūpamaṃ desesi. viññāṇāhāre nikantipariyādānatthaṃ “seyyathāpi, bhikkhave, coraṃ āgucārin”tiādinā nayena sattisatāhatūpamaṃ desesi.

0

170

 tatrāyaṃ bhūtamatthaṃ katvā saṅkhepato atthayojanā, dve kira jāyampatikā puttaṃ gahetvā parittena pātheyyena yojanasatikaṃ kantāramaggaṃ paṭipajjiṃsu. tesaṃ paññāsa yojanāni gantvā pātheyyaṃ niṭṭhāsi. te khuppipāsāturā viraḷacchāyāyaṃ nisīdiṃsu. tato puriso bhariyaṃ āha “bhadde ito samantā paññāsa yojanāni gāmo vā nigamo vā natthi, tasmā yaṃ taṃ purisena kātabbaṃ bahumpi kasigorakkhādikammaṃ, na dāni sakkā taṃ mayā kātuṃ, ehi maṃ māretvā upaḍḍhamaṃsaṃ khāditvā upaḍḍhaṃ pātheyyaṃ katvā puttena saddhiṃ kantāraṃ nittharāhī”ti. sāpi āha “sāmi mayā dāni yaṃ taṃ itthiyā kātabbaṃ bahumpi suttakantanādikammaṃ, taṃ kātuṃ na sakkā, ehi maṃ māretvā upaḍḍhamaṃsaṃ khāditvā upaḍḍhaṃ pātheyyaṃ katvā puttena saddhiṃ kantāraṃ nittharāhī”ti. tato so taṃ āha “bhadde mātugāmamaraṇena dvinnaṃ maraṇaṃ paññāyati. na hi mando kumāro mātaraṃ vinā jīvituṃ sakkoti. yadi pana mayaṃ jīvāma, puna dārakaṃ labheyyāma, handa dāni puttakaṃ māretvā maṃsaṃ gahetvā kantāraṃ nittharāmā”ti.

0

171

tato mātā puttamāha “tāta pitu santikaṃ gacchāhī”ti. so agamāsi. athassa pitā “mayā puttakaṃ posessāmīti kasigorakkhādīhi anappakaṃ dukkhamanubhūtaṃ, na sakkomi puttaṃ māretuṃ, tvaṃyeva tava puttakaṃ mārehī”ti vatvā “tāta mātusantikameva gacchāhī”ti āha. so agamāsi. athassa mātāpi “mayā puttaṃ patthentiyā govatakukkuravatadevatāyācanādīhipi tāva anappakaṃ dukkhaṃ anubhūtaṃ, ko pana vādo kucchinā pariharantiyā? na sakkāhaṃ puttaṃ māretun”ti vatvā “tāta pitusantikaṃyeva gacchāhī”ti āha. evaṃ so dvinnaṃ antarā gacchantoyeva mato. te taṃ disvā paridevitvā pubbe vuttanayeneva maṃsāni gahetvā khādantā pakkamiṃsu. tesaṃ so puttamaṃsāhāro navahi kāraṇehi paṭikulattā neva davāya hoti, na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, kevalaṃ kantāranittharaṇatthāyeva hoti.

0

172

katamehi navahi kāraṇehi paṭikūloti ce? sajātimaṃsatāya ñātimaṃsatāya puttamaṃsatāya piyaputtamaṃsatāya taruṇamaṃsatāya āmakamaṃsatāya agorasamaṃsatāya aloṇatāya adhūpitatāyāti. tasmā yo bhikkhu kabaḷīkārāhāraṃ evaṃ puttamaṃsasadisaṃ passati, so tattha nikantiṃ pariyādiyati. ayaṃ tāva puttamaṃsūpamāyaṃ atthayojanā.

0

173

niccammagāvūpamāyaṃ pana yathā sā gāvī gīvato yāva khurā, tāva cammaṃ uddāletvā muttā yaṃ yadeva nissāya tiṭṭhati, tattha pāṇakehi khajjamānā dukkhassevādhikaraṇaṃ hoti, evaṃ phassopi yaṃ yadeva vatthuṃ ārammaṇaṃ vā nissāya tiṭṭhati, taṃtaṃvatthārammaṇasambhavassa vedayitadukkhassa adhikaraṇameva hoti. tasmā yo bhikkhu phassāhāraṃ evaṃ niccammagāvisadisaṃ passati, so tattha nikantiṃ pariyādiyati, ayaṃ niccammagāvūpamāyaṃ atthayojanā.

0

174

aṅgārakāsūpamāyaṃ pana yathā sā aṅgārakāsu, evaṃ mahāpariḷāhaṭṭhena tayo bhavā. yathā nānābāhāsu gahetvā tattha upakaḍḍhakā dve purisā, evaṃ bhavesu upakaḍḍhanaṭṭhena manosañcetanā. tasmā yo bhikkhu manosañcetanāhāraṃ evaṃ aṅgārakāsūpakaḍḍhakapurisasadisaṃ passati, so tattha nikantiṃ pariyādiyati, ayaṃ aṅgārakāsūpamāyaṃ atthayojanā.

0

175

sattisatāhatūpamāyaṃ pana yena so puriso pubbaṇhasamaye sattisatena haññati, tamassa sarīre vaṇamukhasataṃ katvā antarā aṭṭhatvā vinivijjhitvā aparabhāgeyeva patati, evaṃ itarāni dve sattisatāni, evamassa patitokāse apatitvā apatitvā gatāhi sattīhi sabbasarīraṃ chiddāvachiddameva hoti, tassa ekavaṇamukhepi uppannassa dukkhassa pamāṇaṃ natthi, ko pana vādo tīsu vaṇamukhasatesu? tattha sattinipātakālo viya paṭisandhiviññāṇanibbattakālo. vaṇamukhajananaṃ viya khandhajananaṃ. vaṇamukhesu dukkhavedanuppādo viya jātesu khandhesu vaṭṭamūlakanānāvidhadukkhuppādo. aparo nayo, āgucārī puriso viya paṭisandhiviññāṇaṃ. tassa sattighātehi uppannavaṇamukhāni viya viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ. vaṇamukhapaccayā tassa purisassa kakkhaḷadukkhuppādo viya nāmarūpapaccayā viññāṇassa dvattiṃsakammakāraṇāṭṭhanavutirogādivasena nānappakārakadukkhuppādo daṭṭhabbo. tasmā yo bhikkhu viññāṇāhāraṃ evaṃ sattisatāhatasadisaṃ passati. so tattha nikantiṃ pariyādiyati, ayaṃ sattisatāhatūpamāyaṃ atthayojanā.

0

176

so evaṃ imesu āhāresu nikantiṃ pariyādiyanto cattāropi āhāre parijānāti, yesu pariññātesu sabbampi pariññātaṃ vatthu pariññātameva hoti. vuttañhetaṃ bhagavatā —

0

177

“kabaḷīkāre, bhikkhave, āhāre pariññāte pañcakāmaguṇiko rāgo pariññāto hoti. pañcakāmaguṇike rāge pariññāte natthi taṃ saṃyojanaṃ, yena saṃyojanena saṃyutto ariyasāvako puna imaṃ lokaṃ āgaccheyya. phasse, bhikkhave, āhāre pariññāte tisso vedanā pariññātā honti. tīsu vedanāsu pariññātāsu ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmi. manosañcetanāya, bhikkhave, āhāre pariññāte tisso taṇhā pariññātā honti. tīsu taṇhāsu pariññātāsu ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmi. viññāṇe, bhikkhave, āhāre pariññāte nāmarūpaṃ pariññātaṃ hoti. nāmarūpe pariññāte ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmī”ti (saṃ. ni. 2.63).

0

178

taṇhāsamudayā āhārasamudayoti

purimataṇhāsamudayā paṭisandhikānaṃ āhārānaṃ samudayo nibbatto

hotīti attho.

[Sự sinh lên của thức ăn do sự sinh lên của ái] tức là: sự sinh lên của các thức ăn vào lúc tái hợp xuất hiện do sự sinh lên của ái kiếp trước; ý nghĩa là như vậy.

179

kathaṃ? paṭisandhikkhaṇe hi

tisantativasena

uppannasamatiṃsarūpabbhantare

jātā ojā atthi. ayaṃ taṇhāpaccayā nibbatto

upādinnakakabaḷīkārāhāro.

Như thế nào? Quả thực, vào thời điểm tái hợp, dưỡng chất sinh ra trong số 30 loại sắc cùng sinh lên do tác động của tam trú. Đó là đoàn thực – thuộc loại nghiệp sinh – sinh ra do duyên là tham ái.

180

paṭisandhicittasampayuttā pana

phassacetanā sayañca cittaṃ

viññāṇanti ime taṇhāpaccayā

nibbattā

upādinnakaphassamanosañcetanā

viññāṇāhārāti.

Thế nhưng, xúc & tư hiệp hành với tái hợp tâm và thức – tức chính tâm ấy: chúng là thức thực, tư niệm thực & xúc thực – thuộc loại nghiệp sinh – sinh ra do duyên là tham ái.

181

evaṃ tāva purimataṇhāsamudayā

paṭisandhikānaṃ āhārānaṃ

samudayo veditabbo. yasmā panidha upādinnakāpi

anupādinnakāpi āhārā missetvā

kathitā, tasmā anupādinnakānampi

evaṃ taṇhāsamudayā

āhārasamudayo veditabbo.

Như vậy, cho đến giờ, sự sinh lên của các thức ăn vào lúc tái hợp nên được hiểu là (bắt nguồn từ) sự sinh lên của tham ái kiếp trước. Nhưng ở đây, bởi vì các thức ăn được giảng giải gồm cả thức ăn thuộc loại nghiệp sinh lẫn không thuộc loại nghiệp sinh; cho nên sự sinh lên của các thức ăn thuộc nhóm thức ăn không thuộc loại nghiệp sinh cũng nên được hiểu là (bắt nguồn từ) sự sinh lên của tham ái như vậy.

182

aṭṭhalobhasahagatacittasamuṭṭhitesu hi rūpesu ojā atthi, ayaṃ

sahajātataṇhāpaccayā nibbatto

anupādinnakakabaḷīkārāhāro. lobhasahagatacittasampayuttā

pana phassacetanā sayañca cittaṃ

viññāṇanti ime taṇhāpaccayā

nibbattā

anupādinnakaphassamanosañcetanā viññāṇāhārāti.

Bởi vì dưỡng chất tồn tại trong các sắc khởi sinh bởi 8 loại tâm đi liền với tham; đó là đoàn thực – không thuộc loại nghiệp sinh – sinh ra do duyên là tham ái đi cùng. Còn xúc & tư hiệp hành với tâm đi cùng tham và thức – tức chính tâm ấy: chúng là xúc thực, tư niệm thực & thức thực – không thuộc loại nghiệp sinh – sinh ra do duyên là tham ái.

183

taṇhānirodhā āhāranirodhoti imissā upādinnakānañca anupādinnakānañca āhārānaṃ paccayabhūtāya taṇhāya nirodhena āhāranirodho paññāyati. sesaṃ vuttanayameva. ayaṃ pana viseso, idha cattāripi saccāni sarūpeneva vuttāni. yathā ca idha, evaṃ ito uttarimpi sabbavāresūti. tasmā sabbattha asammuyhantena saccāni uddharitabbāni. sabbavāresu ca “ettāvatāpi kho āvuso”ti idaṃ desanāniyyātanaṃ tattha tattha desitadhammavasena yojetabbaṃ. tassa idha tāva ayaṃ yojanā ettāvatāpīti imāya āhāradesanāya vuttamanasikārappaṭivedhavasenāpīti vuttaṃ hoti. esa nayo sabbatthāpi.

0

184

91. idāni “sādhāvuso”ti purimanayeneva therassa bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā te bhikkhū uttarimpi pañhaṃ pucchiṃsu. thero ca nesaṃ aññenapi pariyāyena byākāsi. esa nayo ito paresupi sabbavāresu. tasmā ito paraṃ evarūpāni vacanāni anāmasitvā yena yena pariyāyena byākaroti, tassa tasseva atthaṃ vaṇṇayissāma. imassa pana vārassa saṅkhepadesanāyaṃ dukkhañca pajānātīti ettha dukkhanti dukkhasaccaṃ. vitthāradesanāyaṃ pana yaṃ vattabbaṃ siyā, taṃ sabbaṃ visuddhimagge saccaniddese vuttamevāti.

0

185

ito paraṃ paṭiccasamuppādavasena desanā hoti. tattha jarāmaraṇavāre tāva tesaṃ

tesanti ayaṃ saṅkhepato anekesaṃ

sattānaṃ sādhāraṇaniddesoti

ñātabbo.

Kể từ đây, bài giảng dựa theo chuẩn mực là Lý Duyên Khởi. Ở đó, trong đoạn về chủ đề Già & Chết, về cụm từ [của/cho chính chúng](i): cụm từ này là lời mô tả chung cho nhiều loại chúng sinh một cách tổng hợp; điều đó nên được hiểu như vậy.

 

—–

 

(i) [tesaṃ tesaṃ].

186

 yā devadattassa jarā, yā somadattassa jarāti evañhi divasampi kathentassa neva sattā pariyādānaṃ gacchanti. imehi pana dvīhi padehi na koci satto apariyādinno hoti. tasmā vuttaṃ “ayaṃ saṅkhepato anekesaṃ sattānaṃ sādhāraṇaniddeso”ti.

0

187

tamhi tamhīti ayaṃ gatijātivasena anekesaṃ nikāyānaṃ sādhāraṇaniddeso. sattanikāyeti sādhāraṇaniddesena niddiṭṭhassa sarūpanidassanaṃ.

0

188

jarā jīraṇatātiādīsu pana jarāti

sabhāvaniddeso. jīraṇatāti ākāraniddeso.

Về các từ [sự già, sự lão hóa vân vân]: [sự già – jarā] là lời mô tả về bản chất; [sự lão hóa – jīraṇatā] là lời mô tả về phương diện.

189

khaṇḍiccantiādayo kālātikkame kiccaniddesā. pacchimā dve pakatiniddesā. ayañhi jarāti iminā padena sabhāvato dīpitā, tenassāyaṃ sabhāvaniddeso. jīraṇatāti iminā ākārato. tenassāyaṃ ākāraniddeso.

0

190

khaṇḍiccanti iminā kālātikkame

dantanakhānaṃ

khaṇḍitabhāvakaraṇakiccato.

[Sự gẫy vỡ], bằng từ này, lời kinh chỉ đến chức năng tạo ra trạng thái gẫy vỡ của răng & móng vào thời điểm cao niên.

191

pāliccanti iminā kesalomānaṃ palitabhāvakaraṇakiccato. valittacatāti iminā maṃsaṃ milāpetvā tace valittabhāvakaraṇakiccato dīpitā. tenassā ime khaṇḍiccantiādayo tayo kālātikkame kiccaniddesā. tehi imesaṃ vikārānaṃ dassanavasena pākaṭībhūtā pākaṭajarā dassitā. 

0

192

yatheva hi udakassa vā aggino vā

vātassa vā tiṇarukkhādīnaṃ

sambhaggapalibhaggatāya vā

jhāmatāya vā gatamaggo pākaṭo hoti, na ca so gatamaggo tāneva

udakādīni, evameva jarāya

dantādīsu khaṇḍiccādivasena

gatamaggo pākaṭo, cakkhuṃ

ummīletvāpi gayhati. na ca

khaṇḍiccādīneva jarā, na hi jarā

cakkhuviññeyyā hoti.

Bởi vì giống hệt như tiến trình tự nhiên(i) của nước, lửa hay gió được hiển lộ thông qua trạng thái hư vỡ, đổ vỡ hay trạng thái cháy của cỏ cây vân vân; nhưng tiến trình tự nhiên đó không phải là bản thân nước, lửa vân vân. Cũng giống như vậy, tiến trình tự nhiên của sự già được hiển lộ thông qua sự gẫy vỡ vân vân của răng vân vân, (sự già đó) được nhận thấy bằng cách mở mắt (để quan sát); nhưng sự già không phải là bản thân sự gẫy vỡ vân vân, bởi vì sự già không thể được nhận thức bằng mắt.  

—–

(i) [Tiến trình tự nhiên – gatamagga] – nếu dịch sát là [con đường đã được đi qua] chỉ đến tiến trình, lộ trình, sự diễn tiến… trong tự nhiên của nước, lửa hay gió. 

193

āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripākoti imehi pana padehi kālātikkameyeva abhibyattatāya āyukkhayacakkhādīndriyaparipākasaññitāya pakatiyā dīpitā. tenassime pacchimā dve pakatiniddesāti veditabbā. tattha yasmā jaraṃ pattassa āyu hāyati, tasmā jarā “āyuno saṃhānī”ti phalūpacārena vuttā. yasmā ca daharakāle suppasannāni sukhumampi attano visayaṃ sukheneva gaṇhanasamatthāni cakkhādīni indriyāni jaraṃ pattassa paripakkāni āluḷitāni avisadāni oḷārikampi attano visayaṃ gahetuṃ asamatthāni honti, tasmā “indriyānaṃ paripāko”tipi phalūpacāreneva vuttā. sā panāyaṃ evaṃ niddiṭṭhā sabbāpi jarā pākaṭā paṭicchannāti duvidhā hoti.

0

194

tattha dantādīsu khaṇḍabhāvādidassanato rūpadhammesu jarā pākaṭajarā nāma. arūpadhammesu pana tādisassa vikārassa adassanato paṭicchannajarā nāma. tattha yvāyaṃ khaṇḍādibhāvo dissati, so tādisānaṃ dantādīnaṃ suviññeyyattā vaṇṇoyeva, taṃ cakkhunā disvā manodvārena cintetvā “ime dantā jarāya pahaṭā”ti jaraṃ jānāti udakaṭṭhāne baddhāni gosīsādīni oloketvā heṭṭhā udakassa atthibhāvaṃ jānanaṃ viya. puna avīci savīcīti evampi duvidhā hoti. tattha maṇikanakarajatapavāḷasūriyādīnaṃ mandadasakādīsu pāṇīnaṃ viya pupphaphalapallavādīsu ca apāṇīnaṃ viya antarantarā vaṇṇavisesādīnaṃ duviññeyyattā jarā avīcijarā nāma, nirantarajarāti attho. tato aññesu pana yathāvuttesu antarantarā vaṇṇavisesādīnaṃ suviññeyyattā jarā savīcijarā nāmāti veditabbā.

0

195

ito paraṃ, tesaṃ tesantiādi vuttanayeneva veditabbaṃ. cuti cavanatātiādīsu pana cutīti cavanakavasena vuccati, ekacatupañcakkhandhānaṃ sāmaññavacanametaṃ. cavanatāti bhāvavacanena lakkhaṇanidassanaṃ. bhedoti cutikkhandhānaṃ bhaṅguppattiparidīpanaṃ. antaradhānanti ghaṭasseva bhinnassa bhinnānaṃ cutikkhandhānaṃ yena kenaci pariyāyena ṭhānābhāvaparidīpanaṃ.

0

196

maccu maraṇanti maccusaṅkhātaṃ maraṇaṃ. tena

samucchedamaraṇādīni nisedheti.

 

[Sự tử, sự chết]: [sự chết] được gọi là [sự tử]; thông qua từ này, Ngài (Sariputta) ngăn chặn quan niệm về sự chết như là sự tuyệt diệt.

197

kālo nāma antako, tassa kiriyāti

kālakiriyā. etena lokasammutiyā

maraṇaṃ dīpeti.

0

198

idāni paramatthena dīpetuṃ, khandhānaṃ bhedotiādimāha.

0

199

paramatthena hi khandhāyeva

bhijjanti, na satto nāma koci marati. khandhesu pana bhijjamānesu satto marati, bhinnesu matoti vohāro hoti.

Về mặt chân đế, quả thực, chỉ mỗi các uẩn tan rã mà thôi; không có bất kỳ chúng sinh nào chết. Nhưng khi các uẩn đang tan rã thì người ta nói ‘chúng sinh đang chết’, khi các uẩn đã tan rã rồi thì người ta nói ‘chúng sinh đã chết.’

200

ettha ca catuvokāravasena khandhānaṃ bhedo, ekavokāravasena kaḷevarassa nikkhepo. catuvokāravasena vā khandhānaṃ bhedo, sesadvayavasena kaḷevarassa nikkhepo veditabbo. kasmā? bhavadvayepi rūpakāyasaṅkhātassa kaḷevarassa sambhavato. atha vā yasmā ca cātumahārājikādīsu khandhā bhijjanteva, na kiñci nikkhipanti, tasmā tesaṃ vasena khandhānaṃ bhedo, manussādīsu kaḷevarassa nikkhepo. ettha ca kaḷevarassa nikkhepakāraṇato maraṇaṃ kaḷevarassa nikkhepoti vuttanti evamattho daṭṭhabbo.

iti ayañca jarā idañca maraṇaṃ. idaṃ vuccatāvusoti idaṃ ubhayampi ekato katvā jarāmaraṇanti kathīyati. sesaṃ vuttanayamevāti.

0

201

93. jātivāre jāti sañjātītiādīsu

0

202

jāyanaṭṭhena jāti, sā

aparipuṇṇāyatanavasena yuttā.

sañjāyanaṭṭhena sañjāti, sā

paripuṇṇāyatanavasena yuttā.

[Sự sinh – jāti] với nghĩa là [sự được sinh ra], khái niệm này liên hệ đến (ý niệm) giác quan chưa được trọn vẹn(i). [Sự viên sinh – sañjāti] với nghĩa là [sự được sinh ra đầy đủ], khái niệm này liên hệ đến (ý niệm) giác quan được trọn vẹn(ii).

—–

(i) Tức chỉ đến các chúng sinh được sinh ra với giác quan chưa được trọn vẹn.

(ii) Tức chỉ đến các chúng sinh được sinh ra với giác quan được trọn vẹn.

203

okkamanaṭṭhena okkanti, sā

aṇḍajajalābujavasena yuttā. te hi aṇḍakosañca vatthikosañca

okkamantā pavisantā viya

paṭisandhiṃ gaṇhanti.

[Sự giáng hạ] với ý nghĩa là sự đi xuống, khái niệm này liên hệ đến các chúng sinh được sinh từ trứng và được sinh từ thai. Bởi vì những chúng sinh ấy nắm bắt sự tái hợp như thể đi xuống, nhập vào vỏ trứng hay màng thai.

204

abhinibbattanaṭṭhena abhinibbatti, sā saṃsedajaopapātikavasena yuttā, te hi pākaṭāyeva hutvā nibbattanti.

[Sự hóa sinh] với ý nghĩa là sự biến sinh, khái niệm này liên hệ đến các chúng sinh thấp sinh(i) và hiện sinh(ii). Bởi vì họ sinh ra bằng cách hiện ra.

—–

(i) & (ii) [Thấp sinh] tức sinh ra từ nơi ẩm ướt – đây là hình thức sinh ra của một số sinh vật sống nơi ẩm ướt. [Hiện sinh] tức tự nhiên sinh ra không thấy được nguyên nhân, quá trình sinh ra – đây là hình thức sinh ra của các vị trời.

205

ayaṃ tāva vohāradesanā.

0

206

idāni paramatthadesanā hoti.

khandhāyeva hi paramatthato

pātubhavanti, na satto.

Bây giờ, đây là bài giảng theo chân đế. Quả thực, về mặt chân đế, chỉ các uẩn hiện hữu chứ chúng sinh không hiện hữu.

207

khandhānanti ekavokārabhave ekassa catuvokārabhave catunnaṃ pañcavokārabhave pañcannampi gahaṇaṃ veditabbaṃ. pātubhāvoti uppatti.

0

208

āyatanānanti ettha tatra tatra

uppajjamānāyatanavaseneva

saṅgaho veditabbo.

[Các giác quan], ở đây, sự phân loại(i) (các giác quan) nên được hiểu là các giác quan đang sinh lên ở cõi này cõi kia (vào lúc tái hợp).

—–

(i) Các giác quan có nhiều loại, ở đây nói đến loại giác quan vào lúc tái hợp.

209

paṭilābhoti santatiyaṃ

pātubhāvoyeva. pātubhavantāneva

hi tāni paṭiladdhāni nāma honti.

[Sự đạt được] chính là sự hiện hữu trong sự liên tục. Bởi vì chính khi các giác quan đó đang hiện hữu, chúng được gọi là được đạt được.

210

ayaṃ vuccatāvuso jātīti iminā padena vohārato paramatthato ca desitāya jātiyā nigamanaṃ karotīti.

0

211

bhavasamudayāti ettha pana jātiyā

paccayabhūto kammabhavo

veditabbo. sesaṃ vuttanayamevāti.

Nhưng ở đây, nghiệp hữu nên được hiểu là duyên cho sự sinh. Phần còn lại theo chính phương pháp đã được nói.

212

94. bhavavāre

0

213

kāmabhavoti kammabhavo ca

upapattibhavo ca. tattha kammabhavo nāma

kāmabhavūpagaṃ kammameva.

[Dục Hữu] chỉ đến nghiệp hữu và sinh hữu. Trong chủ đề này, cái được gọi là [nghiệp hữu] chính là nghiệp đi đến cõi dục(i).

—–

 

(i) Tức nghiệp khiến chúng sinh đi đến cõi dục.

214

tañhi upapattibhavassa kāraṇattā

“sukho buddhānamuppādo (dha. pa. 194) dukkho pāpassa uccayo”tiādīni (dha. pa. 117) viya phalavohārena

bhavoti vuttaṃ.

Quả thực, (nghiệp) đó được gọi là hữu – vốn là thuật ngữ chỉ đến quả (của nghiệp đó) – do nó là nguyên nhân cho sinh hữu(i), giống như (cách gọi trong những lời nói) ‘sự sinh lên của chư Phật là lạc’ (dha. pa. 194), ‘sự tích lũy cái ác là khổ’ (dha. pa. 117) vân vân(ii).

—–

(i) Ở đây có 2 khái niệm: Hữu – tức cõi mà chúng sinh tái sinh đến; và Nghiệp (đưa đến cõi đó). Nghiệp là nhân, Hữu là quả, nhưng ở đây dùng cái tên của quả – tức Hữu – để gọi cho nhân – tức Nghiệp. Nên (nghiệp) hữu ở đây chỉ đến nghiệp – là cái đưa đến hữu – chứ không phải chỉ cho chính hữu đó.

(ii) Đây là 2 ví dụ minh họa cho điểm (i). [Sự sinh lên của chư Phật là lạc]; nói một cách chặt chẽ thì [sự sinh lên của chư Phật] là nhân, [lạc (cho chúng sinh] là quả, khi nói [sự sinh lên của chư Phật là lạc] là đang lấy quả – tức  [lạc] – để gọi cho nhân – tức [sự sinh lên của chư Phật]. Tương tự cho [sự tích lũy cái ác là khổ].

215

upapattibhavo nāma tena kammena nibbattaṃ

upādinnakhandhapañcakaṃ. tañhi tattha bhavatīti katvā bhavoti

vuttaṃ. evaṃ sabbathāpi idaṃ kammañca

upapatti ca ubhayampetamidha

“kāmabhavo”ti vuttaṃ. esa nayo

rūpārūpabhavesu.

Cái được gọi là [sinh hữu] là nhóm 5 uẩn sinh ra do nghiệp ấy. Nó (nhóm 5 uẩn) được gọi là [hữu] do nó tồn tại ở đó (cõi đó). Như vậy, cả 2 yếu tố đó – tức nghiệp ấy và sự sinh ấy – đều được gọi là [dục hữu]. Phương pháp này (cũng áp dụng) cho [Sắc Hữu & Vô Sắc Hữu].    

216

upādānasamudayāti ettha pana

upādānaṃ kusalakammabhavassa

upanissayavaseneva paccayo hoti. akusalakammabhavassa

upanissayavasenapi

sahajātādivasenapi. upapattibhavassa pana sabbassāpi

upanissayavaseneva.

[Do sự sinh lên của Thủ]: nhưng ở đây, thủ là duyên cho thiện nghiệp hữu với ý nghĩa là thân y (duyên); thủ là duyên cho bất thiện nghiệp hữu với ý nghĩa là thân y (duyên) và câu sanh (duyên) vân vân; nhưng thủ là duyên cho mọi sinh hữu chỉ với ý nghĩa là thân y (duyên).  

217

sesaṃ vuttanayamevāti.

0

218

95. upādānavāre kāmupādānantiādīsu

0

219

vatthukāmaṃ upādiyati etena,

sayaṃ vā taṃ upādiyatīti

kāmupādānaṃ. kāmo ca so upādānañcāti vā

kāmupādānaṃ. upādānanti daḷhaggahaṇaṃ vuccati. daḷhattho hi ettha upasaddo

[Dục Thủ], tức là: do (dục thủ) này, người ta bám chấp vào đối tượng của dục, hoặc chính (dục thủ) đó bám chấp vào đối tượng của dục. Hoặc [dục thủ] nghĩa là dục & thủ. Sự nắm bắt mạnh mẽ được gọi là [thủ]. Bởi vì ở đây, tiếng (tiền tố) [Upa] có nghĩa là mạnh mẽ.

220

“upāyāsa upakaṭṭhā”tiādīsu viya

0

221

pañcakāmaguṇikarāgassetaṃ

adhivacanaṃ.

Đó là thuật ngữ chỉ đến sự luyến ái 5 loại dục.

222

ayamettha saṅkhepo. vitthārato panetaṃ “tattha katamaṃ kāmupādānaṃ, yo kāmesu kāmacchando”ti (dha. sa. 1220; vibha. 938) vuttanayena veditabbaṃ.

0

223

tathā diṭṭhi ca sā upādānañcāti

diṭṭhupādānaṃ. atha vā diṭṭhiṃ

upādiyati, upādiyanti vā etena

diṭṭhinti diṭṭhupādānaṃ. upādiyati hi purimadiṭṭhiṃ uttaradiṭṭhi.

upādiyanti ca tāya diṭṭhiṃ.

Cũng vậy, [Kiến Thủ] tức là: kiến và thủ. Hoặc [kiến thủ] tức là: do (kiến thủ) này, người ta bám chấp vào kiến; hoặc do (kiến thủ) này, chúng bám chấp vào kiến. Bởi vì kiến sau bám chấp vào kiến trước. Hoặc do (kiến) ấy, chúng bám chấp vào kiến. 

224

yathāha “sassato attā ca loko ca,

idameva saccaṃ

moghamaññan”tiādi (ma. ni. 3.27),

Giống như khi người ta nói: ‘Bản ngã & thế giới thường hằng, chỉ quan điểm đó là đúng, quan điểm khác là sai.’ vân vân (ma. ni. 3.27).

225

sīlabbatupādānāttavādupādānavajjassa sabbadiṭṭhigatassetaṃ

adhivacanaṃ.

Đó là thuật ngữ chỉ đến mọi tà kiến trừ giới cấm thủ & ngã thuyết thủ(i).

—–

(i) [Ngã thuyết thủ] tức sự chấp thủ vào quan điểm về bản ngã. Nói một cách chặt chẽ, giới cấm thủ & ngã thuyết thủ đều là tà kiến, nhưng chúng được liệt riêng ra thành 2 loại chấp thủ riêng, nên không tính vào số các kiến thủ ở đây.

226

ayamettha saṅkhepo. vitthārato panetaṃ “tattha katamaṃ diṭṭhupādānaṃ natthi dinnan”ti (dha. sa. 1220; vibha. 938) vuttanayena veditabbaṃ.

0

227

tathā sīlabbataṃ upādiyanti etena,

sayaṃ vā taṃ upādiyati,

sīlabbatañca taṃ upādānañcāti vā

sīlabbatupādānaṃ.

Cũng vậy, [Giới Cấm Thủ] tức là: do [giới cấm thủ] ấy, chúng bám chấp vào giới cấm; hoặc chính giới cấm thủ ấy bám chấp vào giới cấm; hoặc giới cấm & thủ(i).

—–

(i) [Giới Cấm] là từ Hán Việt, có nghĩa là [những điều ngăn cấm người ta không nên làm]. Từ Hán Việt này dùng để dịch thuật ngữ Pāḷi là [sīlabbata] vốn có nghĩa [sự thực hành về tôn giáo nói chung], chứ không nhất thiết chỉ là những điều ngăn cấm. Do đó, [Giới Cấm] là cách dịch thiếu chính xác; người viết vẫn phải dùng do tính lâu đời và phổ biến của nó.

228

gosīlagovatādīni hi evaṃ suddhīti abhinivesato sayameva upādānāni ayamettha saṅkhepo. vitthārato panetaṃ “tattha katamaṃ sīlabbatupādānaṃ, ito bahiddhā samaṇabrāhmaṇānaṃ sīlena suddhī”ti vuttanayena veditabbaṃ.

0

229

idāni vadanti etenāti vādo.

upādiyanti etenāti upādānaṃ. kiṃ

vadanti, upādiyanti vā? attānaṃ.

attano vādupādānaṃ

attavādupādānaṃ.

Người ta nói dựa vào cái gì, (thì cái đó là) [thuyết]. Người ta bám chấp bằng/bởi cái gì, (thì cái đó là) [thủ]. Hay người ta nói cái gì, bám chấp cái gì? (Người ta nói, bám chấp) Bản Ngã. Sự chấp thủ vào học thuyết về bản ngã là [Ngã Thuyết Thủ].

230

attavādamattameva vā attāti

upādiyati etenāti attavādupādānaṃ, vīsativatthukāya sakkāyadiṭṭhiyā

etaṃ adhivacanaṃ.

Hoặc [ngã thuyết thủ] tức là: do (ngã thuyết thủ) này, người ta bám chấp vào chính ngã thuyết như là ngã(i). Đó là thuật ngữ cho thân kiến gồm 20 loại.

—–

(i) Tức xem chính ngã thuyết đó là bản ngã.

231

ayamettha saṅkhepo. vitthārato panetaṃ “tattha katamaṃ attavādupādānaṃ, idha assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī”ti (dha. sa. 1223) vuttanayena veditabbaṃ.

0

232

taṇhāsamudayāti ettha taṇhā

kāmupādānassa upanissayavasena

anantarasamanantaranatthivigatāsevanavasena vā paccayo. avasesānaṃ pana sahajātādivasenāpi. sesaṃ

vuttanayamevāti.

[Do sự sinh lên của ái], ở đây, ái là duyên cho dục thủ với ý nghĩa là thân y (duyên) hoặc với ý nghĩa là vô gián (duyên), đẳng vô gián (duyên), vô hữu (duyên), ly khứ (duyên) và tập hành (duyên). Nhưng đối với những yếu tố còn lại, nó là duyên với ý nghĩa là câu sinh (duyên) vân vân. Phần còn lại cũng theo chính phương pháp đã được nói.

233

96. taṇhāvāre rūpataṇhā … pe … dhammataṇhāti evaṃ cakkhudvārādīsu javanavīthiyaṃ pavattāya taṇhāya “seṭṭhiputto brāhmaṇaputto”ti evamādīsu pitito nāmaṃ viya pitisadisārammaṇato nāmaṃ.

0

234

ettha ca rūpārammaṇā taṇhā, rūpe

taṇhāti rūpataṇhā. sā kāmarāgabhāvena rūpaṃ

assādentī pavattamānā kāmataṇhā.

Và ở đây, ái có đối tượng là sắc – tức ái đối với sắc – chính là sắc ái. Trong khi đang diễn tiến và tận hưởng sắc dựa trên yếu tố là dục tham, (sắc ái) đó chính là Dục Ái.

235

sassatadiṭṭhisahagatarāgabhāvena

rūpaṃ niccaṃ dhuvaṃ sassatanti

evaṃ assādentī pavattamānā

bhavataṇhā.

Trong khi đang diễn tiến và tận hưởng dựa trên yếu tố là luyến ái đi liền với thường kiến rằng ‘Sắc là thường, là hằng, là vĩnh viễn.’, (sắc ái) đó chính là Hữu Ái.

236

ucchedadiṭṭhisahagatarāgabhāvena

rūpaṃ ucchijjati vinassati pecca na

bhavissatīti evaṃ assādentī

pavattamānā vibhavataṇhāti evaṃ

tividhā hoti.

Trong khi đang diễn tiến và tận hưởng dựa trên yếu tố là luyến ái đi liền với đoạn kiến rằng ‘Sắc hoại diệt, tiêu tan, sẽ không tồn tại sau khi chết.’, (sắc ái) đó chính là Phi Hữu Ái. (Sắc ái) có 3 loại như vậy. 

237

yathā ca rūpataṇhā, tathā

saddataṇhādayopīti etāni aṭṭhārasa

taṇhāvicaritāni honti. tāni ajjhattarūpādīsu aṭṭhārasa,

bahiddhārūpādīsu aṭṭhārasāti

chattiṃsa. iti atītāni chattiṃsa, anāgatāni

chattiṃsa, paccuppannāni

chattiṃsāti aṭṭhasataṃ.

Sắc ái như thế nào thì thanh ái vân vân cũng giống như thế ấy; có 18 loại sắc ái. Đối với nội sắc vân vân, có 18 loại; đối với ngoại sắc vân vân, có 18 loại; như vậy (tổng cộng) 36 loại. Như vậy, 36 loại thuộc quá khứ, 36 loại thuộc tương lai, 36 loại thuộc hiện tại; như vậy (tổng cộng) 108 loại.

238

“ajjhattikassupādāya ‘asmī’ti hoti,

‘itthasmī’ti hotī”ti (vibha. 973-974) vā evamādīnā

ajjhattikarūpādinissitāni aṭṭhārasa,

“bāhirassupādāya ‘iminā asmī’ti hoti, ‘iminā itthasmī’ti hotī”ti vā

(vibha. 975) evamādinā

bāhirarūpādinissitāni aṭṭhārasāti

chattiṃsa.

Hoặc có 18 loại dựa trên nội sắc vân vân rằng: dựa vào nội sắc có (ý niệm) ‘ta tồn tại’, có (ý niệm) ‘ta là thế này (thế kia).’ (vibha. 973-974). Có 18 loại dựa trên ngoại sắc vân vân rằng: dựa vào ngoại sắc có (ý niệm) ‘ta tồn tại với (sắc) này’, có (ý niệm) ‘ta là thế này (thế kia) với (sắc) này.’ (vibha. 975); như vậy (tổng cộng) 36 loại.

239

iti atītāni chattiṃsa, anāgatāni

chattiṃsa, paccuppannāni

chattiṃsāti evampi

aṭṭhasatataṇhāvicaritāni honti.

Như vậy, 36 loại thuộc quá khứ, 36 loại thuộc tương lai, 36 loại thuộc hiện tại; như vậy (tổng cộng) 108 loại ái.

240

puna saṅgahe karīyamāne rūpādīsu ārammaṇesu chaḷeva taṇhākāyā tissoyeva kāmataṇhādayo hontīti evaṃ —

niddesatthena niddesa-vitthārā vitthārassa ca.

puna saṅgahato taṇhā, viññātabbā vibhāvināti.

0

241

vedanāsamudayāti ettha pana

vedanāti vipākavedanā adhippetā.

[Do sự sinh lên của thọ], ở đây, [thọ] được hàm ý là quả thọ.  

242

sā kathaṃ chasu dvāresu taṇhāya paccayo hotīti ce? assādanīyato. sukhāya hi vedanāya assādanena sattā vedanaṃ mamāyantā vedanāya taṇhaṃ uppādetvā vedanārāgarattā hutvā cakkhudvāre iṭṭhameva rūpaṃ patthenti, laddhā ca naṃ assādenti, ārammaṇadāyakānañca cittakārādīnaṃ sakkāraṃ karonti. tathā sotadvārādīsu iṭṭhe ca saddādayo patthenti, laddhā ca ne assādenti, ārammaṇadāyakānañca vīṇāvādaka-gandhikasūda-tantavāya-nānāvidhasippasandassakādīnaṃ sakkāraṃ karonti. yathā kiṃ? yathā puttasinehena puttaṃ mamāyantā dhātiyā sakkāraṃ karonti, sappāyasappikhīrādīniyeva naṃ pāyenti ceva bhojenti ca. sesaṃ vuttanayameva.

0

243

97. vedanāvāre vedanākāyāti vedanāsamūhā. cakkhusamphassajā vedanā … pe … manosamphassajā vedanāti etaṃ “cakkhusamphassajā vedanā atthi kusalā, atthi akusalā, atthi abyākatā”ti (vibha. 34) evaṃ vibhaṅge āgatattā cakkhudvārādīsu pavattānaṃ kusalākusalābyākatavedanānaṃ “sāriputto, mantāṇiputto”ti evamādīsu mātito nāmaṃ viya mātisadisavatthuto nāmaṃ.

0

244

vacanattho panettha

cakkhusamphassahetu jātā vedanā

cakkhusamphassajā vedanāti.

Nhưng ở đây, ý nghĩa lời nói là: [nhãn xúc thọ] là thọ được sinh do nhân là nhãn xúc.

245

esa nayo sabbattha. ayaṃ tāvettha sabbasaṅgāhikakathā. vipākavasena pana cakkhudvāre dve cakkhuviññāṇāni, dve manodhātuyo, tisso manoviññāṇadhātuyoti etāhi sampayuttavasena vedanā veditabbā. esa nayo sotadvārādīsu. manodvāre manoviññāṇadhātusampayuttāva.

0

246

phassasamudayāti ettha pana

pañcadvāre

pañcavatthukavedanānaṃ

sahajātacakkhusamphassādisamudayā samudayo hoti.

[Do sự sinh lên của xúc], ở đây, từ sự sinh lên của nhãn xúc đồng sinh vân vân, có sự sinh lên của 5 loại thọ dựa vào ngũ căn(i) tại ngũ môn.

—–

(i) Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.  

247

avasesānaṃ cakkhusamphassādayo upanissayādivasena paccayā.

Đối với các yếu tố còn lại, nhãn xúc là duyên với ý nghĩa là thân y (duyên).

248

manodvāre tadārammaṇavedanānaṃ advārikānañca paṭisandhibhavaṅgacutivedanānaṃ

sahajātamanosamphassasamudayā

samudayo hotīti veditabbo.

sesaṃ vuttanayameva.

Từ sự sinh lên của thức xúc đồng sinh, có sự sinh lên của các thọ vào giai đoạn đăng ký, các thọ vô môn, các thọ vào giai đoạn chết, hộ kiếp và tái hợp ở thức môn; điều đó nên được hiểu như vậy. Phần còn lại cũng theo phương pháp (luận giải) như (vừa) được nói.

249

98. phassavāre cakkhusamphassoti cakkhumhi samphasso. esa nayo sabbattha. cakkhusamphasso … pe … kāyasamphassoti ettāvatā ca kusalākusalavipākā pañcavatthukā dasa samphassā vuttā honti. manosamphassoti iminā sesā bāvīsati lokiyavipākamanasampayuttaphassā. saḷāyatanasamudayāti channaṃ cakkhādīnaṃ āyatanānaṃ samudayena imassa chabbidhassāpi samphassassa samudayo hotīti veditabbo. sesaṃ vuttanayamevāti.

0

250

99. saḷāyatanavāre cakkhāyatanantiādīsu yaṃ vattabbaṃ, taṃ sabbaṃ visuddhimagge khandhaniddese ceva āyatananiddese ca vuttanayameva. nāmarūpasamudayāti ettha pana yaṃ nāmaṃ yañca rūpaṃ, yañca nāmarūpaṃ yassa āyatanassa paccayo hoti, tassa vasena visuddhimagge paṭiccasamuppādaniddese vuttanayena nāmarūpasamudayā saḷāyatanasamudayo veditabbo. sesaṃ vuttappakāramevāti.

0

251

100. nāmarūpavāre

namanalakkhaṇaṃ nāmaṃ.

ruppanalakkhaṇaṃ rūpaṃ.

Ở đoạn kinh về Danh & Sắc, [Danh] có đặc điểm là sự nghiêng về (đối tượng), [Sắc] có đặc điểm là bị quấy nhiễu (bởi nóng lạnh).

252

vitthāravāre panassa vedanāti vedanākkhandho. saññāti saññākkhandho. cetanā phasso manasikāroti saṅkhārakkhandho veditabbo. kāmañca aññepi saṅkhārakkhandhasaṅgahitā dhammā santi, ime pana tayo sabbadubbalesupi cittesu santi. tasmā etesaṃyeva vasenettha saṅkhārakkhandhopi dassito. cattāri ca mahābhūtānīti ettha cattārīti gaṇanaparicchedo. mahābhūtānīti pathavīāpatejavāyānametaṃ adhivacanaṃ. yena pana kāraṇena tāni mahābhūtānīti vuccanti, yo cettha añño vinicchayanayo, so sabbo visuddhimagge rūpakkhandhaniddese vutto.

0

253

catunnañca mahābhūtānaṃ upādāyāti ettha pana catunnanti upayogatthe sāmivacanaṃ, cattāri ca mahābhūtānīti vuttaṃ hoti. upādāyāti upādiyitvā, gahetvāti attho. nissāyātipi eke. vattamānanti ayañcettha pāṭhaseso. samūhatthe vā etaṃ sāmivacanaṃ. tena catunnañca mahābhūtānaṃ samūhaṃ upādāya pavattamānaṃ rūpanti ayamattho veditabbo. evaṃ sabbatthāpi yāni cattāri pathavīādīni mahābhūtāni, yañca catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāya vattamānaṃ cakkhāyatanādibhedena abhidhammapāḷiyameva vuttaṃ tevīsatividhaṃ rūpaṃ, taṃ sabbampi “rūpan”ti veditabbaṃ. viññāṇasamudayāti ettha pana yaṃ viññāṇaṃ yassa nāmassa yassa ca rūpassa yassa ca nāmarūpassa paccayo hoti, tassa vasena visuddhimagge paṭiccasamuppādaniddese vuttanayeneva viññāṇasamudayā nāmarūpasamudayo veditabbo. sesaṃ vuttanayamevāti.

0

254

101. viññāṇavāre cakkhuviññāṇanti cakkhumhi viññāṇaṃ, cakkhuto vā jātaṃ viññāṇanti cakkhuviññāṇaṃ. evaṃ sotaghānajivhākāyaviññāṇāni. itaraṃ pana manoyeva viññāṇanti manoviññāṇaṃ. dvipañcaviññāṇavajjassa tebhūmakavipākacittassetaṃ adhivacanaṃ. saṅkhārasamudayāti ettha pana yo saṅkhāro yassa viññāṇassa paccayo hoti, tassa vasena saṅkhārasamudayā viññāṇasamudayo veditabbo. sesaṃ vuttanayamevāti.

0

255

102. saṅkhāravāre

abhisaṅkharaṇalakkhaṇo saṅkhāro.

Ở đoạn kinh về Hành, [Hành] có đặc điểm là sự tạo tác.

256

vitthāravāre panassa kāyasaṅkhāroti kāyato pavattasaṅkhāro, kāyadvāre copanavasena pavattānaṃ kāmāvacarakusalato aṭṭhannaṃ, akusalato dvādasannanti vīsatiyā kāyasañcetanānametaṃ adhivacanaṃ. vacīsaṅkhāroti vacito pavattasaṅkhāro, vacīdvāre vacanabhedavasena pavattānaṃ vīsatiyā eva vacīsañcetanānametaṃ adhivacanaṃ. cittasaṅkhāroti cittato pavattasaṅkhāro, kāyavacīdvāre copanaṃ akatvā raho nisīditvā cintayantassa pavattānaṃ lokiyakusalākusalavasena ekūnatiṃsamanosañcetanānametaṃ adhivacanaṃ. avijjāsamudayāti ettha pana kusalānaṃ upanissayavasena akusalānaṃ sahajātādivasenāpi avijjāpaccayo hotīti veditabbā. sesaṃ vuttanayamevāti.

0

257

103. avijjāvāre dukkhe aññāṇanti

dukkhasacce aññāṇaṃ, mohassetaṃ adhivacanaṃ. esa nayo samudaye

aññāṇantiādīsu.

Ở đoạn kinh về Vô Minh, [Vô Trí về Khổ] tức là Vô Trí đối với chân lý về Khổ; đó là thuật ngữ cho Si. Phương pháp (luận giải) đó cũng áp dụng đối với ‘Vô Trí về Nguồn Gốc của Khổ vân vân.’

258

tattha catūhi kāraṇehi dukkhe

aññāṇaṃ veditabbaṃ antogadhato

vatthuto ārammaṇato

paṭicchādanato ca.

Trong chủ đề này, vô trí về khổ nên được hiểu theo 4 phương diện: (1) Về mặt được bao hàm; (2) Về mặt cơ sở; (3) Về mặt đối tượng; và (4) Về mặt ẩn giấu.

259

tathā hi taṃ

dukkhasaccapariyāpannattā dukkhe antogadhaṃ. dukkhasaccañcassa

nissayapaccayabhāvena vatthu. ārammaṇapaccayabhāvena

ārammaṇaṃ. dukkhasaccañca etaṃ

paṭicchādeti,

tassa

yāthāvalakkhaṇappaṭivedhanivāraṇena, ñāṇappavattiyā cettha

appadānena.

Như vậy, quả thật; do trạng thái được bao gồm trong chân lý về khổ, nó (vô trí về khổ) được bao hàm trong khổ. Và chân lý về khổ là cơ sở (cho vô trí về khổ) với ý nghĩa là trợ duyên. Chân lý về khổ là đối tượng với ý nghĩa là đối tượng duyên. Và nó (vô trí về khổ) ẩn giấu chân lý về khổ bằng cách ngăn che sự thấu đạt đặc điểm chính xác của chân lý về khổ và bằng cách không cho phép sự diễn tiến của trí tại đó.

260

samudaye aññāṇaṃ tīhi kāraṇehi

veditabbaṃ vatthuto ārammaṇato

paṭicchādanato ca. nirodhe

paṭipadāyañca aññāṇaṃ ekeneva

kāraṇena veditabbaṃ

paṭicchādanato. nirodhapaṭipadāya hi paṭicchādakameva aññāṇaṃ tesaṃ yāthāvalakkhaṇappaṭivedhanivāraṇena, tesu ca ñāṇappavattiyā

appadānena. na pana tattha

antogadhaṃ, tasmiṃ saccadvaye

apariyāpannattā. na tassa taṃ saccadvayaṃ vatthu,

asahajātattā. nārammaṇaṃ,

tadārabbha appavattanato.

Vô trí về nguồn gốc khổ nên được hiểu theo 3 phương diện: (1) Về mặt cơ sở; (2) Về mặt đối tượng; và (3) Về mặt ẩn giấu. Vô trí về sự diệt khổ & con đường dẫn tới diệt khổ nên được hiểu theo một phương diện thôi: về mặt ẩn giấu. Bởi vì vô trí ẩn giấu sự diệt khổ & con đường dẫn tới diệt khổ bằng cách ngăn che sự thấu đạt đặc điểm chính xác của chúng và bằng cách không cho phép sự diễn tiến của trí đối với chúng. Nhưng vô trí không được bao hàm tại đó do nó không được bao gồm trong 2 chân lý đó. 2 chân lý đó không phải là cơ sở cho vô trí, do trạng thái không đồng sinh. 2 chân lý đó không phải là đối tượng cho vô trí, do trạng thái không diễn tiến liên quan đến chúng.

261

pacchimañhi saccadvayaṃ

gambhīrattā duddasaṃ, na cettha

andhabhūtaṃ aññāṇaṃ pavattati.

purimaṃ pana vañcaniyaṭṭhena

sabhāvalakkhaṇassa duddasattā

gambhīraṃ, tattha

vipallāsaggāhavasena pavattati.

Bởi vì 2 chân lý cuối cùng thì khó thấy do tính thâm sâu của chúng, nên vô trí – vốn có tính mù mòa – không diễn tiến tại đó. Thế nhưng, 2 chân lý đầu tiên thì lại thâm sâu do sự khó thấy đặc tính bản chất của chúng bởi (ý niệm) tốt đẹp ảo ảnh(i); vô trí diễn tiến tại đó theo phương cách là sự nắm bắt cái điên đảo(ii).

—–

(i) Người ta không thấy khổ hay nguồn gốc khổ vì lầm tưởng là cuộc đời tốt đẹp.

(ii) Vô thường lại nắm bắt là thường, khổ lại nắm bắt là lạc, vô ngã lại nắm bắt là ngã, bất tịnh lại nắm bắt là tịnh.

262

apica dukkheti ettāvatā saṅgahato vatthuto ārammaṇato kiccato ca avijjā dīpitā. dukkhasamudayeti ettāvatā vatthuto ārammaṇato kiccato ca. dukkhanirodhe dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāyāti ettāvatā kiccato. avisesato pana aññāṇanti etena sabhāvato niddiṭṭhāti ñātabbā.

0

263

āsavasamudayāti ettha pana

kāmāsavabhavāsavā

sahajātādivasena avijjāya paccayā

honti. avijjāsavo

upanissayavaseneva. pubbuppannā

cettha avijjā avijjāsavoti veditabbā.

sā aparāparuppannāya avijjāya

upanissayapaccayo hoti. sesaṃ

vuttanayamevāti.

[Do sự sinh lên của lậu hoặc] tức là: ở đây, dục lậu & hữu lậu là duyên cho vô minh theo phương diện là đồng sinh vân vân. Vô minh lậu là duyên cho vô minh theo phương diện là thân y (duyên). Và ở đây, vô minh sinh lên trước nên được hiểu là vô minh lậu. Nó là thân y duyên cho vô minh sinh lên kế tiếp. Phần còn lại cũng theo chính phương pháp (luận giải) được nói đó.

264

104. āsavavāre avijjāsamudayāti ettha avijjā kāmāsavabhavāsavānaṃ sahajātādivasena paccayo hoti. avijjāsavassa upanissayavaseneva.

Ở đoạn kinh về Lậu Hoặc, [do sự sinh lên của Vô Minh] tức là: trong chủ đề này, Vô Minh là duyên cho Dục Lậu & Hữu Lậu theo phương diện là đồng sinh vân vân; Vô Minh là duyên cho Vô Minh Lậu theo mỗi phương diện là thân y (duyên).

265

aparāparuppannā cettha avijjā avijjāsavoti veditabbā. pubbuppannā avijjāyevassa aparāparuppannassa avijjāsavassa upanissayapaccayo hoti. sesaṃ vuttanayamevāti.

0

266

ayaṃ vāro yā esā

paṭiccasamuppādapadesu jeṭṭhikā

avijjā, tassāpi paccayadassanavasena vutto. evaṃ vuttena vārena saṃsārassa anamataggatā sādhitā hoti.

Đoạn kinh này được nói bằng cách chỉ ra duyên của vô minh – chính vô minh là cái dẫn đầu trong lý duyên khởi. Khởi đầu không thể nhận thức được của vòng luân hồi đã được chứng minh bởi đoạn kinh được nói như vậy.

267

kathaṃ? āsavasamudayena hi

avijjāsamudayo. avijjāsamudayenāpi āsavasamudayo.

Như thế nào? Bởi vì do sự sinh lên của lậu hoặc có sự sinh lên của vô minh; và do sự sinh lên của vô minh có sự sinh lên của lậu hoặc.

268

evaṃ āsavā avijjāya avijjāpi

āsavānaṃ paccayoti katvā pubbakoṭi na paññāyati avijjāya, tassā

apaññāyanato saṃsārassa

anamataggatā siddhā hotīti.

Khi đã cho thấy “lậu hoặc là duyên cho vô minh và vô minh là duyên cho các lậu hoặc” như vậy, khởi điểm của vô minh là điều không thể biết. Do trạng thái không thể biết của vô minh, khởi đầu không thể nhận thức được của vòng luân hồi đã được chứng minh. 

269

evaṃ sabbepime imasmiṃ sutte kammapathavāro āhāravāro dukkhavāro jarā-maraṇa-jāti-bhava-upādāna-taṇhā-vedanā-phassa-saḷāyatana-nāmarūpa- viññāṇa-saṅkhāra-avijjā-āsavavāroti soḷasavārā vuttā.

♦ tesu ekekassa vārassa saṅkhepavitthāravasena dvidhā vibhattā dvattiṃsaṭṭhānāni honti. iti imasmiṃ sutte imesu dvattiṃsaṭṭhānesu cattāri saccāni kathitāni. etesaṃyeva vitthāravasena vuttesu soḷasasu ṭhānesu arahattaṃ kathitaṃ. therassa pana matena dvattiṃsāyapi ṭhānesu cattāri saccāni cattāro ca maggā kathitāti. iti sakalepi pañcamahānikāyasaṅgahite buddhavacane natthi taṃ suttaṃ, yattha dvattiṃsakkhattuṃ cattāri saccāni dvattiṃsakkhattuñca arahattaṃ pakāsitaṃ aññatra imamhā sammādiṭṭhisuttāti.

♦ idamavocāyasmā sāriputtoti idaṃ dvattiṃsāya catusaccapariyāyehi dvattiṃsāya arahattapariyāyehīti catusaṭṭhiyā kāraṇehi alaṅkaritvā sammādiṭṭhisuttaṃ āyasmā sāriputto avoca, attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ abhinandunti.

0

 

[89] Kinh Chánh Tri Kiến bắt đầu như sau: ‘Tôi đã nghe như vầy = Evaṃ me sutaṃ’. Ở đây, những câu hỏi mà trưởng lão Sārīputta đã hỏi: ‘Này hiền giả, chánh tri kiến [sammādiṭṭhi], chánh tri kiến, được gọi là như vậy, với bao nhiêu lý do, này hiền giả?’ hoặc ‘Lại nữa, như thế nào này hiền giả, là bất thiện?’ Tất cả câu hỏi này đều là kathetukamyatā-pucchā [Nếu người được hỏi không biết, ta sẽ trả lời].

Trường hợp này nói về chánh tri kiến người hiểu cũng có, người không hiểu cũng có, người ngoài Phật giáo cũng có, trong Phật giáo cũng có, có thể nghe theo lời truyền miệng cũng có, hoặc kinh nghiệm thực chứng của mình [attapaccakkha] cũng có. Cho nên, trưởng lão Sārīputta dựa vào phần lớn câu hỏi của mình lập lại 2 lần: ‘Này hiền giả, chánh tri kiến, chánh tri kiến,  được gọi là như vậy’, đây chính là điểm mong muốn, đối với những vị khác thì chỉ nói chánh tri kiến [sammādiṭṭhi] một lần.

Trưởng lão Sāriputta khi nói như vậy, đã hỏi lại rằng: ‘Với bao nhiêu lý do, này hiền giả, bậc thánh đệ tử [ariyasāvaka] được gọi là có chánh tri kiến?’ Như vậy, tức là ý nghĩa [attha] và đặc tính [lakkhaṇa] của chánh tri kiến.

Ở đây, người có chánh tri kiến [sammādiṭṭhi] là người thành tựu tri kiến cả tốt đẹp lẫn cao thượng. Lại nữa, khi nào chánh tri kiến chỉ sử dụng trong pháp [dhamma] thì khi ấy nên hiểu ý nghĩa từ đó như thế này ‘tri kiến tốt đẹp, tri kiến cao thượng’ gọi là chánh tri kiến [sammādiṭṭhi]. Và chánh tri kiến [sammādiṭṭhi] này có 2 loại là chánh tri kiến hiệp thế và chánh tri kiến siêu thế.

Ở đây, chánh tri kiến hiệp thế có 2 loại là: kammassakatāñāṇa [trí tuệ hiểu biết về nghiệp là của riêng mình] và saccānulomikañāṇa [trí thuận dòng để tỏ ngộ chân lý thánh đế], hoặc nói ngắn gọn là tất cả trí tuệ liên quan đến lậu hoặc [āsava] gọi là chánh tri kiến hiệp thế. Trí tuệ tương ưng với thánh đạo thánh quả thì gọi là chánh tri kiến siêu thế. Lại nữa, 3 hạng người có chánh tri kiến là: 1- hạng phàm phu [puthujja], 2- bậc hữu học [sekkha], 3- bậc vô học [asekkha].

Ở đây, hạng phàm phu có 2 hạng: 1- hạng người ngoài Phật giáo [bāhiraka], 2- hạng người trong Phật giáo [sāsanika]. 2 hạng người này thì hạng người ngoài Phật giáo tin vào nghiệp [kammavādī] gọi là hạng người có chánh tri kiến do thấy rằng mỗi chúng sanh đều có nghiệp riêng của mình, không phải thấy theo trí tuệ thuận dòng để tỏ ngộ chân lý thánh đế [saccānulomikañāṇa]. Đối với hạng người trong Phật giáo gọi là hạng người có chánh tri kiến bởi thấy được cả 2 là kammassakatāñāṇa [trí tuệ hiểu biết về nghiệp là của riêng mình] và saccānulomikañāṇa [trí thuận dòng để tỏ ngộ chân lý thánh đế], bởi vì vẫn còn chấp vào bản ngã chưa từ bỏ được ngã kiến [sakkāyadiṭṭhika].

Bậc hữu học [sekkha] gọi là có chánh tri kiến vì có chánh tri kiến nhất định [niyata], còn đối với bậc vô học [asekkha] gọi là có chánh tri kiến vì không cần học nữa. Lại nữa, ở đây muốn nói đến hạng người có chánh tri kiến cố định hợp với thiện siêu thế là pháp dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi mọi khổ đau, gọi là ‘sammādiṭṭhī, người có chánh tri kiến’.

Do đó, trưởng lão Sārīputta đã nói rằng: ‘Hạng người thành tựu lòng tin tuyệt đối trong giáo pháp, có tri kiến chân chánh, thành tựu diệu pháp [saddhamma] này’, chánh tri kiến hợp với thiện siêu thế là tri kiến chân chánh bởi vì đã đi đến sự chánh trực không vướng vào 2 cực đoan, hoặc sau khi cắt đứt mọi sự quanh co, có sự quanh co ở lộ thân vân vân, đi đến sự chánh trực, và chính hạng người có sở kiến ấy gọi là người có lòng tin tuyệt đối không bị lây chuyển, tức là với lòng tin tuyệt đối trong 9 Pháp siêu thế [lokuttaradhamma]. Bậc thánh đệ tử khi từ bỏ sự chấp thủ mọi sở kiến, dứt bỏ mọi phiền não, thoát ra khỏi vòng luân hồi là sự sanh, đã hoàn thành mọi pháp hành, Ngài gọi là thành tựu Diệu pháp [saddhamma], tức là pháp vô vi Nibbāna liên quan đến pháp bất tử [amatadhamma] nơi mà bậc Chánh đẳng Chánh giác đã tuyên thuyết với thánh đạo [ariyamagga].

Yoto kho = lúc nào’ này nói đến sự đo lường của thời gian, nghĩa là vào thời gian nào, vào lúc nào. ‘Akusalañca pajānāti = tuệ tri bất thiện’ nghĩa là biết rõ bất thiện, là thấu rõ mười bất thiện nghiệp đạo rằng ‘đây là khổ’ với sở dụng trí [kiccañāṇa] gọi là tuệ tri bất thiện, vì sự biết rõ có sự diệt tắt [nirodha] làm đối tượng. ‘Akusalamūlañca pajānāti = tuệ tri căn bổn bất thiện’ nghĩa là biết rõ căn bổn của bất thiện làm gốc rễ, làm duyên cho bất thiện đó, tức là thấu suốt đây là ‘nhân sanh khổ’ với chính nguyên nhân đó gọi là tuệ tri căn bổn bất thiện. Ở đây, thiệncăn bổn thiện cũng theo cách đó. Ở tất cả các đoạn kể từ đoạn này trở đi cũng tương tự như ở đoạn này cần tuệ tri vật [vatthupajānanā] bằng sở dụng trí [kiccañāṇa]. ‘Ettāvatāpi’ nghĩa là chỉ với nguyên nhân ấy, dầu là tuệ tri bất thiện vân vân. ‘Sammādiṭṭhi hoti = người có chánh tri kiến’ nghĩa là người thành tựu với chánh kiến siêu thế [lokuttarasammādiṭṭhi], trưởng lão Sārīputta chỉ nói lời tóm tắt như vầy: ‘Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này. Cần phải hiểu rằng [dẫu trưởng lão Sārīputta nói vắn tắt] những việc thấu đạt với chánh tác ý [sammāmanasikāra] bằng năng lực của chính mình, chư Tỷ-kheo (có thể) hiểu rộng rãi (ý nghĩa).

Lại nữa, ở đoạn thứ hai [cũng thuyết vắn tắt] nhưng phải hiểu rằng việc thấu đạt với chánh tác ý [sammāmanasikāra] với (ý nghĩa) rộng rãi, được nói một cách đầy đủ. Ở đây, các Tỷ-kheo đã suy xét rằng: ‘[Trong hai cách này bằng việc thuyết giảng vắn tắt] trưởng lão Sārīputta đã nói đến 2 đạo thấp bằng việc thuyết giảng vắn tắt, 2 đạo cao bằng việc thuyết giảng rộng rãi’, cuối cùng của việc thuyết giảng rộng rãi chư Tỷ-kheo thấy rằng: ‘do đoạn tận tất cả ái tùy miên.’ Nhưng trưởng lão đã nói về số lượng 4 đạo với việc thuyết vắn tắt cũng có, với việc thuyết rộng rãi cũng có. Và ở đây điều này đã thực hiện nghiên cứu tỉ mỉ chi tiết với việc thuyết cả vắn tắt và chi tiết, ở đây cách trình bày đó cần hiểu theo cách đã được trình bày trong tất cả các đoạn. Lại nữa, từ đây tôi chỉ sẽ giải thích ý nghĩa của những câu khó mà chưa được giải thích mà thôi.

Giải Thích Bất Thiện Nghiệp Đạo – akusalakammapathavaṇṇanā

Ở đây, cần biết rằng với việc thuyết rộng rãi chi tiết ở đoạn đầu được bắt đầu như sau: ‘Chư hiền, sát sanh là bất thiện’, nên biết rằng bất thiện diễn tiến theo sự không thiện xảo, bất thiện nên biết rằng là pháp đối lập với thiện cần được trình bày trước, hoặc theo trạng thái nên biết là pháp tội lỗi và cho quả khổ, hoặc là pháp ô nhiễm [saṃkilittha]. Đây là việc giảng giải chung trong phần bất thiện [akusala].

Giải Về Sát Sanh – Pāṇātipāta

Lại nữa, giảng giải chi tiết, việc tước đoạt mạng sống của chúng sanh gọi là sát sanh [pāṇātipāta], bao gồm giết chúng sanh có mạng sống là tiêu diệt mạng sống của chúng sanh. Từ ‘chúng sanh – pāṇa’ trong từ ‘sát sanh – pāṇātipāto’ này nói theo tục đế [vohāra] là chúng sanh, nói theo chân đế [paramattha] là mạng quyền [jīvitindriya]. Việc tác ý sẽ sát hại của người biết rõ chúng sanh có sanh mạng đó vẫn đang còn sống đó là nhân sanh [samuṭṭhāna] của việc cố gắng sẽ đoạt mạng quyền bằng thân môn, hoặc khẩu môn, bằng bất kỳ đường nào [thân hoặc khẩu] gọi là sát sanh [pāṇātipāto].

Sát sanh này nên biết rằng sát hại những sinh vật nhỏ thì có tội nhẹ, trong tất cả loài chúng sanh có mạng sống như loài bàng sanh vân vân thiếu phước. Có tội nặng đối với những chúng sanh có mạng sống thân hình to lớn. Vì sao? Vì cố gắng nhiều [cần nhiều phương kế]. Loài có thân hình to lớn cố gắng giết hại chúng thì có tội nặng. Trong tất cả chúng sanh có phước báu như loài người vân vân, sát hại [hạng người] ít phước báu thì có tội nhẹ, , sát hại [hạng người] nhiều phước báu thì có tội nặng. Khi kích thước [thân thể] và phước báu như nhau việc sát sanh nên biết rằng: tội nhẹ bởi vì phiền não và sự cố gắng yếu ớt, tội nặng vì phiền não và sự cố gắng mạnh mẽ.

Sát sanh hợp đủ 5 chi pháp: 1- Chúng sanh có sanh mạng [pāṇo], 2- Biết rõ chúng sanh có sanh mạng [pāṇasaññitā], 3- Tâm nghĩ giết hại chúng sanh [vadhakacittaṃ], 4- Cố gắng giết hại chúng sanh [payogo], 5- Chúng sanh ấy chết do sự cố gắng [tena maraṇaṃ].

Cố gắng giết hại chúng sanh có 6 cách: 1- Tự tay mình giết [sāhatthiko]. 2- Sai khiến người khác giết [āṇattiko], 3- Giết bằng các loại vũ khí sắc đao, kiếm, lao [nissaggiyo], 4- Giết bằng các loại vũ khí có tính cách lâu dài như đào hầm [thāvaro], 5- Cố gắng giết hại chúng sanh bằng cách dụng bùa chú, ngải ếm [vijjāmayo], 6- Cố gắng giết hại chúng sanh bằng thần thông [iddhimayo].

Lại nữa, khi giải thích cố gắng giết hại [payogo] này rộng rãi chi tiết trong phần đầu, sẽ bị trì hoãn chậm trễ, do đó sẽ không giải thích payogo đó nữa và những điều có liên quan, còn đối với những vị cần thiết thì hãy xem trong chú giải tạng Luật Samantapāsādika[1].

Giải Về Lấy Của Không Cho – Adinnādāna

Lấy những vật (có chủ sở hữu) mà không được phép gọi là lấy của không cho [adinnādāna], việc đem đi [vật, tài sản] của người khác gọi là trộm cắp [theyya], gọi là hành vi của kẻ trộm. Ở đây, ‘Adinna = không được cho, chưa được cho’ gồm tài sản có chủ gìn giữ, người sử dụng tài vật của người khác đã sử dụng [tài vật này người chủ không còn sử dụng hoặc không cần thiết nữa], trong khi vi phạm không đáng nhận hình phạt và không đáng bị khiển trách. Tác ý trộm cắp tài sản [người lấy] biết rõ của cải có chủ giữ gìn là tài sản đã có chủ gìn giữ, là nhân sanh của việc cố gắng lấy tài sản mà chủ sở hữu không cho phép gọi là adinnādāna [sự trộm cắp, sự lấy vật chưa cho]. sự trộm cắp có tội nhẹ với những tài sản không có giá trị [hīna], có tội nặng vì những tài sản có giá trị [paṇīta]. Vì sao? Vì chúng có giá trị.

Những đồ vật tương đồng, sự trộm cắp có tội nặng vì những đồ vật đó thuộc sở hữu của người có giới hạnh, tội nhẹ vì những đồ vật đó thuộc sở hữu của người không có giới hạnh, vì so sánh với người có đức hạnh. Sự trộm cắp khi hợp đủ 5 chi-pháp: 1- Của cải có chủ giữ gìn [parapariggahitaṃ], 2- Biết rõ của cải có chủ giữ gìn [parapariggahitasaññitā], 3- Tâm nghĩ trộm cắp [theyyacittaṃ], 4- Cố gắng trộm cắp [payogo], 5- Lấy được của cải ấy do sự cố gắng [avahāro].

Cố gắng trộm cắp có 6 cách: 1- Do chính mình trộm cắp của cải người khác vân vân. Diễn ra với khả năng lấy trộm do sự cố gắng này là: 2- lấy đi theo cách trộm cắp, 3- lấy đi bằng bạo lực, 4- lấy đi bằng cách che giấu, 5- lấy đi có tính toán, 6- lấy đi theo cách đánh tráo, nội dung nói trên chỉ được nói vắn tắt, còn nội dung chi tiết được trình bày trong chú giải Samantapāsādikāya[2].

Giải Về Tà Hạnh Trong Các Dục – Kāmesumicchācāra

Từ Kāmesu [trong các dục] trong từ Kāmesumicchācāra [những hành vi bất chính trong các dục] này gồm methunasamācāra [hành vi sai quấy trong các dục]. Những hành thấp hèn, tội lỗi mà các bậc trí khiển trách gọi là micchācāra [sự tà hạnh]. Lại nữa, tướng trạng [lakkhaṇa] tác ý vượt quá agamanīyaṭṭhāna [đối tượng người nữ không được quan hệ tình dục], tiến hành qua đường thân với ước muốn phi pháp gọi là kāmesumicchācāra [những hành vi bất chính trong các dục].

Ở đây, 10 đối tượng người nữ mà [người nam] bất khả xâm phạm là: 1- người nữ có mẹ bảo hộ, 2- người nữ có cha bảo hộ, 3- người nữ có mẹ cha bảo hộ, 4- người nữ có anh hoặc em trai bảo hộ, 5- người nữ có chị hoặc em gái bảo hộ, 6- người nữ có họ hàng bảo hộ, 7- người nữ có thân quyến bảo hộ, 8- người nữ được Tôn sư bảo hộ [người nữ xuất gia]. 9- người nữ đã kết hôn, 10- người nữ đang chịu hình phạt [lệnh phạt của Hoàng gia].

10 đối tượng người nữ được mua bằng tài sản là: 1- Người nữ được mua bằng tài sản, 2- người nữ sống chung do ưng thuận, 3- người nữ sống chung vì tài sản, 4- người nữ sống chung vì hy vọng có được đồ trang sức, 5- người nữ cưới theo nghi thức, 6- người nữ có vật lót ở đầu đặt xuống[3], 7- người nữ vừa làm vợ vừa làm nô lệ, 8- người nữ vừa làm vợ vừa làm công, 9- người nữ cướp được từ chiến trường, 10- người nữ chịu làm vợ trong thời gian ngắn.

Người nam tuyệt đối không được giao hợp đối với tất cả 20 hạng người nữ [nêu trên]. Lại nữa, trong 12 hạng con gái này gồm 2 hạng người nữ là người nữ đã kết hôn và người nữ đang chịu hình phạt, và 10 hạng người nữ được mua bằng tài sản, nếu người con gái nào tự ý có quan hệ bất chính với một người đàn ông nào khác (không phải là chồng của mình), thì người con gái ấy phạm điều giới tà dâm. Những hạng người bất khả xâm phạm thì sự tà hạnh có tội nhẹ với hạng người không có giới hạnh, có tội nặng vì hạng người có đầy đủ giới hạnh. Người phạm điều-giới tà-dâm khi hợp đủ 4 chi pháp là: 1- Đối tượng người nữ tuyệt đối không được quan hệ tình dục [agamaniyavatthu], 2- Tâm nghĩ sẽ quan hệ với đối tượng trên [tasmiṃ sevanacittaṃ], 3- Sự cố gắng trong việc hành dâm [payogo], 4- Sự thực hành giữa con đường này đi vào con đường kia [maggenamaggappaṭipattiadhivāsananti], sự cố gắng chỉ có một là tự mình gắng sức làm.

Giải Về Nói Dối – Musāvāda

Thân hành [kāyapayoga] hoặc khẩu hành [vacīpayoga] làm tổn giảm lợi ích [người khác] của kẻ có ý định nói sai [sự thật] gọi là chuyện dối [musā]. Tác ý nói chuyện dối do thân biểu tri [kāyapayoga] hoặc ngữ biểu tri [vacīpayoga] khiến cho người nghe hiểu sai [sự thật] làm nhân sanh [samuṭṭhāna] gọi là nói dối [musāvāda]. Lại nữa, chuyện không thật, không đúng gọi là chuyện dối [musā], khiến người khác hiểu sai vấn đề này là đúng, là thật thì gọi là lời nói [vāda]. Trạng thái tác ý của người nói mong muốn người khác hiểu chuyện không thật thành chuyện có thật đây là nhân sanh viññatti[4] [biểu tri]. Như thế được gọi là nói dối, nói không đúng sự thật [musāvāda].

Nói dối [musāvāda] có tội nhẹ khi lợi ích mà ta làm tổn giảm có số lượng nhỏ, tội nặng khi lợi ích mà ta làm làm tổn giảm có số lượng lớn. Lại nữa, lời nói dối của người tại gia thông qua cách nói rằng ‘không có’ vân vân vì không muốn đem tài sản của mình [cho người khác] thì có tội nhẹ, đưa ra lời khai để làm mất quyền lợi [đối phương] thì có tội nặng.  Còn đối với bậc xuất gia nói dối diễn ra theo cách purāṇakathā [nói thêm hoặc đùa cợt, nói mấp mé] rằng ‘hôm nay, dầu trong am thất hình như chảy thành sông’ với mục đích làm cho [người khác] cười vì đạt được dầu hoặc bơ thì có tội nhẹ, những điều mình không thấy mà nói rằng tôi thấy vân vân theo cách như vậy thì tội nặng.

Nói dối có 4 chi: 1- Điều không thật [atathaṃ vatthu]. 2- Cố ý nói sai sự thật [visaṃvādanacittatā]. 3- Cố gắng nói dối [payoga]. 4- Người nghe tin theo lời nói ấy [tadattha vijānanaṃ].

Sự cố gắng chỉ có một là tự mình làm. Lời nói dối ấy cần được biết thể hiện qua hành động nói sai khiến người khác hiểu lầm bằng thân, ràng buộc với thân, hoặc bằng lời nói, nếu người ấy hiểu được ý nghĩa hành động đó thì hành động này trói buộc với nghiệp nói dối [Musāvādakamma], ngay sát-na tác ý có hành động làm nhân sanh.

Giải Về Nói Lời Đâm Thọc – Písuṇavācā

Lời nói nào làm nhân khiến tâm của người nghe thương mình và ghét người khác gọi là Pisuṇāvācā. Lời nói nào gây sự hiểu lầm, gây sự chia rẽ, gây sự bất hòa, gây sự hiềm khích giữa hai người gọi là lưỡng thiệt [Pisuṇāvācā]. Lại nữa, lời nói nào khiếm nhã, bất lịch sự, là những lời không dịu dàng, không êm tai, hoặc không mát lòng khiến người nghe khó chịu gọi là ác ngữ [pharusavācā]. Lời nói nào phù phiếm, linh tinh nhảm nhí không lợi ích gọi là ỷ ngữ [samphappalāpa]. Tác ý trở thành căn bản của những lời khiếm nhã và lời nói nhảm nhí cũng được xem là pisuṇāvācā. Ở đây mục đích lấy tác ý ấy. Tác ý của người nào với tâm uế nhiễm, làm nhân sanh [samuṭṭhāna] cho thân hành hoặc khẩu hành để làm hại người, ước muốn để người khác yêu mến mình [lợi mình] gọi là lưỡng thiệt [pisuṇāvācā] trong khẩu nghiệp [vacīkamma]. Lời nói này được xem có tội ít khi người bị hại kém giới đức, sẽ có tội nhiều khi người bị hại là bậc có giới đức.

Lưỡng thiệt có 4 chi là: 1- Người bị làm hại là người khác. 2- Có ý định làm hại với mong muốn rằng những người này sẽ là những người bị chia rẽ với xu hướng như vậy hoặc mong muốn ta sẽ là nơi yêu mến, là chỗ thân thiết của người khác. 3- Có sự cố gắng với tác ý ấy. 4- Người khác hiểu được ý nghĩa ấy.

Giải Về Ác Ngữ – ​​​​​​Phasuravācā

Với tác ý thô ác làm duyên cho thân hành và khẩu hành gây mất lòng, mất tình cảm với người khác gọi là ác ngữ [​​​​​​phasuravācā].Để làm sáng tỏ ý nghĩa của lời nói này, xin lấy câu chuyện sau đây:

Được biết có một đứa bé thường hay cãi lời mẹ trốn vào rừng chơi, người mẹ nhưng lúc tìm không được mới rủa rằng: ‘cầu cho trâu rừng hút mày’. Một hôm, trâu rừng xuất hiện như lời mẹ cậu nói, cậu bé mới phát lời chân thật [saccakiriyā]rằng: ‘mẹ của tôi đã nói bất cứ lời nào xin chớ thành hiện thực, mà hãy thành tựu những gì mà tâm ý của bà đã nghĩ’. Con trâu rừng tự dưng dừng lại ngay lập tức giống như bị cột vậy.

Khẩu hành dẫu làm nhân cắt đứt những lời ái ngữ [đề cập đến những thứ yêu quý], như câu chuyện đã nêu, lời ấy cũng không gọi là ác ngữ bởi do người nói có tâm từ ái. Thật vậy, đôi khi cha mẹ nói chuyện với con cái như thế này: ‘cầu cho những tên trộm chặt tụi bay ra từng mảnh’. Dẫu như thế, ngay cả một cánh hoa cũng không hy vọng rơi trên người của chúng. Và đôi lúc các thầy A-xà-lê và thầy tế độ đã nói như vầy với đệ tử và người hộ độ rằng: ‘Những người này nói gì với nhau mà không biết xấu hổ, không biết hổ thẹn hãy đuổi họ đi’, mặc dù vậy nhưng các thầy vẫn luôn mong muốn đệ tử và người hộ độ của mình thành tựu pháp học [agama, pariyatti] và thành tựu pháp thành [paṭivedha, adhigama] đối với các môn đồ và người hộ độ ấy.

Người nói có tâm từ ái thì khẩu hành không phải là ác ngữ như thế nào, người nói lời ngọt ngào, êm dịu thì khẩu hành cũng không phải là ác ngữ cũng như thế ấy. Lời nói mong muốn kẻ khác bị sát hại như: ‘ngươi hãy khiến cho kẻ này nằm yên giấc [chết]’, như vậy không gọi là ác ngữ không được. Vì người nói có tâm thô lỗ, ác ý. Ác ngữ này được xem là có tội nhẹ do đối tượng là người kém giới đức, sẽ có tội nặng vì đối tượng là bậc có giới đức.

Ác ngữ có ba chi là: 1- Đối tượng bị mắng chửi. 2- Tâm nóng giận bực tức. 3- Lời trách mắng, quở trách.

Giải Về Ỷ Ngữ – Samphappalāpa

Với tác ý bất thiện làm nhân sanh cho thân hành và khẩu hành khiến người khác hiểu được lời nói vô ích, nhảm nhí thì gọi là ỷ ngữ. Ỷ ngữ này được xem là có tội nhẹ do ít thân cận, sẽ có tội nặng do thân cận nhiều.

Ỷ ngữ có hai chi là: 1- Hướng tâm nói những lời vô ích như bàn luận về cuộc chiến đấu của vua trời bhārata, hay chuyện nàng sīta . 2- Đã nói những lời ấy.

Giải Về Tham Lam – Abhijjhā

Tác ý gọi là tham lam vì chăm chú, tức diễn ra nhằm mục đích hướng tâm vào tài vật của người khác và muốn nó thuộc về mình gọi là tham lam. Tham lam có trạng thái [lakkhaṇa] là nhìn chăm chú vào tài vật của người khác và muốn nó thuộc về mình ‘Ồ những tài vật sẽ thuộc về mình’. Tham lam đó có tội nặng và tội nhẹ cũng giống như trộm cắp.

Tham lam có hai chi là: 1- Tài vật của người khác, 2- Muốn nó thuộc về mình. Khi tham lam sanh khởi, tài vật của người khác làm nhân, nghiệp đạo không bị đứt quãng, tới khi nói rằng lấy [tài vật] vì chính mình  ‘Ồ những tài vật sẽ thuộc về mình’.

Giải Về Sân Hận – Byāpāda

Ác pháp [pāpadhamma] gọi là sân hận bởi vì pháp này sẽ hủy hoại sự lợi và ích an lạc. Sân hận này có trạng thái [lakkhaṇa] là hủy hoại người khác. Tội nặng và tội nhẹ của sân hận giống như ác ngữ.

Sân hận có hai chi là: 1- Chúng sanh khác. 2- Tâm nghĩ hủy diệt chúng sanh ấy. Khi sân hận sanh khởi, có chúng sanh khác làm nhân, nghiệp đạo không bị đứt quãng, suy nghĩ hủy hoại [chúng sanh đó]  ‘Ồ chúng sanh này đáng bị huỷ hoại, tiêu diệt’.

Giải Về Tà Kiến – Micchādiṭṭhi

T​​​​à kiến nghĩa là sự thấy sai, bởi vì thấy không đúng theo chân lý. Tà kiến có trạng thái là thấy sai như cho rằng ‘bố thí không có quả báu’. Tội nặng và tội nhẹ của tà kiến cũng giống như ỷ ngữ. Lại nữa, tà kiến nhẹ [bất định] có tội ít, tà kiến nặng [nhất định] có tội nhiều.

Tà kiến đó có hai chi là: 1- Việc sái quấy từ trạng thái [ākāra] chấp thủ, và 2- Hiện bày với thực tính đó là chấp chặt vào sự sai lệch ấy.

Phân Tích Theo Năm Pháp

Lại nữa, nên biết phân tích 10 bất thiện nghiệp đạo này theo năm pháp: 1- Theo pháp [dhammato], 2- Theo từng phần [koṭṭhāsato], 3- Theo đối tượng [ārammaṇato], 4- Theo thọ [vedanāto], 5- Theo căn [mūlato].

Ở đây, theo dhammato nên biết rằng sự thật trong tất cả 10 bất nghiệp đạo ấy thì 7 nghiệp đạo đầu [3 thân nghiệp và 4 khẩu nghiệp] là tác ý thuộc về thân, 3 nghiệp đạo còn lại có tham lam vân vân, là tác ý thuộc về tâm.

Theo koṭṭhāsato nghĩa là bảy nghiệp đạo đầu và tà kiến thì tám nghiệp đạo này chỉ là bất thiện nhưng không thuộc về căn bất thiện, còn tham lam và sân hận thì cả hai nghiệp đạo này vừa là nghiệp bất thiện và là căn bất thiện, vì làm căn bất thiện cho nên tham lam [abhijjhā] là căn bất thiện tham [lobha-akusalamūla] và sân hận là căn bất thiện sân [dosa-akusalamūla] .

Theo ārammaṇato có nghĩa là sự sát sanh có hành [saṅkhāra] làm đối tượng, tức mạng quyền [jīvitindriya] làm đối tượng; trộm cắp có chúng sanh làm đối tượng và hành làm đối tượng; tà dâm có hành làm đối tượng do mãnh lực của xúc [Cảnh xúc, phoṭṭhabbārammaṇa gồm đất, lửa, gió]. Một số thầy giáo thọ cho rằng: cũng có chúng sanh làm đối tượng. Nói dối có chúng sanh làm đối tượng và hành làm đối tượng. Nói đâm thọc cũng giống như nói thô ác chỉ có chúng sanh làm đối tượng. Ỷ ngữ [chuyện phiếm,vô ích] có chúng sanh làm đối tượng và hành làm đối tượng do mãnh lực của cảnh sắc đã thấy, cảnh thanh đã nghe, cảnh khí đã ngửi, cảnh vị đã nếm, cảnh xúc đã chạm, và cảnh pháp đã biết; tham lam cũng tương tự; sân hận chỉ lấy duy nhất chúng sanh làm đối tượng; còn tà kiến lấy hành làm đối tượng do mãnh lực của các pháp diễn tiến trong ba cõi.

Theo vedanāto có nghĩa là sát sanh có 1 thọ là thọ khổ. Bởi vì những vị vua sau khi thấy tên trộm đã cười và nói rằng: ‘đi mang hắn đi giết’, mặc dù vậy tâm quyết định của vua lúc ấy cũng là tác ý tương ưng thọ khổ. Trộm cắp có đủ 3 thọ. Tà dâm có hai thọ do mãnh lực của thọ lạc và thọ xả, nhưng không phải xả thọ trong tâm làm sự quyết định. Nói dối có 3 thọ. Nói đâm thọc cũng vậy. Nói thô ác chỉ có một là thọ khổ. Ỷ ngữ có 3 thọ. Tham lam có 2 thọ do mãnh lực của thọ lạc và thọ xả. Tà kiến cũng vậy. [Nhưng] sân hận chỉ có 1 thọ là thọ khổ.

Giảng Về Căn Bất Thiện – Akusalamūla

Theo mūlato nghĩa là việc sát sanh có hai căn bất thiện do mãnh lực của sân và si. Trộm cắp có hai căn bất thiện do mãnh lực của sân và si hoặc do mãnh lực của tham và si. Tà dâm có hai căn bất thiện do mãnh lực của tham và si. Nói dối có hai căn bất thiện do mãnh lực của sân và si hoặc do mãnh lực của tham và si. Nói đâm thọc ỷ ngữ cũng giống như nói dối. Nói thô ác có hai căn bất thiện do mãnh lực của sân và si. Sân hận cũng vậy. Tà kiến có hai căn do mãnh lực của tham và si.

Nên biết phân tích trong từ ‘căn bất thiện là tham’ [lobho akusalamūla] vân vân, như sau: gọi là tham do sự ham muốn, gọi là sân do sự nóng nảy, được gọi si là do sự mê mờ. Trong tất cả 3 pháp bất thiện này, tham được gọi là căn bất thiện vì bản thân nó vừa là bất thiện, có tội lỗi, cho quả khổ và vừa là căn gốc của pháp bất thiện có sát sanh vân vân. Với ý nghĩa là thực tính của các pháp tương ưng và với ý nghĩa là cận y duyên [upanissayapaccaya] của các pháp bất thiện. Tóm lại, theo lời của trưởng lão Sārīputta đã nói ‘này hiền giả, kẻ say đắm dục lạc bị chế ngự bởi ái dục, có tâm bị ái dục trói chặt [kẻ ấy] giết hại chúng sanh’ vân vân, ngay cả sân và si làm căn bất thiện cũng theo cách y vậy.

Kết Thúc Phần Giảng Giải Bất Thiện Nghiệp Đạo

Giảng Thiện Nghiệp Đạo – Kusalakammapatha

Nên biết phân tích tác ý tránh xa việc sát sanh là thiện [pāṇātipātā veramaṇī kusalaṃ] vân vân, như sau: tất cả các bất thiện nghiệp đạo có sát sanh vân vân, đã được tôi giải thích. Tác ý gọi là tránh xa [veramaṇī] bởi vì áp chế thù hận, nghĩa là dứt bỏ thù nghịch. Lại nữa, hạng người đã từ bỏ mọi thù hận do tác ý này làm nhân, do nhân đó, tác ý đó gọi là tránh xa, thay đổi từ ‘vi’ thành ‘ve’. Đây là giải thích ý nghĩa trong từ tránh xa [veramaṇī] với văn cú [byañjana], còn việc giải thích ý nghĩa theo sớ giải cần biết rằng sự kiêng tránh tương ưng với tâm thiện gọi là veramaṇī. Sự kiêng tránh của người tránh xa sự sát sanh được nói thế này ‘việc từ bỏ, việc tránh xa sự sát sanh trong lúc đó’ như vậy gọi là sự kiêng tránh [virati] tương ưng với tâm thiện.

Giảng Về Sự Kiêng Tránh – Virati

Sự kiêng tránh được chia thành 3 dạng: 1- Kiêng tránh do đối đầu [sampattavirati], 2- Kiêng tránh do thọ trì [samādānavirati], 3- Kiêng tránh do đoạn trừ [samucchedavirati]. Trong tất cả 3 sự kiêng tránh đó thì sự kiêng tránh sanh lên đối với hạng người không thọ trì nhưng sau khi suy xét đến dòng giống [jāti], độ tuổi [vaya] và việc nghe nhiều hiểu rộng [bahusacca] của chính mình nhận thấy rằng; ‘làm như vậy thật không thích hợp cho ta’, [do nghĩ vậy] đã không vi phạm khi phải đối diện, nên biết rằng đây là kiêng tránh do đối đầu [sampattavirati] giống như sự kiêng tránh của thiện nam Cakkana trong sīhaladavīpa.

Câu chuyện liên quan với sự kiêng tránh do đối đầu [sampattavirati]: Khi Cakkana còn bé, mẹ của cậu phát bệnh, và thầy thuốc bảo rằng cần thịt một con thỏ rừng còn sống mang về làm thuốc mới khỏi bệnh. Do đó, người anh của Cakkana bảo rằng: ‘Này Cakkana, em hãy ra rẫy tìm bắt thỏ mang về’.

Vâng lời anh, Cakkana đi đến rẫy. Khi ấy, có một con thỏ đang gặm cỏ non, nhìn thấy cậu bé, nó vội chạy trốn, nhưng bị vướng phải dây leo, cất tiếng kêu [kiri kiri]. Cakkana lần theo tiếng kêu ấy, bắt được con thỏ nghĩ rằng sẽ mang về làm thuốc cho mẹ, nhưng bất chợt cậu suy nghĩ rằng: ‘thật không thích hợp cho ta, khi sát hại mạng sống một sinh mạng để đổi lấy sự sống cho mẹ ta’. Rồi nói rằng: ‘hãy đi ăn cỏ, uống nước với các bạn của ngươi trong rừng đi’, rồi thả nó đi. Khi trở về nhà, cậu bị anh hỏi rằng ‘Sao em, có bắt được thỏ chăng?’. Cậu đã thuật lại mọi việc xảy ra, người anh liền trách mắng cậu. Cakkana đi vào gần chỗ mẹ, cậu đã phát nguyện lời chân thật rằng: ‘kể từ lúc tôi được sinh ra đến giờ, tôi chưa từng có suy nghĩ sát hại chúng sanh để đoạt mạng sống’. Ngay lập tức, mẹ của cậu đã hết bệnh.

Lại nữa, sự kiêng tránh khởi lên đối với hạng người đã thọ tri các học giới, dù có hi sinh mạng sống của chính mình trong thời gian thọ trì học giới và sau thời gian đó cũng không vi phạm, nên biết rằng đây là kiêng tránh do thọ trì [samādānavirati], giống như sự kiêng tránh của thiện nam bộ tộc uttaravaḍḍhamāna

Câu chuyện về sự kiêng tránh do thọ trì [samādānavirati]: Được biết rằng, vị thiện nam này sau khi thọ giới trong hội chúng nơi Trưởng lão Piṅgalabuddharakkhita tại tịnh xá Ambariya xong, ông ta ra đồng làm ruộng. Sau đó, con bò của ông ta đi mất, trong lúc đi tìm con bò, ông đã đi lên núi Uttaravaḍḍhamāna. Môt con mãng xà lớn quấn chặt lấy ông ta.

Ông nghĩ rằng ‘ta sẽ dùng con dao bén này chặt đầu nó’. Nhưng vẫn khởi lên suy nghĩ rằng: ‘ta đã thọ trì học giới từ nơi một vị thầy khả kính, việc sát hại này thật không thích hợp với ta’. Suy nghĩ vậy đến ba lần, ông ta mới quyết định rằng: ‘dù ta có từ bỏ sinh mạng này cũng không chấp nhận từ bỏ học giới’, rồi ném con dao ra xa. Ngay lúc ấy, con mãng xà bỗng nhiên thả ông ta ra và bò đi.

Giảng Về kiêng tránh do đoạn trừ – Samucchedavirati

Lại nữa, nên biết rằng kiêng tránh do đoạn trừ [samucchedavirati] là sự kiêng tránh tương ưng với thánh đạo. Kể từ lúc sự kiêng tránh này sanh, các bậc thánh không bao giờ khởi lên suy nghĩ ‘ta sẽ đoạt mạng của chúng sanh’. Và sự kiêng tránh này các ngài gọi là thiện [kusala] vì diễn ra khéo léo. Lại nữa ngài gọi là thiện vì đoạn tận ác giới [dussilā], được gọi là kusala do từ bỏ những điều ác, nhưng không được gọi là thiện bởi vì không tương đồng với vấn đề này, hiền giả thiện là gì?’

Phân Tích Thiện Nghiệp Đạo Theo Năm Pháp.

Giống như bất thiện nghiệp đạo thì thiện nghiệp đạo [kusalakammapatha] cũng cần phải biết phân tích theo 5 pháp đó là: 1- Theo pháp [dhammato], 2- Theo từng phần [koṭṭhāsato], 3- Theo đối tượng [ārammaṇato], 4- Theo thọ [vedanāto], 5- Theo căn [mūlato].

1- Theo pháp [dhammato] nghĩa là bảy thiện nghiệp đầu [theo tuần tự] vừa là tác ý và cả sự kiêng tránh [virati], còn ba nghiệp đạo cuối [3 ý nghiệp, manokamma] là pháp tương ưng với tác ý.

2- Theo từng phần [koṭṭhāsato] nghĩa là bảy thiện nghiệp đầu [theo tuần tự] là nghiệp đạo [thiện nghiệp đạo] nhưng không phải căn [căn thiện]. Ba thiện nghiệp cuối vừa là nghiệp đạo [thiện nghiệp đạo] mà cũng là căn [căn thiện]. Bởi vì không tham lam là thiện nghiệp đạo mới gọi là vô tham thiện căn, [nhưng] không sân hận được gọi là vô sân thiện căn, còn chánh kiến gọi là vô si thiện căn.

3- Theo đối tượng [ārammaṇato] nghĩa là các đối tượng như sát sanh vân vân là đối tượng của sự kiêng tránh [cố ý tránh xa sự sát sanh, vân vân] vì rằng sự kiêng tránh sẽ xảy ra với sự đối đầu với một vật cần phải vượt qua giống như thánh đạo cần phải có Nibbāna làm đối tượng mới đoạn trừ phiền não như thế nào thì các thiện nghiệp đạo như sát sanh cũng như thế, tức là phải có mạng quyền vân vân làm đối tượng mới từ bỏ được ác giới như sát sanh vân vân.

4- Theo thọ [vedanāto] nghĩa là tất cả thiện nghiệp đạo này vừa là lạc thọ và cũng là xả thọ bởi vì thiện không có khổ thọ [ thiện nghiệp đạo sẽ không cho quả khổ].

5- Theo căn [mūlato] nghĩa là bảy thiện đạo đầu sẽ có đủ ba căn do mãnh lực vô tham, vô sân, vô si đối với hạng người tránh xa [ác giới] bằng tâm thiện tương ưng trí. Chỉ có hai căn đối với hạng người tránh xa [ác giới] bằng tâm thiện bất tương ưng trí. Không tham lam [anabhijjhā] có hai căn với hạng người tránh xa [ác giới] bằng tâm thiện tương ưng trí; chỉ có một căn đối với hạng người tránh xa [ác giới] bằng tâm thiện bất tương ưng trí. Nhưng vô tham [alobha] chính nó không thể là căn của mình được, ngay cả ‘không sân hận’ cũng tương tự. Chánh kiến [sammādiṭṭhi] có hai căn theo mãnh lực của vô tham và vô sân.

Vô tham là căn thiện [alobho kusalamūlaṃ] vân vân, vì vô tham là sự không ham muốn. Vô tham là tên gọi của pháp [có đặc tính] đối nghịch lại với tham, vô sân và vô si cũng tương tự như vậy.

Tất cả 3 căn thiện đó thì vô tham gọi là căn thiện vì chính nó cũng là thiện và gọi là căn của tất cả pháp thiện như việc từ bỏ sát sanh vân vân, bởi vì thực tính của các pháp tương ưng thiện, và cũng là cận y duyên [upanissayapaccaya] của pháp thiện đó, vô sân và vô si cũng tương tự như vậy.

Giải Về Thánh Đế Theo Nghiệp Đạo.

Bấy giờ, trưởng lão Sārīputta nhắc lại ý nghĩa của cả 2 vừa vắn tắt và cả chi tiết thì ngài đã nói appanāvāra như sau: ‘Này hiền giả, khi nào thánh đệ tuệ tri bất thiện’. Như vậy tuệ tri bất thiện [evaṃ akusalaṃ pajānāti] nghĩa là biết rõ bất thiện với năng lực của 10 bất thiện nghiệp như đã trình bày. Kể cả ‘như vậy tuệ tri căn bản bất thiện [evaṃ akusalamūlaṃ] cũng theo cách tương tự.

Chỉ bấy nhiêu đó là với một cách duy nhất mà trưởng lão Sārīputta đã nói đến nghiệp xứ [kammaṭṭhāna] làm nhân dẫn dắt chúng sanh vượt khỏi [các cõi, bhava] đạt đến A-ra-hán đối với hạng người thành tựu nghiệp xứ [kammaṭṭhāna] có tứ thánh đế [caturāriyasacca] làm đối tượng. Nói như thế nào? Nói rằng, sự thật 10 bất thiện nghiệp đạo và 10 nghiệp thiện đạo, trừ tham lam [abhijjhā] ngài gọi là Khổ đế [dukkhasacca] trong nghiệp đạo nghiệp đạo này, còn 2 pháp gồm tham lam [abhijjhā] và tham [lohha] là căn bất thiện ngài gọi là Tập đế trực tiếp. Nhưng tất cả thiện nghiệp đạo Ngài gọi là Khổ đế gián tiếp. Các căn thiện và căn bất thiện Ngài gọi là Tập đế. Không diễn tiến theo căn thiện và căn bất thiện Ngài gọi là Diệt đế. Khi biến tri khổ, đoạn trừ tập, tác chứng diệt thánh đạo Ngài gọi là Đạo đế, cả 2 đế đã được Ngài nói tóm tắt. Cả 2 đế [Diệt và Đạo] nên biết với khả năng tuần hoàn [āvattahāravasena].

‘Vị ấy đoạn trừ tất cả ái tùy miên  = so sabbaso rāgānusayaṃ pahāya’ nghĩa là khi nào vị ấy tuệ tri bất thiện như vậy, khi ấy vị ấy đoạn trừ ái tùy miên với mọi phương thức [sabbākāra]. ‘đã tẩy sạch sân tùy miên = paṭighānusayaṃ paṭivinodetvā’ nghĩa là hoàn toàn tẩy sạch sân tùy miên. Chỉ bấy nhiêu mà A-na-hàm đạo đã được trưởng lão Sārīputta nói đến. ‘Nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên rằng ‘tôi là’ = asmīti diṭṭhimānānusayaṃ samūhanitvā’ nghĩa là nhổ bỏ kiến mạn tùy miên diễn ra theo phương thức tổng hợp tổng thể [samūhaggahaṇa] ‘tôi là’ sau khi thực hành không phân định các pháp nơi ngũ uẩn.

Ở đây, ‘kiến mạn tùy miên = diṭṭhimānānusaya’ Ngài giải thích rằng ngã mạn tùy miên [mānānusaya] ngang bằng với tà kiến tùy miên [diṭṭhānusaya]. Gọi là tương đồng với tà kiến tùy miên do diễn tiến theo trạng thái cho rằng ‘tôi là’, cho nên Ngài đã nói như vậy. [Những ai] với mong muốn hiểu rõ từ ‘ngã mạn – asmimāna’ này chi tiết hãy xem bài kinh Khemasutta trong Phẩm Uẩn[5].

Đoạn trừ vô minh = avijjaṃ pahāya’ nghĩa là đoạn tận vô minh là gốc của luân hồi [vaṭṭa]. ‘Sau khi đã làm minh sanh khởi = vijjaṃ uppādetvā’ nghĩa là làm cho minh [vijjā] là A-ra-hán đạo sanh khởi để đánh bại vô minh [avijjā] đó. Chỉ bấy nhiêu mà A-ra-hán đạo đã được trưởng lão Sārīputta nói đến.

Diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại = diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti’ nghĩa là vị đã cắt đứt luân hồi khổ ngay ở bản ngã này [attabhava]. Trưởng lão Sārīputta đã kết thúc pháp thoại bằng lời ‘này hiền giả, chỉ bấy nhiêu’, nghĩa là với khả năng thấu đạt bằng việc tác ý như đã nói trong việc trình bày nghiệp đạo này thì những từ còn lại cũng theo cách đã nói như trên. Như vậy [ngài trưởng lão Sārīputta] kết thúc pháp thoại với A-na-hàm đạo và A-ra-hán đạo như đã giải thích.

Kết Thúc Phần Nghiệp Đạo

Giải Về Vật Thực – Āhāra

[90] ‘Lành thay, hiền giả! -nt- thành tựu diệu pháp này’, chư Tỷ-kheo sau khi nghe thuyết giảng về Tứ Thánh Đế của trưởng lão Sārīputta với chủ đề thiện và bất thiện như vậy, các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ mới thốt lên lời ‘lành thay, thưa ngài’.Tâm sau khi hoan hỷ làm nhân sanh cho lời nói ấy, tâm hoan hỷ và tín thọ lời nói [trưởng lão Sārīputta]. Bây giờ, chính vì trưởng lão là người có khả năng thuyết giảng về Tứ Thánh Đế bằng nhiều phương diện khác nhau đã được Thế Tôn xác nhận rằng: ‘Này các Tỷ-kheo, Sārīputta có thể thuyết giảng về Tứ Thánh Đế rộng rãi chi tiết’, hoặc vì trưởng lão Sārīputta có mong muốn thuyết giảng pháp vượt trội hơn nên mới Ngài mới nói rằng ‘Này hiên giả chỉ bấy nhiêu = ettāvatāpi kho āvuso’, chính vì thế chư Tỷ-kheo muốn nghe thuyết giảng Tứ Thánh Đế ở phương diện khác, nên hỏi vấn đề xa hơn cùng trưởng lão Sārīputta. Vì lý do ấy [các Tỷ-kheo hỏi vấn đề xa hơn thế này], ‘Lại nữa này hiền giả, có thể có pháp môn nào khác ngoài vấn đề mà Ngài tự hỏi tự trả lời không?’ Lại nữa, có lời giải thích rằng các vị Tỷ-kheo ấy hỏi một phần vấn đề nằm ngoài vấn đề ban đầu, hoặc Ngài giải thích rằng các vị Tỷ-kheo ấy hỏi về vấn đề đầu tiên nhưng đi xa hơn. Khi đó, trưởng lão giải đáp vấn đề với cùng các Tỷ-kheo mới thuyết rằng ‘chư hiền, có thể có = siyā, āvuso’.

Trong phần giảng giải về vật thực chỉ giảng những từ khó như sau: Từ āhāra [vật thực] bao gồm duyên [paccaya], vì làm duyên cho quả đến chính mình, do đó paccaya gọi là āhāra [vật thực]. Chúng sanh đã sanh ra gọi là bhūta, trong cụm từ ‘Để tất cả chúng sanh đã sanh = bhūtānaṃ vā sattānaṃ’. Chúng sanh tìm kiếm là tìm kiếm sambhava là sự sanh ra gồm sự sanh khởi gọi là sambhavesī.

Ở đây, 4 cách sanh, nhóm chúng sanh sanh trong trứng [aṇḍaja] và sanh trong bào thai [jalābujā], lúc nào chưa phá vỡ vỏ trứng và màng bọc chui ra ngoài thì lúc đó vẫn gọi là sambhavesī. Đến khi phá vỡ vỏ trứng và màng bọc chui ra ngoài mới gọi là bhūta. Loài thấp sanh [saṃsedajā] và hóa sanh [opapātikā] ở sát-na tâm thứ nhất [của tâm tục sinh] gọi là sambhavesī, từ sát na thứ hai trở đi gọi là bhūta. Lại nữa, chúng sanh sẽ sanh ra dù ở bất kỳ oai nghi nào, lúc nào chưa thay đổi oai nghi khác thì lúc đó gọi là sambhavesī, kế tiếp oai nghi ấy mới gọi là bhūta. Lại nữa, chúng sanh đã sanh ra, đã sanh lên, đã thành tựu gọi là bhūta. Hoặc Chúng sanh nào đã sanh ra, được gọi là sẽ không sanh trở lại nữa thì bhūta này là tên gọi của chúng ấy, chỉ cho bậc Lậu Tận [khīnāsava].

Chúng sanh nào đang tìm kiếm sự tái sanh thì chúng sanh ấy gọi là sambhavesī. Sambhavesī ở đây chỉ cho bậc Thánh hữu học và hạng phàm phu còn đang tìm kiếm sự tái sanh vì chưa đoạn tận hết các kiết sử trong kiếp này. Như vậy, với 2 câu nội dung đã kiểm soát hết tất cả chúng sanh. Từ ‘’ trong cụm từ ‘bhūtānaṃ vā sattānaṃ’ có ý nghĩa liên kết, cho nên học giả cần phải biết ý nghĩa này tương đồng với ‘bhūtānañca sambhavesī = cả bhūta và cả sambhavesī’. ‘Để duy trì mạng sống = ṭhitiyā’ nghĩa là để duy trì thọ mạng. ‘trợ giúp = Anuggahāya’ nghĩa là nhằm để hỗ trợ, tức là để trợ giúp. Cả 2 từ bhūtānaṃ vā sambhavesīnaṃ chỉ khác biệt về cách nói, nhưng ý nghĩa thì như nhau.

Lại nữa, nên biết lời giải thích sau đây: ‘Để duy trì mạng sống = ṭhitiyā’ nghĩa là làm cho các pháp sanh lên cùng chúng sanh đó không bị gián đoạn, không bị đứt quãng. ‘Anuggahāya = để hỗ trợ’ là làm cho các pháp chưa sanh, được sanh khởi. Và cả 2 từ này cần được sử dụng trong cả 2 ý nghĩa là để duy trì mạng sống và để hỗ trợ cho tất cả bhūta, và để duy trì mạng sống và để hỗ trợ cho tất cả sambhavesī.

Giảng Về Đoàn Thực – Kabaḷīkārāhāra

Vật thực làm thành từng vắt trước khi ăn gọi là đoàn thực [kabaḷīkārāhāra], đoàn thực chỉ cho dưỡng tố hay dưỡng chất [oja] có trong cơm, bánh, sữa, vân vân. ‘Vật thực thô hoặc vật thực tế = oḷāriko vā sukhumo vā’ nghĩa là vật thực gọi là thô vì vật thực thô theo vật [vatthu], vật thực gọi là vi tế vì vật thực tế theo vật [vatthu]. Nhưng nói theo pháp thực tính thì đoàn thực được xem là vi tế bởi vì [vật thực này] thuộc sắc tế [sukhumarūpa[6]], dù vật thực đó là đồ thô cứng hay vi tế theo vật [vatthu] cũng cần phải biết chúng là sắc thủ [upādāyarūpa[7]].

Sự thật, khi so sánh thức ăn của cá sấu thì thức ăn của con chim công vi tế hơn. Được biết rằng loài cá sấu dù nuốt sỏi đá thì cá sấu cũng tiêu hoá được sỏi đá ở trong bụng. Loài công chỉ ăn côn trùng bò sát như rắn, bò cạp vân vân. Khi so sánh vật thực của loài công thì vật thực của linh cẩu được xem là vi tế hơn, được biết loài linh cẩu ăn sừng và xương thú [loài động vật] vứt bỏ suốt 3 năm,  sừng và xương ấy khi thấm vào nước bọt của chúng cũng sẽ mềm đi giống như củ cải, rễ khoai vậy.  Khi so sánh vật thực của linh cầu thì vật thực của loài voi được xem là vi tế hơn, vì voi thường chỉ ăn các loại cành lá. Vật thực của ngựa, hươu, nai, vân vân, được xem là vi tế hơn vật thực voi, loài này chỉ ăn lá cỏ mềm. Vật thực của loài bò được xem là vi tế hơn loài ngựa nai, vì loài bò vừa ăn cỏ mềm và cả cỏ khổ. Vật thực của thỏ vi tế hơn vật thực loài bò. Vật thực của loài chim vi tế hơn vật thực của loài thỏ. Vật thực của dân thôn quê biên địa vi tế hơn vật thực của loài chim. Vật thực của dân thành thị vi tế hơn ở thôn quê biên địa. Vật thực của vua quan vi tế hơn vật thực dân thành thị. Vật thực của Chuyển Luân Vương vi tế hơn những hạng người khác. Vật thực của Chư thiên địa cầu vi tế hơn Chuyển Luân Vương. Vật thực của Tứ Đại Thiên Vương vi tế hơn vật thực của Chư thiên địa cầu. Tuần tự như thế [Chư thiên ở những cõi khác] cho đến Chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Nói tóm lại thì vật thực của Chư thiên ở cõi ấy được xem là vi tế nhất.

Lại nữa, vật thực thô thì sẽ có ít chất bổ, ít năng lượng. Vật thực tế thì sẽ nhiều chất bổ, nhiều năng lượng. Thật vậy, với người ăn một bát cháo đầy, chỉ một lát sau cảm thấy đói, muốn ăn thêm một chút gì nữa. Còn đối với người chỉ ăn một chén súp có thể sẽ no cả ngày. Trong hai loại vatthu [vật thực thô] và dưỡng tố [ojā]. Vatthu [vật thực thô] làm tan biến cơn đói, nhưng không thể nuôi dưỡng gìn giữ mạng sống. Còn Ojā [dưỡng chất, dưỡng tố có trong thức ăn] nuôi dưỡng được mạng sống của chúng sanh, nhưng không thể chấm dứt cơn đói. Cả hai loại này kết hợp lại vừa làm dứt cơn đói và cũng vừa nuôi dưỡng được mạng sống của chúng sanh.

Từ Xúc thực [phassāhāra] gồm 6 Xúc có Nhãn xúc [cakkhusamphassa], vân vân. Nên biết rằng là loại vật thực thứ 2 [Xúc thực] trong tất cả 4 loại vật thực. Đây chỉ là cách thuyết mà thôi. Vì thế tên gọi này không cần phải tìm kiếm ý nghĩa trong từ vật thực 2, vật thực 3 trong phần vật thực này nữa. Chính tư [cetanā] Ngài gọi là tư niệm thực [manosañcetanā]. Bất cứ tâm nào [trong 89 hoặc 121 tâm] gọi là thức [viññāṇa].

Về vấn đề này trưởng lão Sārīputta nói như sau: ‘nếu hỏi rằng, chúng sanh duy trì mạng sống nhờ duyên [paccaya], duy trì mạng sống nhờ vật thực. Nếu như vậy, tại sao duyên [vật thực] của tất cả chúng sanh dẫu cho những thứ khác còn hiện hữu, Ngài lại thuyết bốn loại vật thực này nữa’. Tôi sẽ giải đáp: Ngài thuyết vì là duyên [paccaya] đặc biệt của sự liên tiếp [santati] bên trong.

Giải thích rằng đoàn thực là loại duyên [paccaya] đặc biệt cho cơ thể [sắc thân] chúng sanh. Trong danh uẩn thì Xúc thực là duyên [paccaya] đặc biệt của thọ, Tư niệm thực là duyên [paccaya] đặc biệt của thức. Thức thực là duyên [paccaya] đặc biệt của danh và sắc. Như Đức Thế Tôn thuyết rằng: ‘Này chư Tỷ-kheo, thân thể này nương vào vật thực mới duy trì được, không có vật thực thì không thể tồn tại. Cũng như thọ sanh vì xúc làm duyên, thức sanh vì hành làm duyên, danh sắc sanh vì thức làm duyên’.

Vấn: Trong Tứ thực này, mỗi loại vật thực duyên cho cái gì?

Đáp: Đoàn thực duyên cho sắc có dưỡng tố [ojā] là thứ 8 [8 sắc bất ly, avinibbhogarūpa], xúc thực duyên cho ba thọ, tư niệm thực duyên cho ba cõi, Thức thực duyên cho danh sắc tái tục.

Làm duyên như thế nào?

Làm duyên như vầy, nói về đoàn thực trước chỉ cần để thức ăn vào miệng cũng tạo thành 8 sắc [8 sắc sanh khởi]. Đối với mỗi hạt cơm mà nhai nhuyễn rồi nuốt, mỗi hạt như thế hình thành 8 sắc, đoàn thực đem lại cho sắc có dưỡng tố [ojā] là thứ 8 [8 sắc bất ly, avinibbhogarūpa].

Lại nữa, Xúc thực là xúc đem lại cho lạc thọ, khi sanh khởi sẽ mang lại cảm giác thoải mái, xúc đem lại khổ thọ cũng như vậy, [khi sanh khởi sẽ gây ra] cảm giác bực bội khó chịu. Xúc đem lại cho bất khổ bất lạc, [khi sanh khởi sẽ mang đến] cảm giác không khổ không vui. Như vậy, xúc thực đem lại [làm duyên] cả 3 thọ sanh khởi.

Tư niệm thực là nghiệp cho dẫn đến dục hữu [kāmabhava], sẽ đi đến dục giới [với nghiệp tương ứng], Sắc giới và Vô sắc giới sẽ dẫn đến cõi sắc và cõi Vô sắc [với nghiệp tương ứng]. Như vậy tư niệm thực [manosañcetanāhāra] dẫn đến [làm duyên] trong tất cả 3 cõi.

Lại nữa, thức thực [viññāṇāhāra] Ngài đã nói rằng dẫn dắt ba uẩn tương ưng với thức đó và 30 sắc sanh khởi với mãnh lực của 3 sắc tiến [santati] trong sát na tục sinh bằng câu sanh duyên [sahajātādipaccaya]. Như vậy thức thực [viññāṇāhāra] dẫn đến [làm duyên] danh sắc tái tục.

Lại nữa, trong phần vật thực này tác ý thiện [kusalacetanā] và tác ý bất thiện [akusalacetanā] hữu lậu [sāsava], Ngài nói rằng tư niệm thực [manosañcetanāhāra] sẽ dẫn đến 3 cõi, chính thức tục sinh đó [paṭisandhiviññāṇa] Ngài nói rằng thức sẽ dẫn dắt danh sắc trong sát-na tục sinh. Ba loại thực này nên biết rằng là những loại vật thực không thể tách rời nhau vì dẫn đến [làm duyên] cho pháp tương ưng với thức và pháp làm nhân sanh của thức.

Trong tất cả 4 loại vật thực này đoàn thực [kabaḷīkārāhāra] hoàn thành phận sự hỗ trợ dẫn dắt sắc đến [làm duyên cho sắc sanh]. Xúc duyên thọ [sự xúc chạm khi đã hoàn thành thì thọ sanh khởi]. Tư niệm duyên cho ba cõi [hoàn thành phận sự là dẫn đến 3 cõi]. Thức chỉ khi nhận biết [hoàn thành phận sự là dẫn dắt danh sắc trong sát na tái tục].

Như thế nào? như thế này, sự thật thì đoàn thực hỗ trợ duy trì mạng sống của tất cả chúng sanh, với hỗ trợ gìn giữ sắc thân này. Mặc dầu sắc thân này do nghiệp tạo nhưng nếu không có đoàn thực nuôi dưỡng thì không thể nào tồn tại được đến 10 năm, 20 năm, vân vân. Cũng giống như đứa bé sơ sinh được sanh ra bởi người mẹ, nhưng nếu không được bú mớm và chăm sóc thì không thể trưởng thành.

Tựa như ngồi nhà được làm bằng gỗ, như trong đoạn kinh sau: Tâu Đại vương! Khi nhà sắp đổ, mọi người lấy cây khác để chống đỡ, ngôi nhà ấy được những cây khác chống đỡ nên được đứng vững, ngôi nhà đó không bị sụp đổ như thế nào, thì cái thân này cũng như thế ấy tâu Đại Vương duy trì được do vật thực, nhờ vật thực mà tồn tại được’.

Khi đoàn thực hỗ trợ nuôi dưỡng cái thân này như thế được gọi là thành tựu phận sự hỗ trợ [nuôi dưỡng và phát triển] của vật thực, tức là mang sắc pháp đến. Và ngay khi hoàn thành phận sự thì đoàn thực cũng được gọi là làm duyên cho 2 sắc liên tục hay sắc tiến [santatirūpa] là làm duyên cho sắc pháp có vật thực làm sở sanh [samuṭṭḥāna] và sắc thủ [ái và tà kiến]. Đoàn thực được gọi là pháp hỗ trợ nghiệp [kammajarūpa – sắc sanh lên do nghiệp]. Và làm duyên sản sinh sắc có vật thực làm sở sanh nuôi dưỡng.

Còn xúc khi có đối tượng làm nơi trú của sự an vui vân vân, sự an trú đó gọi là có tồn tại, nhằm duy trì sự sống của tất cả chúng sanh với sự xoay vòng của lạc thọ vân vân. Tư niệm thực khi tích trữ với mãnh lực của nghiệp thiện và nghiệp bất thiện gọi là có tồn tại nhằm duy trì sự sống của tất cả chúng sanh để sản sinh ra gốc rễ các hữu [bhava]. Thức chỉ khi nhận biết gọi là có sự tồn tại, nhằm duy trì sự sống của tất cả chúng sanh với sự diễn hoạt của danh và sắc.

Nguy Hại Của Tứ Thực

Trong tất cả 4 loại vật thực khi thành tựu phận sự của vật thực với năng lực của sự hỗ trợ vân vân, cần thấy 4 nỗi nguy hại này là 1- Nguy hại của đoàn thực là sự ham muốn. 2- Nguy hại của xúc thực là sự dính mắc. 3- Nguy hại của tư niệm thực là sự tích trữ. 4- Nguy hại của thức thực là sự tái sanh.

Nguy hại như thế nào? Tất cả chúng sanh tạo ra sự nguy hại nghĩa là khi chúng sanh mong muốn về đoàn thực để chống lại sự lạnh lẽo vân vân, phải làm việc cực nhọc vất vả để có được vật thực, trải qua nỗi khốn khổ không phải ít. Và một vài người dù đã xuất gia cũng tìm kiếm vật thực với sự tìm kiếm không thích hợp như làm nghề thầy thuốc [vejjakamma] vân vân, đây là kẻ được xem là thấp hèn trong hiện tại. Trong đời sau [với việc làm không thích hợp ấy cho quả tái sanh] là quỷ sa-môn như đã trình bày trong Tương Ưng Lakkhaṇa [Lakkhaṇasaṃyutta] như sau: ‘Ngay cả y hai lớp của vị ấy bị cháy đỏ, cháy rực’. Và sự mong muốn trong đoàn thực nên biết rằng là sự nguy hại do nhân như thế.

Kẻ nào ưa thích trong việc xúc chạm, với tất cả mọi tài vật ngay khi chạm vào cũng phạm tội như với vợ của người khác được gìn giữ được bảo vệ. Người chồng người sở hữu những đồ vật bắt được cùng với vật chứng, chặt thành từng mảnh rồi vứt vào đống rác, hoặc mang đến nhà vua. Sau đó nhà vua áp dụng nhiều hình phạt sai khác đối với kẻ ấy. Và những kẻ ấy sau khi thân hoại mạng chung thì khổ cảnh được chờ đợi. Như vậy, sự ưa thích trong xúc là gốc rễ làm nhân dẫn đến mọi hiểm nguy cho đời này và cả đời sau. Với nguyên nhân như vậy, nên biết rằng sự tiếp cận trong xúc thực là sự nguy hại.

Chính sự tích trữ thiện nghiệp và bất thiện nghiệp là gốc rễ làm nhân dẫn đến tất cả mọi nguy hại trong 3 cõi. Với nguyên nhân như vậy, nên biết rằng chính sự tích trữ trong tư niệm thực là sự nguy hại.

Đối với thức tục sinh đi vào trong nơi nào thì danh sắc tục sinh cũng bám lấy sanh ra ở nơi đó, và khi thức tục sinh đó sanh lên thì tất cả mọi điều nguy hại cũng xuất hiện theo, vì có sự tục sinh là gốc rễ, với nguyên nhân như đã được giải thích thì sự dính mắc bám chấp vào sự tái tục nên biết rằng là sự nguy hại trong thức thực [viññāṇāhāra].

Lại nữa, sự nguy hại trong tất cả 4 loại vật thực này, để chế ngự sự tham muốn trong đoàn thực thì bậc Chánh đẳng Chánh giác thuyết giống như thịt đứa bé trai [puttamaṃsūpamaṃ] với cách như sau: ‘Này các Tỷ-kheo ví như cha mẹ ăn thịt con’[8]. Để chế ngự sự tham muốn trong xúc thực, bậc Chánh đẳng Chánh giác thuyết giống như con bò bị lột da với cách như sau: ‘Này các Tỷ-kheo ví như con bò bị lột da’. Để chế ngự sự tham muốn trong tư niệm thực, bậc Chánh đẳng Chánh giác thuyết giống như hố than cháy rực với cách như sau: ‘Này các Tỷ-kheo ví như hố than cháy rực’. Để chế ngự sự ham muốn trong thức thực, bậc Chánh đẳng Chánh giác thuyết giống như bị đâm xuyên với 300 ngọn giáo với cách như sau: ‘Này các Tỷ-kheo ví như tên trộm bị hình phạt…’. Ở đây, trong phần vật thực này ý nghĩa chỉ được nói vắn tắt.

So Sánh Cha Mẹ Ăn Thịt Con

Có hai vợ chồng bế đứa con đi trên con đường hoang vắng , họ phải vượt qua một quãng đường dài 100 do tuần với lương thực ít ỏi. Khi đi được 50 do tuần thì lượng lương thực cạn kiệt. Hai vợ chồng quá mệt vì sự đói khát, nên cùng nhau ngồi nghỉ chân dưới bóng cây. Trong lúc nghỉ mệt người chồng đã nói với vợ rằng: ‘em ơi! khoảng cách 50 do tuần còn lại, không có nhà cửa hay làng mạc, trong lúc này anh không thể làm được gì của một người đàn ông cần phải làm như làm ruộng, chăn bò vân vân, để giúp cho em, vậy em hãy giết anh, ăn một phần để lại sức, phần còn lại làm thức ăn mang theo để vượt qua đoạn đường hoang vắng này.’

Người vợ cũng nói với chồng rằng: Này anh! Bây giờ em không thể làm mà người phụ nữ cần làm như xe chỉ vân vân, nhiều được, vậy anh hãy giết em, ăn một phần, phần còn làm tư lương để vượt qua đoạn đường hoang vắng này cùng với con.’

Người chồng mới nói với vợ mình rằng: ‘Em ơi! Em không thể chết được, nếu em chết hai cha con anh cũng chết theo vì trẻ thơ xa mẹ thì không thể sống nỗi. Nhưng nếu hai ta còn sống, thì ta có thể sanh thêm con nữa, vậy ta hãy giết đứa trẻ này ăn thịt và vượt qua đoạn đường hoang vắng này.’

Bấy giờ, người mẹ nói với đứa con rằng: ‘con ơi! Con hãy đi lại cha đi’. Đứa nhỏ liền tiến gần lại cha. Lúc ấy người cha nói rằng: ‘anh đã phải vất vả khổ sở làm ruộng nuôi bò với hi vọng sẽ nuôi con khôn lớn, cho nên anh không thể giết con được, vậy em hãy giết nó đi’. Rồi bảo đức bé rằng: ‘Con ơi! Hãy đi lại mẹ đi’. Đức bé cũng tiến lại gần mẹ. Người vợ cũng nói rằng: ‘Khi tôi muốn có đứa con này, đã phải chịu nhiều vất vả đau khổ, phải thực hành hạnh con bò, phải thực hành hạnh con chó để cầu khẩn van xin Chư thiên, không cần nói đến việc chăm sóc bào thai. Tôi giết con được’, rồi bà nói với đứa bé rằng: ‘Con ơi! Con hãy đi lại cha đi’. Đức bé khi đi trở lại đến khoảng giữa cha và mẹ thì nó đã chết.

Hai vợ chồng thấy đứa con chết khóc than thảm thiết, nhưng cũng đành ăn thịt đứa con của mình, rồi lên đường. Như vậy theo cách đã nói ngay lúc đầu, đôi vợ chồng ấy khi ăn thịt đứa con của mình không phải để vui đùa, không phải vì ham mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp, chỉ với mục đích duy nhất [chấm dứt sự đói] để vượt qua đoạn đường hoang vắng, bởi vì [thịt đứa bé] là 1 trong 9 loại thịt đáng nhờm gớm.

Vấn: 9 loại thịt đáng nhờm gớm gồm những loại thịt nào? Đáp: 1- Thịt của bản thân mình. 2- Thịt của quyến thuộc. 3- Thịt của con. 4- Thịt của người yêu quý. 5- Thịt của trẻ sơ sinh. 6- Thịt tươi sống. 7- Thịt không phải để ăn. 8- Không được ướp muối . 9- Không được nướng.

Do đó, vị Tỷ-kheo nào quán thấy đoàn thực giống như thịt đứa bé thì vị ấy sẽ chế ngự được sự ham muốn trong đoàn thực. Điều này giải thích ý nghĩa cho sự so sánh với ‘thịt của đứa bé trai’.

So Sánh Con Bò Bị Lột Da

Trong câu ví con bò bị lột da cần phải hiểu ý nghĩa giải thích như sau: Có một con bò bị lột da từ cổ xuống tận móng chân rồi bị quăng bỏ, bị các loài côn trùng sâu bọ cắn đốt ngay chính chỗ nó ở, chịu những cảm giác vô cùng đau đớn như thế nào thì xúc nương vào vật [vatthu] hay đối tượng [ārammaṇa] an trú cũng như thế đó.

Do vậy, khi vị Tỷ-kheo quán thấy xúc thực giống như con bò bị lột da, thì vị ấy sẽ nhận chìm được ham muốn trong xúc thực. Điều này giải thích ý nghĩa cho sự so sánh với ‘con bò bị lột da’.

So Sánh Như Hố Than Cháy Rực

Trong câu ví với ‘hố than cháy rực’ cần phải hiểu ý nghĩa giải thích như sau: Tam giới cũng như hố than cháy rực với ý nghĩa nóng đốt dữ dội; tư niệm thực [manosañcetanā] giống như hai người nắm tay kéo xuống hố than cháy rực ấy với ý nghĩa rằng [tư niệm thực] này kéo vào trong các cõi [dẫn đến tái sanh trong 3 cõi].

Do vậy, khi vị Tỷ-kheo quán thấy tư niệm thực giống như hố than cháy rực thì sẽ chế ngự được ham muốn trong tư niệm thực. Điều này giải thích ý nghĩa cho sự so sánh với ‘hố than cháy rực’.

So Sánh Việc Đâm Thủng Bằng Ngọn Giáo

Trong câu ví với ‘bị đâm xuyên với 300 ngọn giáo’ cần phải hiểu ý nghĩa giải thích như sau: người đàn ông [tội phạm] này bị đâm với một trăm ngọn giáo vào buổi sáng, với một trăm ngọn giáo đâm vào đã để lại trên cơ thể của kẻ ấy 100 vết thương, [không dừng ở đó vào buổi trưa] (kẻ ấy) bị đâm thêm 100 ngọn giáo, chính vì thế khắp thân thể của ké ấy đầy vết thương, có những ngọn giáo bị rớt xuống nơi 100 mũi giáo trước đã đâm thủng; sự đau đớn cùng cực của kẻ ấy lại bộc phát thêm vì miệng vết thương, ngay vết thương cũ đến không thể chịu đựng, còn nói gì đến sự đau đớn khốc liệt với 300 ngọn giáo với 300 vết thương.

Trong các nguyên nhân đó thì sự tái tục cũng giống như lúc bị ngọn giáo đâm vào, sự sanh khởi của ngũ uẩn này tựa như sự hiện khởi của các vết thương. Sự sanh khởi của tất cả khổ có luân hồi làm gốc rễ trong các uẩn được sinh ra, ví như khổ thọ sanh ra từ những vết thương. Ở khía cạnh khác, thức tục sinh như phạm nhân [người có những hành vi sai trái]. Thức duyên danh sắc tợ như các vết thương sanh ra bởi bị các ngọn giáo đâm. Cần được quán thấy đau khổ sanh lên nhiều cách khác nhau với 32 loại cực hình và 98 loại bệnh tật  của thức duyên danh sắc giống như sự đau khổ khốc liệt đối với kẻ ấy vì các vết thương làm duyên. Do vậy, khi vị Tỷ-kheo quán thấy thức thực giống như ‘tên phạm nhân bị đâm xuyên bởi 300 ngọn giáo’ thì sẽ chế ngự được ham muốn trong thức thực [viññāṇāhara]. Điều này giải thích ý nghĩa cho sự so sánh với ‘bị đâm xuyên bởi 300 ngọn giáo’.

Khi vị ấy chế ngự sự ham muốn trong vật thực như vậy gọi là liễu tri được tứ thực. Khi liễu tri được tứ thực, liễu tri tất cả vật [vatthu] cũng được liễu tri tương tự.

Như đức Thế Tôn thuyết rằng:

‘Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo liễu tri đoàn thực, thì vị ấy sẽ liễu tri được tham ái trong ngũ dục. Khi đã liễu tri tham ái trong ngũ dục, thì sẽ không có các kiết sử [saṃyojana], là nhân dẫn dắt cho bậc Thánh thinh văn không còn trở lại thế gian này nữa. Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo liễu tri xúc thực, thì cả 3 thọ cũng được (vị ấy) liễu tri. Khi đã liễu tri được 3 thọ, Như Lai nói rằng bậc Thánh thinh văn không còn việc nào khác cần phải làm thêm nữa. Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo liễu tri được tư niệm thực, thì 3 ái cũng được liễu tri. Khi đã liễu tri 3 ái, Như Lai nói rằng bậc Thánh thinh văn không còn việc nào khác cần phải làm thêm nữa. Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo liễu tri thức thực, thì danh sắc cũng được liễu tri. Khi đã liễu tri danh sắc, Như Lai nói rằng bậc Thánh thinh văn không còn việc nào khác cần phải làm thêm nữa’[9].

Ái Sanh Nên Vật Thực Sanh

‘Do tập khởi tham ái nên vật thực sanh khởi = Taṇhāsamudayā āhārasamudayo’: có nghĩa là tập khởi của tất cả vật thực sanh lên từ tập khởi tham ái cũ [tập khởi – nhân sanh]. Có như thế nào? [Có như thế này] Vì ở sát-na tục sinh sẽ có các dưỡng tố [ojā] sản sinh bên trong 30 sắc, sanh lên với mãnh lực của ba bọn sắc liên tục [santati] là đoàn thực làm sắc nghiệp thủ [upādinnaka] sanh lên do ái [taṇhā] làm duyên. Còn xúc thực, tư niệm thực và thức thực làm sắc nghiệp thủ [upādinnaka] tức là xúc và tư [cetanā] tương ưng với tâm tục sinh và thức chính là tâm tái tục, sanh lên do ái [taṇhā] làm duyên.

Nên biết việc sanh khởi của tứ thực đến từ lúc tục sinh [paṭisandhi] do ái [taṇhā] cũ sanh lên như đã được giải thích trước đó. Trong phần vật thực này, Ngài Sārīputta đã thuyết về sự kết hợp giữa vật thực làm sắc nghiệp thủ [ upādinnaka[10] (có tâm chế ngự)] và vật thực làm sắc phi nghiệp thủ [anupādinnaka[11] (không có tâm chế ngự)]. Do đó, nên biết tập khởi vật thực sanh lên do tập khởi tham ái [taṇhā], ngay cả đối với vật thực làm sắc phi nghiệp thủ [anupādinnaka] cũng tương tự vậy.

Thật vậy, dưỡng tố [ojā] có trong các sắc hiện khởi câu hành với 8 tâm tham, là đoàn thực làm sắc phi nghiệp thủ [anupādinnaka] sanh lên do ái câu sanh làm duyên. Còn xúc và tư [cetanā] tương ưng với tâm câu hành với tham, thức chính là tâm, tập hợp cả 3 pháp này tức là xúc thực, tư niệm thực và thức thực làm sắc phi nghiệp thủ sanh lên do ái làm duyên.

Ái Diệt Nên Vật Thực Diệt

‘Do ái diệt nên vật thực diệt = taṇhānirodhā āhāranirodhoti’: có nghĩa là sự diệt tắt của vật thực hiện khởi do sự diệt tắt của ái làm duyên cho tứ thực về cả sắc nghiệp thủ [upādinnaka] và cả sắc phi nghiệp thủ [anupādinnaka]. Những từ còn lại [từ chỗ giải thích này] theo cách thức đã được thuyết. Trong phần vật thực này trưởng lão Sārīputta đã thuyết tóm tắt về 4 sự thật. Và nhóm hai [dutivāra] thượng phần Ngài đã thuyết tương tự trong phần vật thực, do vậy học giả đừng quên lấy ‘sacca = đế hay sự thật’ phối hợp với nhóm hai và nội dung tóm tắt được Ngài thuyết như sau ‘chỉ bấy nhiêu, này hiền giả’ cần kết hợp với pháp đã được trình bày trong phần đó. Nội dung được giải thích trong phần trước. ‘Chỉ bấy nhiêu đó = ettāvatāpīti’ nghĩa là với năng lực thấu triệt bằng tác ý [manasikāra] đã thuyết trong phần vật thực này thì trong nhóm hai cũng thuyết theo cách tương tự vậy.

Giải Thích Phần Vật Thực Kết Thúc

Giải Thích Phần Đế – Sacca

[91] Bấy giờ ‘lành thay hiền giả’, các Tỷ-kheo sau khi hoan hỷ đã tín thọ lời dạy của trưởng lão theo cách đã nói ở trước đó rằng: ‘có thể có này hiền giả’, rồi lại hỏi vấn đề cao hơn nữa. Và trưởng lão đã giải đáp vấn đề bằng phương pháp khác cùng các Tỷ-kheo. Trong nhóm hai [dukavāra] ngoài phần này cũng theo cách này.

Do đó, kể từ đây tôi giải thích ý nghĩa nội dung cốt yếu lời giải đáp của trưởng lão, không bận tâm đến các từ loại này, nhưng trong việc trình bày với cách vắn tắt này nên biết rằng ‘khổ – dukkhua’ trong cụm từ ‘liễu tri khổ – dukkhañca pajānāti’ muốn ám chỉ đến khổ đế [dukkhasacca]. Còn việc trình bày rộng rãi chi tiết các đế [sacca – sự thật] cần phải được thuyết, thì đã được giảng giải trong phần Đế Diễn Giải [saccaniddesa] trong bộ Thanh Tịnh Đạo [visuddhimagga].

Giải Thích Phần Đế [Sacca] Kết Thúc

Giải Thích Phần Già và Chết – Jarāmaraṇa

[92] Kể từ đây thuyết theo Lý Duyên Khởi [Paṭiccasamuppāda]. Ở đây, trong tất cả các phần, trước hết nên biết cách lý giải phần già và chết như sau: ‘tesaṃ tesaṃ‘ là từ dùng để diễn đạt chung chung cho nhiều loại chúng sanh theo cách vắn tắt. Bởi vì khi nói xuyên suốt cả ngày rằng: sự già của Chư thiên nào? Sự già của Somadatta nào? vân vân’ như vậy sẽ không bao trùm hết tất cả chúng sanh. Nhưng chỉ với 2 từ này [tesaṃ tesaṃ] thì không một chúng sanh nào, không bị nhắc đến [bao trùm hết tất cả chúng sanh]. Do đó, tôi mới nói rằng ‘từ này diễn đạt chung cho nhiều loại chúng sanh theo cách vắn tắt.’

Cả 2 từ ‘tamhi tamhi’ này là cách diễn đạt chung cho nhiều nhóm chúng sanh với mãnh lực của sự sanh khởi trong các sanh thú [gati]. ‘Trong nhóm chúng sanh = sattanikāye’ là cách thuyết tóm tắt đến chúng sanh đã được giải thích với sự diễn đạt chung. Sự già, sự hư hoại, vân vân, từ ‘già = jarā’ diễn đạt theo thực tính pháp [sabhāvadhamma]. Từ ‘sự hư hoại = jīraṇatā’ diễn đạt tính chất trạng thái. Từ ‘răng rụng = khaṇḍicca’ vân vân, diễn đạt phận sự của già trong thời gian trôi qua. 2 từ sau chỉ phận sự thông thường. Vì già được trưởng lão Sārīputta thuyết theo thực tính [sabhāva] với từ ‘jarā – già’, do đó từ này diễn đạt thực tính của già. Từ ‘sự hư hoại = jīraṇatā’ này trưởng lão trình bày theo tính chất, do đó từ này là từ diễn đạt tính chất của sự già. Từ ‘răng rụng = khaṇḍicca’ này trưởng lão nói về phận sự là làm cho tính chất của răng và móng bị rụng bị gãy thành từng miếng mãnh, do thời gian cứ trôi qua. Từ ‘tóc bạc = pāliccaṃ’ này trưởng lão nói về phận sự là làm cho tính chất của tóc và lông bị biến sắc. Từ ‘da nhăn = valittacatā’ này trưởng lão nói về phận sự là khiến cho tính chất của da bị nhăn nheo, chảy xệ. Do đó, cả 3 từ này có răng rụng vân vân, là những từ ngữ diễn tả sự già nua, do thời gian trôi qua, với 3 từ này trưởng lão đã thuyết về phận sự của sự già nua hiện bày là những chi phần hiển lộ cho thấy sự thay đổi đó.

Giống như đường đi của nước hiện bày [cho thấy] những cành cây và ngọn cỏ, vân vân, rớt xuống dòng chảy bị cuốn đi hoặc đường đi của lửa hiện bày [cho thấy] là cành cây và ngọn cỏ, vân vân, cháy rụi. Đường đi [của nước, vân vân], khác ngoài nước vân vân [đất, gió, sóng…]  như thế nào thì đường đi của già cũng như thế đó, hiện bày [cho thấy] răng rụng, vân vân… với sức mạnh của tất cả sự biến hoại, đổi thay như răng rụng, vân vân, chỉ mở mắt là nhận thấy được. Nếu không có sự rụng răng vân vân, thì cũng không có sự già vì sự già [theo thực tính pháp] này không thể thấy bằng mắt mà phải thấy bằng trí tuệ.

Nhưng với câu này ‘Sự suy giảm của tuổi thọ, sự bại hoại của các căn = āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripāko’ trưởng lão đã thuyết về sự già nua theo lẽ tự nhiên bởi vì sự cạn kiệt của tuổi thọ làm dấu hiệu nhận biết được từ sự hư hoại [suy tàn] của các căn như mắt [mờ] do năm tháng qua đi, do Ngài là một bậc tinh thông [có trí tuệ cao tột]. Do đó, với 2 tính chất sau nên biết rằng đây là lời thuyết giảng đến tính chất của sự già nua theo lẽ tự nhiên.

Ở đây, tuổi thọ suy giảm của người nào đi đến sự già nua, ở đó sự già nua được nói quả liền kề rằng: ‘Sự suy giảm của tuổi thọ’. Nhưng trong thời niên thiếu các quyền như mắt vẫn còn sáng, có thể tiếp nhận được các đối tượng sắc của chính mình, ngay cả các đối tượng sắc nhỏ, vi tế dễ dàng. Nhưng khi đến tuổi già [các căn] hư hoại, trì trệ, không sáng suốt, các đối tượng của mình dù có lớn thô cũng không đủ khả năng tiếp thâu. Do đó, trưởng lão đã nói đến quả liền kề rằng: ‘sự bại hoại của các căn’. Lại nữa tất cả sự già đã được trình bày có 2 loại: 1- già hiện bày [pākaṭajarā], 2- già che giấu [paṭicchannejarā].

Ở đây sự già nua trong các sắc pháp [rūpadhamma] gọi là già hiện bày [pākaṭajarā] vì hiển thị sự bất thường như gãy vỡ vân vân, trong các chi phần của cơ thể như răng rụng vân vân. Còn cái già trong pháp vô sắc [arūpadhamma] gọi là già che giấu vì không hiển thị cho thấy sự bất thường.

Có 2 loại già nữa như thế này: 1- già không có dấu vết cho thấy [avīcijarā]. 2- già có dấu vết cho thấy [savīcijarā]. Trong 2 sự già đó thì sự già của ngọc māṇī, vàng, bạc, ngọc san hồ, mặt trăng, mặt trời, vân vân, nên biết rằng đây gọi là già không có dấu vết [avīcijarā] [cái già này không có giai đoạn để thấy] vì thật khó để nhận biết được sự khác biệt của màu sắc qua từng giai đoạn, tựa như sự khác biệt màu sắc của các hữu tình trong độ tuổi vị thành niên, vân vân. Và giống như sự khác biệt màu sắc trong từng giai đoạn của các vật vô tri như cây cối, hoa quả. Nhưng cái già ngoài ra theo cách đã nói thì gọi là già có dấu vết cho thấy [savīcijarā] vì dễ dàng nhận biết được sự khác biệt trong từng giai đoạn nhận.

Từ đây ‘tesaṃ tesaṃ’ vân vân, cần phải hiểu theo cách đã được nói đến. Cuti [sự chuyển đổi] trong câu như sau: ‘cuti cavanatā’ Ngài nói đến khả năng chuyển đổi của chúng sanh.  Cuti này là từ nói chung cho tất cả chúng sanh nhất uẩn, tứ uẩn và ngũ uẩn. Cuvanatā [sự chuyển đổi chỗ] là lời nói trình bày tướng trạng [của uẩn] do sự chuyển đổi kiếp [từ kiếp này sang kiếp khác]. Bhedo [sự tan rã] là lời nói trình bày sự diệt và sự sanh khởi của các uẩn ở cuti. Antaradhānaṃ [sự biến mất] là lời nói trình bày tính chất [bhāva] của việc chuyển đổi vị trí bằng bất kỳ phương pháp nào của các uẩn [diệt] tan rã giống như cái nồi bể vậy, sự chết là maccumaraṇa [mệnh chung]. Maccumaraṇa này Ngài phủ nhận lại sự đoạn tuyệt tử [samucchedamaraṇa[12]] vân vân. Maccurāja nghĩa là khiến cho chấm dứt [thời điểm kết thúc] gọi là kāla, tạo ra kāla đó gọi là kālakiriya [sự quá vãng, hết nghiệp]. Kālakiriyā nầy trưởng lão trình bày đến sự chết theo chế định của thế gian.

Để trình bày sự chết theo pháp chân đế trưởng lão nói rằng ‘Khandhānaṃ bhedo = sự diệt của các uẩn’. Sự thật theo pháp chân đế chỉ có các uẩn diệt, không phải chúng sanh chết, khi các uẩn đang diệt thì chúng cũng được xem là đang chết, khi đã diệt thì chế định gọi là đã chết;

Trong phần già chết [jarāmaraṇa] sự diệt của các uẩn có trong tứ uẩn hữu[catuvokārabhava[13], 4 danh uẩn], việc từ bỏ sắc thân có được trong cõi nhất uẩn [sắc uẩn]. Hoặc sự diệt của các uẩn nên biết theo cõi tứ uẩn, việc bỏ thân xác nên biết với năng lực của cả 2 cõi là nhất uẩn hữu [ekavokārabhava[14]]và ngũ uẩn hữu [pañcavokārabhava[15]].

Vì sao? bởi vì xác thân được nói là sắc thân sanh lên chỉ có trong 2 cõi. Lại nữa, các uẩn trong cõi Chư thiên và Phạm thiên như cõi Tứ đại thiên vương vân vân, chỉ có diệt [khi hết tuổi thọ] và không bỏ lại thứ gì cả. Do đó, sự diệt của các uẩn nên hiểu với năng lực của các uẩn trong cõi Chư thiên và Phạm thiên như cõi Tứ đại thiên vương vân vân [sắc pháp của hàng Chư thiên và Phạm thiên là loại sắc tế không phải sắc thô]. Việc bỏ lại sắc thân này chỉ có đối với các loài hữu tình như loài người vân vân. Sự chết trưởng lão gọi là từ bỏ xác thân do để lại sắc thân. Nên hiểu ý nghĩa giải thích như đã được giảng giải. ‘Chư hiền, như vậy gọi là già và chết = iti ayañca jarā idañca maraṇaṃ. idaṃ vuccatāvuso’ nghĩa là sự già và chết cả hai từ này được trưởng lão nói chung, già và chết đi cùng nhau.

Giải Thích Già và Chết Kết Thúc

Giải Thích Phần Sanh – Jātivāra

[93] Nên lý giải phần sanh như sau: jāti sañjāti vân vân, gọi là jāti [sự sanh] do ý nghĩa rằng [bắt đầu] sanh, sự sanh đó sử dụng cho chúng sanh có các xứ [āyatana] vẫn chưa đầy đủ. Gọi là sañjāti [sự sanh] do ý nghĩa rằng sanh đầy đủ, sự sanh này sử dụng đối với chúng sanh đã đầy đủ các xứ [āyatana]. Gọi là Okkanti [sự bước vào, đi vào] do ý nghĩa rằng nói để đi vào [nhập vào bào thai], liên hệ với mãnh lực loài noãn sanh [aṇḍaja] và thai sanh [jalābuja], tức là chúng sanh ấy tục sinh [paṭisandhi] giống như bước vào vỏ trứng và tử cung.

Gọi là Abhinibbatti do ý nghĩa rằng hóa sanh, liên hệ với mãnh lực của loài thấp sanh [saṃsedaja] và hóa sanh [opapātika], tức là chúng sanh ấy sanh ra hiện hữu ngay lập tức. Đây chỉ là cách thuyết theo chế định. Còn thuyết theo chân đế nghĩa là các uẩn hiện hữu chứ không phải chúng sanh hiện bày. ‘Của tất cả uẩn – khandhānaṃ’ nên biết rằng ám chỉ đến nhất uẩn trong nhất uẩn hữu [ekavokārabhava], tứ uẩn trong tứ uẩn hữu [catuvokārabhava] và ngũ uẩn trong ngũ uẩn hữu [pañcavokārabhava]. Sanh gọi là pātubhāvo [sự xuất hiện, sự hiện khởi]. Ở đây, nên biết rằng việc kết hợp với mãnh lực các xứ đã sanh khởi trong các cõi đó gọi là của các xứ [āyatanānaṃ]. Chính sự hiện khởi trong giai đoạn kế tục gọi là tụ đắc các xứ, tức là sự xuất hiện đó gọi là chúng sanh đã thành tựu các xứ. Với câu này ‘Này hiền giả, đây gọi là sanh = ayaṃ vuccatāvuso jāti’ trưởng lão đã thuyết tóm tắt cả pháp chế định [vohāra] và cả pháp chân đế [paramattha]. Do hữu tập khởi [bhavasamudaya] này cần biết rằng nghiệp hữu [kammabhava] làm duyên khiến cho sanh sanh khởi. Từ còn lại như cách đã trình bày.

Giảng Giải Phần Sanh Kết Thúc

Giải Thích Phần Hữu – Bhavavāra

[94] Nên biết lý giải phần hữu như sau: nghiệp hữu [kammabhava] và sanh hữu [upapattibhava] gọi là dục hữu [kāmabhava], chính nghiệp làm nhân đi đến dục hữu gọi là nghiệp hữu. Chính nghiệp Ngài gọi là hữu do thuyết đến quả [dẫn đi tái sanh] giống như: ‘sự ra đời của Chư Phật là nhân đem đến sự an lạc’[16], ‘việc tích trữ điều ác là nhân dẫn đến đau khổ’[17]. Như vậy, do nghiệp hữu là nhân khiến sanh hữu sanh khởi. Ngũ uẩn do ái và kiến chấp trước sanh khởi với nghiệp ấy gọi là sanh hữu. Ở đây, ngũ uẩn ấy Ngài gọi là hữu vì được xem là chỗ sanh [tâm tái tục paṭisandhicitta].

Do vậy cả hai hữu này là nghiệp hữu [kammabhava] và sanh hữu [upapattibhava] này Ngài gọi chung là dục hữu [kāmabhava] ở mọi phương diện. Trong cõi sắc [rūpabhava] cõi vô sắc [arūpabhava] cũng tương tự. Còn thủ [upādāna] trong cụm từ ‘do thủ tập khởi = upādānasamudaya’ làm duyên cho nghiệp hữu thiện bằng chính mãnh lực cận y duyên [upanissayapaccaya]. Thủ làm duyên cho nghiệp hữu bất thiện bằng mãnh lực cận y duyên [upanissayapaccaya] và bằng mãnh lực câu sanh duyên [sahajātāpaccaya]. Nhưng khi làm duyên cho sanh hữu, cho nghiệp hữu cả thiện và bất thiện bằng mãnh lực câu sanh duyên [sahajātāpaccaya]. Nhưng làm duyên cho sanh hữu [upapattibhava] và tất cả bất thiện với mãnh lực cận y duyên [upanissayapaccaya]. Từ còn lại như cách đã trình bày.

Giảng Giải Phần Hữu Kết Thúc

Giải Thích Phần Thủ – Upādānavāra

[95] Nên biết lý giải phần thủ như sau: [Liễu tri] thủ [dục thủ – kāmupādānaṃ]. Phiền não sanh [kilesajāti] gọi là dục thủ do ngụ ý rằng làm nhân chấp thủ vật dục [vatthukāma] hoặc chính sự chấp thủ vật dục. Sự bám chấp vào dục gọi là dục thủ [kāmupadāna]. Sự chấp thủ này Ngài gọi là upādāna [thủ, dính mắc], vì từ ‘upa’ trong từ upādāna này có nghĩa là ‘chắc chắn, vững vàng’ giống với từ ‘upa’ trong 2 từ ‘upāyāsa upakaṭṭha’, ‘Dục thủ = kāmupādāna’ là tên gọi của sự khát ái [rāga] trong ngũ dục [pañcakāmaguṇa]. Đây chỉ là nói vắn tắt của dục thủ. Còn nói chi tiết về dục thủ cần phải nói theo cách sau: ‘Ở đây, dục thủ ấy ra sao? sự mong muốn do sức mạnh tham ái trong các dục’[18].

Kiến thủ cũng như vậy tức là sự chấp theo những tri kiến [sai lầm, lệch lạc], nên gọi là diṭṭhupādāna [kiến thủ]. Lại nữa, phiền não sanh [kilesajāti] gọi là kiến thủ do chấp thủ tri kiến. Hoặc gọi là kiến thủ [diṭṭhupādāna] do ngụ ý rằng làm nhân chấp thủ vào tri kiến. Tức là phiền não sanh nào chấp thủ trong tri kiến ban đầu như sau: ‘ngã và thế gian là trường tồn, do đo phiền não sanh đó mới gọi với tên như vậy [kiến thủ – diṭṭhupādāna], như đã thuyết ngã [atta] và thế gian [loka] là trường tồn, chỉ điều này là thật, ngoài ra là không có’[19]. Kiến thủ là tên gọi của tất cả tri kiến ngoại trừ giới cấm thủ [sīlabbatupādāna] và ngã luận thủ [attavādupādāna]. Đây chỉ là nói vắn tắt của kiến thủ. Còn nói chi tiết về kiến thủ cần phải nói theo cách sau: ‘Ở đây, kiến thủ ấy ra sao? Sự bố thí [cúng dường] không có kết quả’[20].

Các thủ đó gọi là giới cấm thủ [sīlabbatupādāna] làm duyên bám chấp vào những giới những hạnh [sai lệch], do những giới và hạnh đó bám chấp chính nó, do giới và hạnh đó làm sự bám chấp. Tức là sự bám chấp vào chính mình với lòng tin tuyệt đối rằng: các giới và hạnh này như giới và hạnh của con bò vân vân là [đưa đến] thanh tịnh với xu hướng như vậy, cho nên được gọi như thế [giới cấm thủ – sīlabbatupādāna]. Đây chỉ là nói vắn tắt của kiến thủ. Còn nói chi tiết về kiến thủ cần phải nói theo cách sau: ‘Ở đây, kiến thủ ấy ra sao? [sự thấy rằng] sự thanh tịnh có được do nhờ sa-môn hạnh [samaṇabrāhmaṇāna] ngoài tôn giáo [Phật giáo] này’.

Gọi là vada [lời nói] làm duyên để thuyết ở đây. Gọi là upādāna [chấp thủ] do làm duyên chấp thủ. Vấn: thuyết hoặc chấp thủ gì? Đáp: thuyết và chấp thủ [bản ngã – attāna]. Việc chấp thủ vào lời nói của chính mình gọi là ngã luận thủ [attavādupādāna]. Gọi là ngã luận thủ do làm nhân chấp chặt vào cái ngã [atta] hoặc chỉ ngã luận [attavāda] là ta [atta]. Ngã luận thủ này là tên gọi của thân kiến [sakkāyadiṭṭhi] có 20 loại thân kiến. Đây chỉ là nói vắn tắt của ngã luận thủ. Còn nói chi tiết về kiến thủ cần phải nói theo cách sau: ‘Ở đây, ngã luận thủ ấy ra sao? Ở đây, hạng phàm phu không được nghe, không được thấy các bậc thánh’[21] vân vân.

Do ái sanh [taṇhāsamudaya – ái tập khởi] này ái làm duyên cho dục thủ bằng mãnh lực của cận y duyên [upanissayapaccaya] hoặc bằng mãnh lực của vô gián duyên [anantarapaccaya], đẳng vô gián duyên [samanantarapaccaya], vô hữu duyên [natthipaccaya], ly khứ duyên [vigatapaccaya]  và trùng dụng duyên [āsevanapaccaya]. Nhưng làm duyên cho các thủ còn lại với mãnh lực câu sanh duyên [sahajātapaccaya]. Các từ còn lại như cách đã trình bày.

Giảng Giải Phần Thủ Kết Thúc

Giải Thích Phần Ái – Taṇhāvāra

[96] Nên biết lý giải phần ái như sau: ái diễn hoạt trong lộ trình tâm đổng lực [javanavīthi] có tên gọi thuận theo các đối tượng như người cha [người cho sanh] như sau: sắc ái [rūpataṇhā] …-nt-… pháp ái [dhammataṇhā], giống như [người] có tên theo cha như sau ‘seṭṭhiputto [con trai triệu phú] brāhmaṇaputto [con trai bà-la-môn], vân vân’.

Ái có sắc làm đối tượng là sắc trong ái gọi là sắc ái [rūpataṇhā]. Sắc ái đó khi thoả thích trong sắc diễn hoạt theo tính chất dục ái [kāmarāgabhāva] gọi là dục ái [kāmataṇhā]. Khi thoả thích trong sắc diễn hoạt như vầy ‘sắc là thường, thường hằng, trường tồn’ với tính chất của ái câu hành với thường kiến [sassatadiṭṭhi] gọi là hữu ái [bhavataṇhā]. Khi thoả thích trong sắc diễn hoạt như vầy ‘sắc [sẽ] đoạn tận, [sẽ] diệt tận, sẽ không có gì nữa sau khi chết’ với tính chất của ái câu hành với đoạn kiến [ucchedadiṭṭhi] gọi là vô hữu ái [vibhavataṇhā], như vậy ái có 3 ái.

Và thanh ái [saddataṇhā] vân vân, cũng tương tự như sắc ái [rūpataṇhā] nên được chia thành 18 loại ái [3 loại ái x 6 đối tượng]. Ái đó với các xứ nội gồm sắc nội v.v. có 18 loại, và các xứ ngoại gồm sắc ngoại v.v. có 18 loại, tất cả [nội xứ và ngoại xứ] có 36 loại. [Chia theo 3 thời] thời quá khứ có 36, thời hiện tại có 36 và thời vị lại có 36. Như vậy có tất cả 108 loại ái.

Lại nữa, 18 loại ái này nương sắc nội v.v. như sau: ‘ta hiện hữu, ta hiện hữu ở đây là do nương sắc nội’[22] và thêm 18 loại ái nương sắc ngoại v.v. như sau: ‘với những cái này ta hiện hữu, với những cái này ta hiện hữu ở đây là do nương sắc ngoại’. Nên gộp thành 36 loại ái, phân thành 36 loại ái thời quá khứ, 36 loại ái thời hiện tại, 36 loại ái thời vị lai, do vậy có tất cả 108 loại ái như đã được giải thích.

Khi thực gom lại thì chỉ có 6 nhóm ái với các đối tượng [ārammaṇa] gồm đối tượng sắc v.v. Có 3 loại gồm dục ái [kāmataṇhā] v.v.

Như vậy, bậc trí cần biết ái với việc giải thích ý nghĩa, giảng giải rộng rãi chi tiết, và gom thâu lại từ chi tiết thành ngắn gọn.

Lại nữa, do thọ tập khởi [do thọ sanh] này trưởng lão muốn đề cập đến thọ thuộc quả [vipāka]. Nếu hỏi rằng: thọ ấy làm duyên cho ái [taṇhā] theo sáu môn [dvāra] như thế nào? Đáp: Vì tất cả chúng sanh với sự thoả thích trong lạc thọ, đã tạo ra ham muốn [taṇhā] trong thọ, với sự chìm đắm dính mắc [rāgarattā] vào thọ, chỉ muốn nhìn thấy sắc tốt bằng lộ nhãn môn, và thoả thích khi đạt được, đã bày tỏ sự kính trọng đối với hoạ sĩ v.v. và cả người cho đối tượng. Trong cách đó, nhĩ môn [sotadrāva] v.v. cũng tương tự, [tất cả chúng sanh] mong muốn nghe âm thanh v.v. thật sự đáng mong muốn [tốt], và thoả thích khi đạt được, đã bày tỏ sự kính trọng đối với nghệ sĩ đàn hạc, người sản xuất nước hoa, thợ dệt và nhiều tầng lớp nghệ sĩ khác v.v. và cả người cho đối tượng.

Giống như thế nào? Giống như mẹ chăm sóc con, bày tỏ lòng kính trọng với dưỡng mẫu là cho bú và cho ăn bơ lỏng và sữa ngon vân vân do tình thương yêu con. Các từ còn lại như đã được thuyết.

Giảng Giải Phần Ái Kết Thúc

Giải Thích Phần Thọ – Vedanāvāra

[97] Nên biết lý giải phần thọ như sau: phần thọ gọi là thọ thân [vedanākāya]. ‘Thọ do nhãn xúc sanh … nt … thọ do ý xúc sanh = cakkhusamphassajā vedanā … pe … manosamphassajā vedanā’ là tên gọi của thọ cả thiện [kusala], bất thiện [akusala] và vô ký [abyākata] diễn hoạt qua lộ nhãn môn [cakkhudvāra] theo vật [vatthu] giống như mẹ, như tên gọi được đặt theo mẹ, chẳng hạn như Sārīputta [con của bà Sārī] Mantānīputta [con của bà Mantānī] theo bộ phân tích [vibhaṅga]: ‘Thọ sanh từ nhãn xúc thiện cũng có, bất thiện cũng có, vô ký cũng có’[23]. Như trong câu ‘thọ do nhãn xúc sanh = cakkhusamphassajā vedanā’ có lời giải tự rằng thọ sanh khởi do nhãn xúc làm nhân gọi là cakkhusamphassajāvedanā [nhãn xúc sanh thọ]. tất cả các môn [dvāra] có nhĩ v.v. theo cách tương tự. Đây là kệ ngôn nhiếp thâu tất cả trong phần thọ này.

Nên biết rằng thọ với mãnh lực tương ưng các pháp là nhãn môn với năng lực của quả [vipāka] có 2 tâm nhãn thức [cakkhuviññāṇa], 2 ý giới [manodhātu] và 3 ý thức giới [manoviññāṇadhātu]. Nhĩ môn cũng tương tự. Còn ý môn [manodvāra] nên hiểu rằng là thọ tương ưng với ý thức giới [manoviññāṇadhātu].

Lại nữa, do xúc sanh [phassasamudaya – xúc tập khởi] cần phải lý giải rằng trong cả 5 môn, thọ nương cả 5 vật [vatthu] sanh khởi do nhãn xúc đồng sanh v.v. sanh khởi được. Nhãn xúc v.v. làm duyên cho các thọ còn lại bằng mãnh lực cận y duyên [upanissayapaccaya] v.v. Nên biết rằng thọ có nhãn xúc v.v. làm đối tượng, hay thọ trong sát-na tục sanh, sát-na hộ kiếp và sát-na tử diễn hoạt trong tất cả 6 môn đều sanh khởi được, do tập khởi của ý xúc đồng sanh. Các từ còn lại như cách đã được thuyết.

Giảng Giải Phần Thọ Kết Thúc

Giải Thích Phần Xúc – phassavāra

[98] Nên biết lý giải phần xúc như sau: Xúc chạm do nhãn gọi là nhãn xúc [cakkhusamphassa]. Tất cả các môn cũng tương tự. Chỉ bấy nhiêu ‘nhãn xúc  -nt- thân xúc = cakkhusamphasso … pe … kāyasamphasso’ trưởng lão đã nói đến cả 10 xúc có 5 vật [vatthu] cả quả thiện [kusalavipāka] và quả bất thiện [akusalavipāka]. Ý xúc thì trưởng lão nói đến xúc tương ưng với 22 quả hiệp thế [lokīyavipāka] còn lại.

Nên biết rằng do 6 xứ có nhãn xứ v.v. sanh khởi nên tất cả 6 xúc cũng sanh khởi chính là tập khởi của 6 xứ [saḷāyatanasamudaya].

Giảng Giải Phần Xúc Kết Thúc

Giải Thích Phần 6 Xứ – saḷāyatanavāra

[99] Nên biết lý giải phần 6 xứ như sau: đáng nói đến trong từ này nhãn xứ [cakkhāyatana] v.v. theo cách đã được thuyết trong phần xiển minh uẩn [khandhaniddesa] và xiển minh xứ [āyatananiddesa] trong bộ Thanh Tịnh Đạo. Do danh sắc tập khởi [nāmarūpasamudaya – do danh sắc sanh] này học giả cần biết sự sanh khởi của 6 xứ do danh sắc tập khởi [nāmarūpasamudaya] theo cách đã được thuyết trong phần Xiển minh Giáo Lý Duyên Khởi [Paṭiccasamuppāda] trong bộ Thanh Tịnh Đạo bằng mãnh lực của xứ chỉ có danh [nāma] và chỉ có sắc [rūpa] và cả danh-sắc làm duyên. Các từ còn lại như cách đã được thuyết.

Giảng Giải Phần 6 Xứ Kết Thúc

Giải Thích Phần Danh Sắc – Nāmarūpavāra

[100] Nên biết lý giải phần danh sắc như sau: danh [nāma] có hướng đi là trạng thái. Sắc có sự tan rã, hư hoại là trạng thái. Nên biết rằng thọ [vedanā] là thọ uẩn; tưởng [saññā] là tưởng uẩn; tư [cetanā], xúc [phassa], tác ý [manasikāra] là hành uẩn. Dù các pháp khác kết hợp với hành uẩn, nhưng 3 pháp này có năng lực yếu kém trong mỗi tâm; cho nên trong phần danh sắc trưởng lão trình bày hành uẩn với mãnh lực của 3 pháp này. Cattārī [bốn] trong từ mahābhūtarūpa chỉ là từ nói về số lượng. Mahābhūtarūpa [Đại hiển] là tên gọi của đất, nước, lửa, gió. Nguyên nhân gọi 4 sắc này là mahābhūta [Đại hiển] và cách lý giải về tất cả danh sắc này, đã được trình bày trong phần xiển minh sắc uẩn trong bộ Thanh Tịnh Đạo [Visuddhimagga].

Còn từ Catunnaṃ trong cụm từ ‘catunnañca mahābhūtānaṃ upādāyā’ làm sở thuộc cách [chaṭṭhīvibhatti] sử dụng ý nghĩa theo đối cách [dutiyāvibhatti], có nghĩa là ‘nương cả 4 đại’. Upādāya nghĩa là bám lấy, níu lấy, bắt lấy. Một số vị Giáo thọ sư tụng đọc là nissāya [nương nhờ, nương tựa]. Vattamānaṃ này là từ nói thêm, lại nữa từ này là sở thuộc cách [chaṭṭhīvibhatti] được dùng trong ý nghĩa tập hợp, do đó cần phải hiểu rằng các ‘sắc nương sự tập hợp của tất cả bốn sắc đại hiển diễn tiến’.

Như vậy ở mọi nơi 4 sắc đại hiển như đất v.v. và 23 loại sắc nương vào sắc đại hiển diễn tiến được thuyết trong Pāḷi Thắng Pháp [Abhidhamma] được phân ra thành nhãn xứ [cakkhāyatana] v.v. tất cả cái đó cần biết rằng đều gọi là sắc.

Viññāṇasamudayā [do thức tập khởi] này nghĩa là thức chỉ làm duyên cho danh, chỉ làm duyên cho sắc, làm duyên cho cả danh sắc. Do vậy, với mãnh lực của danh, của sắc và cả danh sắc có thức làm duyên thì học giả nên biết rằng sự sanh lên của danh sắc do thức tập khởi đã được trình bày rồi trong phần xiển minh Giáo Lý Duyên Khởi trong bộ Thanh Tịnh Đạo. Các từ còn lại như cách đã được thuyết.

Giảng Giải Phần Danh Sắc Kết Thúc

Giải Thích Phần Thức – Viññāṇavāra

[101] Nên biết lý giải phần thức như sau: Thức duyên theo mắt gọi là nhãn thức [Cakkhuviññāṇa]. Lại nữa, thức sanh lên từ mắt nên gọi là nhãn thức. Nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân thức cũng tương tự. Thức ngoài ra [ngoài 5 thức đã nói trên gồm nhãn v.v.] chính là tâm, gọi là ý thức. Ý thức này là tên gọi của các tâm quả [cittavipāka] diễn tiến trong ba cõi trừ ngũ song thức.

Saṅkhārasamudayā [do hành tập khởi] này học giả nên biết rằng việc sanh lên của thức do hành tập khởi, cũng đã được trình bày trong bộ Visuddhimagga với hành làm duyên cho thức.

Giảng Giải Phần Thức Kết Thúc

Giải Thích Phần Hành – Saṅkhāravāra

[102] Nên biết lý giải phần hành như sau: Hành có sự tạo tác là trạng thái. Trong phần giảng giải của hành thì hành diễn hoạt qua lộ thân gọi là thân hành [kāyasaṅkhāra]. Thân hành [kāyasaṅkhāra] này là tên gọi của 20 loại tư [sañcetanā] gồm 8 tâm thiện dục giới và 12 tâm bất thiện diễn tiến theo sự chuyển động của thân qua thân môn.

Khẩu hành [vacīsaṅkhāra] là tên của 20 loại tư [sañcetanā], giống như thân hành diễn tiến được thể hiện bằng lời qua khẩu môn. Hành diễn hoạt qua lộ tâm gọi là tâm hành [cittasaṅkhāra] này là tên gọi của 29 loại tư [sañcetanā] gồm [17] thiện hiệp thế[24] và [12] bất thiện hiệp thế sanh khởi đối với hạng người ngồi suy tư nơi kín đáo, không chuyển động qua thân môn và ý môn. Do vô minh sanh [Avijjāsamudayā – vô minh tập khởi] này nên biết rằng vô minh làm duyên cho phúc hành bằng cận y duyên [upanissayapaccaya]; duyên cho phi phúc hành bằng câu sanh duyên [sahajātapaccaya]. Các từ còn lại như cách đã được thuyết.

Giảng Giải Phần Hành Kết Thúc

Giải Thích Phần Vô Minh – Avijjāvāra

[103] Nên biết lý giải phần vô minh như sau: Sự không biết về khổ đế [dukkhasacca] gọi là bất tri khổ. Sự bất tri khổ là tên gọi của si [moha]. Sự bất tri về nhân sanh khổ [samudaye aññāṇa] v.v. cũng tương tự. Trong tất cả 4 đế [sacca] đó sự không biết về khổ nên biết với 4 nguyên nhân sau:  1- Sự chứa đựng trong [antogadhato], 2- Sở y [vatthuto, nơi trú], 3- đối tượng [ārammaṇato] và 4- Che đậy [paṭicchādanato]. Thật vậy, việc bất tri khổ gọi là sự chứa đựng trong khổ do hệ thuộc trong khổ đế [dukkhasacca], gọi là sở y do làm y chỉ duyên [nissayapaccaya] của việc bất tri khổ, gọi là đối tượng do làm cảnh duyên [ārammaṇapaccaya] của bất tri khổ, và khổ đế che đậy bất tri khổ ấy.

Sự bất tri trong khổ tập [samudaya] nên biết với 3 nguyên nhân: 1- Sở y [vatthuto, nơi trú], 2- đối tượng [ārammaṇato] và 3- Che đậy [paṭicchādanato]. Sự bất tri trong khổ diệt [nirodha] và sự bất tri đạo [paṭipadā] nên biết với sự ngăn chặn sự thấu triệt tướng trạng [tam tướng] theo thực tính của diệt đế [nirodhasacca] và đạo đế [maggasacca] đó và không cho tuệ diễn tiến liên tục trong 2 đế ấy. Nhưng sự bất tri 2 đế [diệt và đạo] không chứa đựng trong 2 đế này do không hệ thuộc vào 2 đế ấy. và 2 đế này không làm sở y của sự bất tri 2 đế do không là pháp câu sanh [sahajāta], mà cũng không làm đối tượng do không diễn tiến trong 2 đế đó.

Hai đế sau thật khó để nhận thấy vì sự sâu sắc của chúng và trong đế này sự bất tri [vô minh] là sự tăm tối, không xuất hiện ở đó. Nhưng 2 đế trước sâu sắc theo nghĩa đối lập do khó nhận thấy được tướng trạng thực tính [sabhāvalakkhaṇa] của chúng, ở đây diễn tiến với sức mạnh pháp điên đảo [vipallāsa].

Lại nữa, chỉ với từ ‘trong khổ = dukkhe’ trưởng lão không những nói đến vô minh, mà còn bao gồm cả sở y [nơi trú], đối tượng và phận sự. Chỉ với từ ‘nhân sanh khổ = dukkhasamudaye’ Ngài nói đến sở y [nơi trú], đối tượng và phận sự. Chỉ với cụm từ ‘sự chấm dứt đau khổ và đạo lộ đưa đến sự diệt khổ = dukkhanirodhe dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāyā’ Ngài nói về vô minh theo phận sự. Không có khác biệt ‘vô minh = avijjā’ nên biết rằng ngài trình bày theo thực tính [sabhāva] với từ ‘sự bất tri, sự không biết = aññāṇaṃ’.

Từ dục lậu [kāmāsava], hữu lậu [bhavāsava] trong từ lậu tập khởi [āsavasamudaya] này làm duyên cho vô minh bằng mãnh lực câu sanh duyên [sahajātapaccaya] v.v. Vô minh lậu [avijjāsava] làm duyên cho vô mình bằng mãnh lực cận y duyên [upanissayapaccaya] và trong trường hợp này nên biết rằng vô minh sanh trước gọi là vô minh lậu. Vô minh lậu đó làm cận y duyên của vô minh sanh khởi sau đó. Các từ còn lại theo phương pháp đã nêu.

Giảng Giải Phần Vô Minh Kết Thúc

Giải Thích Phần Lậu – Āsavavāra

[104] Nên biết lý giải phần lậu như sau: Vô minh trong từ ‘vô minh tập khởi’ [avijjāsamudaya, do vô minh sanh] làm duyên bằng mãnh lực câu sanh duyên [sahajātapaccaya] v.v. cho dục lậu và hữu lậu, và làm duyên cho vô minh lậu bằng mãnh lực cận y duyên. Nhưng trong phần lậu này vô minh sanh khởi sau nên hiểu rằng là vô minh lậu. Vô minh sanh trước làm cận y duyên cho vô minh sanh sau. Các từ còn lại theo phương pháp đã nêu.

Phần này Ngài đã nói theo cách trình bày duyên [paccaya] của vô minh làm trưởng trong Giáo Lý Duyên Khởi. Như vậy, qua phần trình bày này nói đến sự khởi đầu của luân hồi mà hạng phàm phu không được biết đến.

Vấn: Không biết như thế nào?

Đáp: Không biết rằng trong sự sanh khởi của vô minh [avijjā] có sự sanh khởi của lậu hoặc [āsava]; trong sự sanh khởi của lậu hoặc cũng có sự sanh khởi của vô minh; lậu hoặc làm duyên cho vô minh và vô minh cũng làm duyên cho lậu hoặc [āsava] cứ xoay vòng như vậy. Cho nên điểm bắt đầu và điểm kết thúc của vô minh không hiển lộ. Đây nói đến điểm khởi đầu của vòng luân hồi mà hạng phàm phu không biết đến vì điểm bắt đầu và điểm kết thúc của vô minh không hiển lộ.

Trong tất cả các phần 1- Phần nghiệp đạo [kammapathavāra], 2- Phần vật thực [āhāravāra], 3- Phần khổ [dukkhavāra], 4- Phần già chết [jarāmāraṇavāra], 5- Phần sanh [jātivāra], 6- Phần hữu [bhavavāra], 7- Phần thủ [upādāyavāra], 8- Phần ái [taṇhāvāra], 9- Phần thọ [vedanāvāra], 10- Phần xúc [phassavāra], 11- Phần 6 xứ [saḷāyatanavāra], 12- Phần danh sắc [nāmarūpavāra], 13- Phần thức [viññāṇavāra], 14- Phần hành [saṅkhāravāra], 15- Phần vô minh [avijjāvāra], 16- Phần lậu [āsavavāra] tất cả 16 phần trưởng lão Sārīputta đã nói trong bài kinh này như đã được giải thích.

Trong tất cả 16 phần thì mỗi phần được chia làm 2 là vắn tắt và chi tiết, [16 x 2] thành 32 trường hợp. Như vây trong bài kinh này trưởng lão đã giảng giải 4 đế trong 32 trường hợp. Giảng giải quả vị A-ra-hán trong 16 trường hợp, đã thuyết chi tiết trong 16 trường hợp đó. Nhưng theo ý kiến của trưởng lão, Ngài đã thuyết 4 đế và 4 đạo trong 32 trường hợp. Như vậy, trong toàn bộ lời dạy của Đức Phật bao gồm trong năm bộ kinh lớn, không có bài kinh nào ngoại trừ bài kinh Chánh Tri Kiến này, mà Tứ Thánh Đế được tuyên thuyết 32 lần và Thánh quả A-ra-hán được tuyên thuyết 32 lần.

Trưởng lão Sārīputta đã thuyết giảng như vậy = Idamavocāyasmā Sāriputto’ nghĩa là trưởng lão Sārīputta đã thuyết bài kinh Chánh Tri Kiến đã tô điểm nó bằng 64 phần gồm 32 phần giảng giải về 4 đế [sacca] và 32 phần giảng giải về quả vị A-ra-hán. Chư Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời giảng của Tôn giả Sārīputta.

Giảng Giải Kinh Chánh Tri Kiến Kết Thúc

Kinh Số 9 Kết Thúc

Translations [41]