Translations [29]
English
- Bhikkhu Sujato
- Bhikkhu Thanissaro (2005)
- Bhikkhuni Upalavanna
繁體字
- 莊春江
日本語
- 関西パーリ語実習会 (2023)
Français
- Claude Le Ninan, Chandhana Le Ninan (2023)
- Môhan Wijayaratna (2010)
Deutsch
- Mettiko Bhikkhu (2001)
- Sabbamitta (2019)
Italiano
- De Lorenzo, Pier Antonio Morniroli, Enrico Federici (2007)
- Giovanni Zappa (2025)
Español
- Anton P. Baron
Português
- Michael Beisert (2012)
Русский
- SV theravada.ru (2023)
- баян купи-ка
Nederlands
- Peter van Loosbroek
Norsk
- Kåre A. Lie (2013)
Magyar
- Darvas Gabriella (2009)
Čeština
- Štěpán Chromovský
Slovenščina
- Bojan Božič (2023)
עִבְרִית
- Shai Schwartz (2004)
हिंदी
- Rahul Sankrityayan
বাংলা
- বিনয়েন্দ্রনাথ চৌধুরী
Việt Ngữ
- Thích Minh Châu
Bahasa Indonesia
- Indra Anggara
සිංහල
- A.P. de Zoysa
ပြန်သွားရန်
- Pitaka Myanmar Translation
ภาษาไทย
- Siam Rath
पाळिभासा (Pāli)
- Mahāsaṅgīti Tipiṭaka
Reference
- Sutta Central
Commentaries [4]
English
Deutsch
Việt Ngữ
298. Evaṃ me sutanti mahākammavibhaṅgasuttaṃ. Tattha moghanti tucchaṃ aphalaṃ. Saccanti tathaṃ bhūtaṃ. Idañca etena na sammukhā sutaṃ, Upālisutte (ma. ni. 2.56) pana — “manokammaṃ mahāsāvajjataraṃ paññapemi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā kāyakammaṃ no tathā vacīkamman”ti Bhagavatā vuttaṃ atthi, sā kathā titthiyānaṃ antare pākaṭā jātā, taṃ gahetvā esa vadati. atthi ca sā samāpattīti idaṃ — “kathaṃ nu kho, bho, abhisaññānirodho hotī”ti Poṭṭhapādasutte (dī. ni. 1.406 ādayo) uppannaṃ abhisaññānirodhakathaṃ sandhāya vadati. Na kiñci vediyatīti ekavedanampi na vediyati. Atthi ca khoti thero nirodhasamāpattiṃ sandhāya anujānāti. Parirakkhitabbanti garahato mocanena rakkhitabbaṃ. Sañcetanā assa atthīti sañcetanikaṃ, sābhisandhikaṃ sañcetanikakammaṃ katvāti attho. Dukkhaṃ soti thero “akusalameva sandhāya paribbājako pucchatī”ti saññāya evaṃ vadati.
298. Kinh Đại Nghiệp Phân Biệt được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, trống không bao gồm trống rỗng, không có kết quả. Sự thật: bản thể thật. Điều này du sĩ ngoại đạo Potaliputta ấy chưa từng được lắng nghe tận mặt, hơn nữa trong bài Kinh Upāli có Phật ngôn được đức Thế Tôn thuyết rằng : “Ta chủ trương ý nghiệp là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, thân nghiệp không bằng được, khẩu nghiệp không bằng được.” (ma. ni. 2.56), kệ ngôn ấy khởi lên hiện khởi giữa các du sĩ ngoại đạo, du sĩ Potaliputta đã nắm lấy kệ ngôn ấy để nói. Câu và thiền chứng [sampatti] này có tồn tại chăng?: Du sĩ ngoại đạo Potaliputta muốn đề cập đến lời nói về sự diệt tận của tưởng đã xuất hiện trong bài Kinh Poṭṭhapāda (dī. ni. 1.406 ādayo) – “Thưa ngài, sự diệt tận của tưởng như thế nào?” Không thọ hưởng bất kỳ cảm thọ gì? Không thọ hưởng dù chỉ một cảm thọ. Có (thiền chứng)…có tồn tại: Trưởng lão nhận biết trong sự liên hệ đến sự thể nhập thiền diệt. Thận trọng: Cần được gìn giữ với việc giảm bớt từ lời khiển trách. Ý định của hành động đó có tồn tại, vì thế hành động ấy gọi là có sự cố ý, có nghĩa là đã tạo nghiệp có sự cố ý. Hạng người (…lãnh thọ) khổ đau: Trưởng lão nói như vậy do tưởng (hiểu) rằng: “Du sĩ ngoại đạo hỏi khi chỉ nhắm đến [nghiệp] bất thiện mà thôi”.
Dassanampi kho ahanti bhagavā caturaṅgepi andhakāre samantā yojanaṭṭhāne tilamattampi saṅkhāraṃ maṃsacakkhunāva passati, ayañca paribbājako na dūre gāvutamattabbhantare vasati, kasmā bhagavā evamāhāti? Samāgamadassanaṃ sandhāyevamāha.
Ta cũng chưa từng nhìn thấy: Đức Thế Tôn nhìn thấy một vật dù chỉ nhỏ bằng hạt mè trong phạm vi một do-tuần xung quanh, ngay cả trong bóng tối bốn chi[1], chỉ bằng nhục nhãn (mắt thịt). Trong khi du sĩ này sống cách đó không xa, chỉ trong khoảng một gāvuta[1], tại sao đức Thế Tôn lại nói như vậy? Bởi nói đề cập đến cái thấy ở cuộc gặp gỡ mà thôi.
299. Udāyīti Lāludāyī[2]. Taṃ dukkhasminti sabbaṃ taṃ dukkhameva. Iti imaṃ vaṭṭadukkhaṃ kilesadukkhaṃ saṅkhāradukkhaṃ sandhāya “sace bhāsitaṃ bhaveyya bhagavā”ti pucchati.
299. Udāyī là tỳ khưu Lāludāyī. Cảm giác khổ đau: Toàn bộ những đau khổ đó. Như thế ngài Udāyī muốn đề cập đến vòng luân hồi là khổ, phiền não là khổ, các hành là khổ, là như thế mới hỏi rằng “Kính bạch đức Thế Tôn, đôi lúc ngài đại đức Samiddhi có thể nói liên hệ đến…”
300. Ummaṅganti pañhāummaṅgaṃ[3]. Ummujjamānoti sīsaṃ nīharamāno. Ayoniso ummujjissatīti anupāyena sīsaṃ nīharissati. Idañca pana bhagavā jānanto neva dibbacakkhunā na cetopariyañāṇena na sabbaññutañāṇena jāni, adhippāyeneva pana aññāsi. Kathentassa hi adhippāyo nāma suvijāno hoti, kathetukāmo gīvaṃ paggaṇhāti, hanukaṃ cāleti, mukhamassa phandati, sannisīdituṃ na sakkoti. Bhagavā tassa taṃ ākāraṃ disvā “ayaṃ udāyī sannisīdituṃ na sakkoti, yaṃ abhūtaṃ, tadeva kathessatī”ti oloketvāva aññāsi. Ādiṃ yevātiādimhiyeva. Tisso vedanāti “kiṃ so vediyatī”ti? pucchantena “tisso vedanā pucchāmī”ti evaṃ vavatthapetvāva tisso vedanā pucchitā. sukhavedaniyanti sukhavedanāya paccayabhūtaṃ. Sesesupi eseva nayo.
300. Sự trồi lên (ummaṅga): Là sự trồi lên của câu hỏi (vấn nạn). Trong khi buột miệng nói ra: thò đầu ra (thể hiện ý kiến). Sẽ buột miệng nói ra không khéo léo: thò đầu ra không khéo léo. Hơn nữa, Đức Thế Tôn biết được chuyện này không phải do Thiên nhãn, không phải do Tha tâm thông, cũng không phải do Trí toàn giác, mà Ngài biết được nhờ vào ý định [biểu hiện ra ngoài]. Thật vậy, ý định của người đang [muốn] nói rất dễ nhận biết: người muốn nói thì vươn cổ, cử động hàm, miệng mấp máy, không thể ngồi yên. Đức Thế Tôn thấy dáng vẻ ấy của vị đó, chỉ cần nhìn qua đã biết: “Ông Udāyī này không thể ngồi yên, ông ta sẽ nói điều gì đó không đúng sự thật”. Chỗ khởi thủy: ở chỗ đầu tiên. 3 thọ: Du sĩ ngoại đạo Potaliputta khi hỏi rằng: “hạng người ấy cảm giác như thế nào?” cũng xác định như vầy: “Ta sẽ hỏi về 3 thọ”. Cho kết quả an lạc: có trạng thái là duyên của lạc thọ. Ngay cả câu còn lại cũng có phương thức như này tương tự.
Ettha ca kāmāvacarakusalato somanassasahagatacittasampayuttā catasso cetanā, heṭṭhā tikajjhānacetanāti evaṃ paṭisandhipavattesu sukhavedanāya jananato sukhavedaniyaṃ kammaṃ nāma. Kāmāvacarañcettha paṭisandhiyaṃyeva ekantena sukhaṃ janeti, pavatte iṭṭhamajjhattārammaṇe adukkhamasukhampi.
Và ở đây, nghiệp được gọi là được cảm thọ lạc
vì nó tạo ra lạc thọ trong thời tục sinh và thời bình nhật. Đó là bốn tư tác (cetanā) tương ưng với tâm câu hành hỷ thuộc thiện Dục giới, và các tư tác của ba thiền chứng thấp [có lạc thọ].
Và trong số đó, [nghiệp] Dục giới tạo ra lạc thọ một cách nhất hướng (chắc chắn) trong thời tục sinh; nhưng trong thời bình nhật, đối với cảnh khả ái trung bình (iṭṭhamajjhatta), nó cũng tạo ra thọ bất khổ bất lạc (xả thọ).
Akusalacetanā paṭisandhipavattesu dukkhasseva jananato dukkhavedaniyaṃ kammaṃ nāma. Kāyadvāre pavatteyeva cetaṃ ekantena dukkhaṃ janeti, aññattha adukkhamasukhampi, sā pana vedanā aniṭṭhāniṭṭhamajjhattesuyeva ārammaṇesu uppajjanato dukkhātveva saṅkhaṃ gatā.
Tư bất thiện gọi là hành động cho quả khổ đau vì nó chỉ tạo ra sự khổ trong thời tục sinh và thời bình nhật.
Và nghiệp này chỉ tạo ra khổ thọ một cách nhất hướng (chắc chắn) tại thân môn trong thời bình nhật (pavatti); còn ở những nơi khác [các môn khác], nó tạo ra thọ bất khổ bất lạc (thọ xả). Tuy nhiên, thọ ấy [thọ xả ở các môn khác] vẫn được tính là khổ vì nó sinh khởi đối với các cảnh bất khả ái và cảnh bất khả ái trung bình.
Kāmāvacarakusalato pana upekkhāsahagatacittasampayuttā catasso cetanā, rūpāvacarakusalato catutthajjhānacetanāti evaṃ paṭisandhipavattesu tatiyavedanāya jananato adukkhamasukhavedaniyaṃ kammaṃ nāma. Ettha ca kāmāvacaraṃ paṭisandhiyaṃyeva ekantena adukkhamasukhaṃ janeti, pavatte iṭṭhārammaṇe sukhampi. apica sukhavedaniyakammaṃ paṭisandhipavattivasena vaṭṭati, tathā adukkhamasukhavedaniyaṃ, dukkhavedaniyaṃ pavattivaseneva vaṭṭati. etassa pana vasena sabbaṃ pavattivaseneva vaṭṭati.
Hơn nữa, bốn tư tác (cetanā) tương ưng với tâm câu hành xả thuộc thiện Dục giới, và tư tác Tứ thiền thuộc thiện Sắc giới, được gọi là nghiệp thọ bất khổ bất lạc (adukkhamasukhavedaniya) vì chúng tạo ra thọ thứ ba [thọ xả] trong thời tục sinh và thời bình nhật.
Trong đó, [nghiệp] thiện Dục giới tạo ra thọ bất khổ bất lạc một cách nhất hướng ngay trong thời tục sinh; nhưng trong thời bình nhật, đối với cảnh khả ái (tốt), nó cũng tạo ra lạc thọ.
Và lại nữa, nghiệp thọ lạc diễn ra ở cả thời tục sinh và thời bình nhật, nghiệp thọ bất khổ bất lạc cũng diễn ra tương tự [ở cả hai thời]. Riêng nghiệp thọ khổ chỉ diễn ra trong thời bình nhật mà thôi. Đối với loại nghiệp này, toàn bộ [quả khổ] chỉ diễn ra trong thời bình nhật.
Etassa bhagavāti thero tathāgatena mahākammavibhaṅgakathanatthaṃ ālayo dassito, tathāgataṃ yācitvā mahākammavibhaṅgañāṇaṃ bhikkhusaṅghassa pākaṭaṃ karissāmīti cintetvā anusandhikusalatāya evamāha. Tattha mahākammavibhaṅganti mahākammavibhajanaṃ[4]. Katame cattāro … pe … idhānanda, ekacco puggalo … pe … nirayaṃ upapajjatīti idaṃ na mahākammavibhaṅgañāṇabhājanaṃ, mahākammavibhaṅgañāṇabhājanatthāya pana mātikāṭṭhapanaṃ.
Kính bạch đức Thế Tôn…hãy phân tích đại phân biệt về nghiệp! Trưởng lão [Ānanda nhận thấy] Như Lai đã mở ra một cơ hội (ālayo) để thuyết giảng về Đại Phân Biệt Nghiệp. Suy nghĩ rằng: “Sau khi thỉnh cầu Như Lai, ta sẽ làm cho Trí tuệ về Đại Phân Biệt Nghiệp được hiển lộ rõ ràng trước chư Tăng”, do sự thiện xảo trong việc nối kết [ý nghĩa] (anusandhi), ngài đã nói như vậy. Trong đó ‘đại nghiệp phân biệt’ nghĩa là sự phân chia nghiệp rộng lớn. Thế nào là bốn …nt… này Ānanda, một số người trong đời này …nt… sanh vào địa ngục: Phần này không phải (na) là sự phân chia Trí tuệ Đại nghiệp phân biệt [chi tiết], mà [chỉ] là sự thiết lập Mẫu đề (mātikā) nhằm mục đích phân chia Trí tuệ Đại nghiệp phân biệt mà thôi.
301. Idhānanda, ekacco samaṇo vāti pāṭiyekko anusandhi. Idañhi bhagavā — “dibbacakkhukā samaṇabrāhmaṇā idaṃ ārammaṇaṃ katvā imaṃ paccayaṃ labhitvā idaṃ dassanaṃ gaṇhantī”ti pakāsanatthaṃ ārabhi. Tattha ātappantiādīni pañcapi vīriyasseva nāmāni. Cetosamādhinti dibbacakkhusamādhiṃ. Passatīti “so satto kuhiṃ nibbatto”ti olokento passati. Ye aññathāti ye “dasannaṃ kusalānaṃ kammapathānaṃ pūritattā nirayaṃ upapajjatī”ti jānanti, micchā tesaṃ ñāṇanti vadati. Iminā nayena sabbavāresu attho veditabbo. Viditanti pākaṭaṃ. Thāmasāti diṭṭhithāmena. Parāmāsāti diṭṭhiparāmāsena. Abhinivissa voharatīti adhiṭṭhahitvā ādiyitvā voharati.
301. Này Ānanda, một số Sa-môn trong đời này: mỗi từ đều là sự liên kết. Thật vậy đức Thế Tôn bắt đầu đến sự liên kết này để tuyên bố rằng – “Tất cả Sa-môn hoặc Bà-la-môn có thiên nhãn, đã tạo điều này[5] làm đối tượng đã đạt được điều này làm duyên, nắm giữ quan điểm này”. Trong số những từ đó thì ‘nhiệt tâm’ v.v, là tên gọi của năm sự tinh tấn. Trạng thái định của tâm: định phối hợp với thiên nhãn. Thấy: quan sát thấy rằng “chúng sanh ấy đã sanh ra ở đâu”. Người nào biết được theo cách khác: nói rằng – “những người nào biết được như sau: ‘hạng người này tái sanh vào địa ngục do tính chất thập thiện nghiệp đạo mà tự thân đã thực hành thì cái biết của những người ấy sai”. Nên hiểu ý nghĩa ở phần còn lại theo phương thức này. Biết: xuất hiện. Sự nắm giữ: do sức mạnh tà kiến. Sự bám chấp: với sự bám chấp bởi tà kiến. Nói đâm chặt vào: Nói kiểu nắm chặt, chấp chặt.
302. Tatrānandāti idampi na mahākammavibhaṅgañāṇassa bhājanaṃ, atha khvāssa mātikāṭṭhapanameva. Ettha pana etesaṃ dibbacakkhukānaṃ vacane[6] ettakā anuññātā, ettakā ananuññātāti idaṃ dassitaṃ. Tattha tatrāti tesu catūsu samaṇabrāhmaṇesu. Idamassāti idaṃ vacanaṃ assa. Aññathāti aññenākārena. Iti imesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ vāde dvīsu ṭhānesu anuññātā, tīsu ananuññātāti evaṃ sabbattha anuññā nānuññā[7] veditabbā.
302. Này Ānanda trong bốn nhóm Sa-môn Bà-la-môn ấy: đây là câu phân tích đại nghiệp trí mặc dù vậy cũng là câu để đặt tiêu đề. Hơn nữa, ở đây đức Thế Tôn thuyết giảng câu này rằng: Lời nói chừng ấy, ta chấp nhận lời nói chừng ấy, ta không chấp nhận theo lời của Sa-môn hay Bà-la-môn đó là người có thiên nhãn.” Tattha tatra: trong những Sa-môn hay Bà-la-môn này. Idamassā tách từ thành idaṃ vacanaṃ assa [lời này có thể có]. Theo cách khác: với biểu hiện khác. Nên hiểu lời nói được chấp nhận (và) không được chấp nhận trong toàn bộ câu như vầy rằng: chấp nhận trong 2 trường hợp, không chấp nhận trong 3 trường hợp trong lời nói của Sa-môn hay Bà-la-môn này là như thế.
303. Evaṃ dibbacakkhukānaṃ vacane[8] anuññā ca ananuññā ca dassetvā idāni mahākammavibhaṅgañāṇaṃ vibhajanto tatrānanda, yvāyaṃ puggalotiādimāha.
303. Như vậy đức Thế Tôn sau khi thuyết giảng đến sự chấp nhận và không chấp nhận theo lời của Sa-môn hay Bà-la-môn có thiên nhãn, bây giờ khi phân tích trí trong đại nghiệp phân biệt mới nói rằng: Ở đây, này Ānanda trong bốn nhóm người thì hạng người v.v.
Pubbe vāssa taṃ kataṃ hotīti yaṃ iminā dibbacakkhukena kammaṃ karonto diṭṭho, tato pubbe kataṃ. pubbe katenapi hi niraye nibbattati, pacchā katenapi nibbattati, maraṇakāle vā pana — “khando seṭṭho sivo seṭṭho, pitāmaho seṭṭho, issarādīhi vā loko visaṭṭho”tiādinā micchādassanenapi nibbattateva. Diṭṭheva dhammeti yaṃ tattha diṭṭhadhammavedanīyaṃ hoti, tassa diṭṭheva dhamme, yaṃ upapajjavedanīyaṃ, tassa upapajjitvā, yaṃ aparāpariyavedanīyaṃ, tassa aparasmiṃ pariyāye vipākaṃ paṭisaṃvedeti.
Hạng người ấy đã tạo nghiệp ác trong thời quá khứ: nghĩa là nghiệp đã được làm trước cái nghiệp mà vị có thiên nhãn đã nhìn thấy người đó đang làm.
Vì rằng, người ta tái sinh vào địa ngục do [nghiệp] đã làm trước đó, hoặc tái sinh do [nghiệp] đã làm sau đó [so với nghiệp được nhìn thấy]; hoặc là vào lúc cận tử, người ta tái sinh [vào địa ngục] do chính tà kiến như là: “Thần Skanda là tối thượng, thần Siva là tối thượng, Phạm thiên (Pitāmaha) là tối thượng, hay thế gian được sáng tạo bởi đấng Tự Tại (Issara)…” Ở kiếp sống này: nghĩa là trong các nghiệp đó, nghiệp nào là nghiệp cho quả hiện tại (hiện báo nghiệp), thì [lãnh quả] ngay trong hiện tại; nghiệp nào là nghiệp cho quả tiếp sanh (sinh báo nghiệp), thì sau khi sinh ra [sẽ lãnh quả]; nghiệp nào là nghiệp cho quả hậu báo (vô hạn định nghiệp), thì lãnh quả ở một kiếp kế tiếp nữa (aparasmiṃ pariyāye).
Iti ayaṃ samaṇo vā brāhmaṇo vā ekaṃ kammarāsiṃ ekañca vipākarāsiṃ addasa, sammāsambuddho iminā adiṭṭhe tayo kammarāsī, dve ca vipākarāsī addasa. Iminā pana diṭṭhe adiṭṭhe ca cattāro kammarāsī tayo ca vipākarāsī addasa. Imāni satta ṭhānāni jānanañāṇaṃ tathāgatassa mahākammavibhaṅgañāṇaṃ nāma. Dutiyavāre dibbacakkhukena kiñci na diṭṭhaṃ, tathāgatena pana tayo kammarāsī, dve ca vipākarāsī diṭṭhāti. imānipi pañca paccattaṭṭhānāni[9] jānanañāṇaṃ tathāgatassa mahākammavibhaṅgañāṇaṃ nāma. sesavāradvayepi eseva nayo.
Như vậy, vị Sa-môn hay Bà-la-môn này chỉ thấy một khối nghiệp và một khối quả. [Trong khi đó], Đức Chánh Đẳng Giác thấy được ba khối nghiệp và hai khối quả mà vị kia không thấy (adiṭṭhe).
[Tổng cộng], Ngài thấy bốn khối nghiệp và ba khối quả, bao gồm cả những gì vị kia thấy và không thấy. Trí tuệ nhận biết bảy trường hợp này (satta ṭhānāni) gọi là Trí Phân Biệt Đại Nghiệp của Như Lai.
Trong phần [giải thích] thứ hai (dutiyavāre), vị có thiên nhãn không thấy được gì cả [về nguyên nhân thực sự], còn Đức Như Lai thì thấy ba khối nghiệp và hai khối quả. Trí tuệ nhận biết năm trường hợp riêng biệt này cũng được gọi là Trí Phân Biệt Đại Nghiệp của Như Lai[2].
Đối với hai phần còn lại cũng theo cách thức tương tự như vậy.
Abhabbanti bhūtavirahitaṃ akusalaṃ. Abhabbābhāsanti abhabbaṃ ābhāsati abhibhavati paṭibāhatīti attho. Bahukasmiñhi akusalakamme āyūhite balavakammaṃ dubbalakammassa vipākaṃ paṭibāhitvā attano vipākassa okāsaṃ karoti idaṃ abhabbañceva abhabbābhāsañca[10]. Kusalaṃ[11] pana āyūhitvā āsanne akusalaṃ[12] kataṃ hoti, taṃ kusalassa[13] vipākaṃ paṭibāhitvā attano vipākassa okāsaṃ karoti, idaṃ abhabbaṃ bhabbābhāsaṃ. Bahumhi kusale āyūhitepi balavakammaṃ dubbalakammassa vipākaṃ paṭibāhitvā attano vipākassa okāsaṃ karoti, idaṃ bhabbañceva bhabbābhāsañca[14]. Akusalaṃ[15] pana āyūhitvā āsanne kusalaṃ[16] kataṃ hoti, taṃ akusalassa vipākaṃ paṭibāhitvā attano vipākassa okāsaṃ karoti, idaṃ bhabbaṃ abhabbābhāsaṃ.
Không thích hợp: nghĩa là ly cách sự thật, tức là bất thiện. Soi rọi cho thấy không thích hợp: nghĩa là nó “chiếu rọi” lên cái Bất thiện (abhabba), tức là lấn lướt (abhibhavati) hay ngăn trở (paṭibāhati) [cái bất thiện đó].
Thật vậy, khi đã tích lũy nhiều nghiệp bất thiện, một nghiệp mạnh mẽ ngăn trở quả của nghiệp yếu ớt và tạo cơ hội cho quả của chính nó; đây là trường hợp [nghiệp] Bất thiện và Lấn lướt cái Bất thiện (Abhabbābhāsa).
Lại nữa, khi đã tích lũy nghiệp Thiện (Kusala), nhưng lúc cận tử lại làm nghiệp Bất thiện; nghiệp [bất thiện] đó ngăn trở quả của nghiệp Thiện và tạo cơ hội cho quả của chính nó. Đây là trường hợp [nghiệp] Bất thiện nhưng Lấn lướt cái Thiện (Bhabbābhāsa).
Khi đã tích lũy nhiều nghiệp Thiện, một nghiệp mạnh mẽ ngăn trở quả của nghiệp yếu ớt và tạo cơ hội cho quả của chính nó; đây là trường hợp [nghiệp] Thiện và Lấn lướt cái Thiện (Bhabbābhāsa).
Lại nữa, khi đã tích lũy nghiệp Bất thiện, nhưng lúc cận tử lại làm nghiệp Thiện; nghiệp [thiện] đó ngăn trở quả của nghiệp Bất thiện và tạo cơ hội cho quả của chính nó. Đây là trường hợp [nghiệp] Thiện nhưng Lấn lướt cái Bất thiện (Abhabbābhāsa).
Apica upaṭṭhānākārenapettha attho veditabbo. Idañhi vuttaṃ hoti, abhabbato ābhāsati upaṭṭhātīti abhabbābhāsaṃ. Tattha “yvāyaṃ puggalo idha pāṇātipātī”tiādinā nayena cattāro[17] puggalā vuttā, tesu paṭhamassa kammaṃ abhabbaṃ abhabbābhāsaṃ, tañhi akusalattā abhabbaṃ, tassa ca niraye nibbattattā tattha nibbattikāraṇabhūtaṃ akusalaṃ hutvā upaṭṭhāti. dutiyassa kammaṃ abhabbaṃ bhabbābhāsaṃ, tañhi akusalattā abhabbaṃ. Tassa pana sagge nibbattattā aññatitthiyānaṃ sagge nibbattikāraṇabhūtaṃ kusalaṃ hutvā upaṭṭhāti. Itarasmimpi kammadvaye eseva nayo. Sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Hơn nữa, ý nghĩa ở đây cũng cần được hiểu theo khía cạnh “sự hiện khởi” (cách nó xuất hiện). Điều này được giải thích như sau: Nó hiện khởi, hay xuất hiện như là bất thiện (abhabba), nên gọi là Có tướng trạng bất thiện (abhabbābhāsa).
Trong đó, bốn hạng người đã được đề cập [trong Chánh kinh] theo cách thức: “Ở đây, người này sát sanh…”.
Trong số đó, nghiệp của hạng người thứ nhất là Bất thiện (Abhabba) và Có tướng trạng bất thiện (Abhabbābhāsa). Vì nó là bất thiện nên gọi là Abhabba; và vì người đó tái sinh vào địa ngục, nên [nghiệp đó] hiện khởi lên như là nghiệp bất thiện, là nguyên nhân tái sinh tại đó.
Nghiệp của hạng người thứ hai là Bất thiện (Abhabba) nhưng Có tướng trạng Thiện (Bhabbābhāsa). Cũng vậy, vì nó là bất thiện nên gọi là Abhabba. Tuy nhiên, vì người đó tái sinh lên cõi trời, nên đối với các ngoại đạo (aññatitthiyānaṃ), nghiệp đó hiện khởi lên như là một nghiệp Thiện, là nguyên nhân tái sinh cõi trời [mặc dù thực tế nghiệp sát sanh là ác].
Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.
Giải Thích Kinh Đại Nghiệp Phân Biệt Kết Thúc.